Thứ ba 22/09/2026 23:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giám sát ba Chương trình mục tiêu quốc gia: Giải quyết nhiều nhiệm vụ, khối lượng công việc lớn, với cách tiếp cận và cách làm mới phù hợp

Tiếp tục Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV, ngày 30/10, Quốc hội tiến hành giám sát tối cao việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025, giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030. Trước khi tiến hành thảo luận, đại biểu Quốc hội nghe báo cáo tóm tắt kết Kết quả giám sát của Đoàn giám sát của Quốc hội về nội dung này.

Lần đầu tiên Quốc hội giám sát giữa kỳ, đồng thời với 3 Chương trình mục tiêu quốc gia.

Thay mặt Đoàn giám sát, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Phó Trưởng Đoàn giám sát của Quốc hội Y Thanh Hà Niê Kđăm trình bày Báo cáo của Đoàn giám sát của Quốc hội về việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025, giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030.

Toàn cảnh Quốc hội giám sát tối cao việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về ba Chương trình mục tiêu quốc gia.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Phó Trưởng Đoàn giám sát của Quốc hội Y Thanh Hà Niê Kđăm nêu rõ, thực hiện Nghị quyết số 47/2022/QH15 ngày 06/6/2022 về Chương trình giám sát năm 2023 và Nghị quyết số 52/2022/QH15 ngày 14/6/2022 của Quốc hội về thành lập Đoàn giám sát chuyên đề “Việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030”, Đoàn giám sát đã hoàn thành nội dung, kế hoạch giám sát, bảo đảm theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Báo cáo giám sát đầy đủ của Đoàn Giám sát trình Quốc hội gồm 103 trang và Báo cáo tóm tắt 12 trang.

Đây là lần đầu tiên Quốc hội giám sát giữa kỳ, đồng thời với 3 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 (gọi tắt là: các Chương trình mục tiêu), có phạm vi rộng, cùng với những yêu cầu đổi mới, Đoàn giám sát đã giải quyết nhiều nhiệm vụ, khối lượng công việc lớn với cách tiếp cận và cách làm mới phù hợp. Việc xác định nội dung trọng tâm là giám sát, đánh giá tiến trình chính sách và công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện là hướng đi đúng đắn, nhất là trong bối cảnh các Chương trình đang bị chậm tiến độ theo mục tiêu, yêu cầu đề ra.

Đoàn giám sát đã chuẩn bị kỹ từ kế hoạch chi tiết, đề cương báo cáo, thành lập, phân công tổ giúp việc, các tổ, đoàn công tác, tiến hành giám sát trực tiếp Chính phủ, 11 bộ, ngành và 15 tỉnh đại diện cho các vùng, miền và mức độ thụ hưởng các Chương trình; tổ chức nhiều cuộc làm việc với các Bộ, ngành, Chính phủ; sử dụng tối đa kết quả kiểm toán, thanh tra và ý kiến của các Bộ, ngành, các địa phương. Quá trình giám sát Đoàn Giám sát đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Quốc hội (đặc biệt là đồng chí Chủ tịch Quốc hội), Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sự tham gia của các cơ quan Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội, thể hiện tình thần đồng hành, giám sát để kiến tạo của Quốc hội.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (nhất là đồng chí Phó Thủ tướng, Trưởng ban chỉ đạo 3 Chương trình) đã chỉ đạo sát sao, quyết liệt; các bộ, ngành, địa phương có nhiều cố gắng, nỗ lực chuẩn bị tốt các nội dung phục vụ hoạt động giám sát, đồng thời tiếp thu ý kiến của Đoàn giám sát, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia.

Xây dựng nông thôn mới đi vào chiều sâu, hiệu quả, nhưng chưa đồng đều, chưa thực sự bền vững.

Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (gọi tắt là Chương trình nông thôn mới) giai đoạn 2021-2025 được Quốc hội thông qua chủ trương tại Nghị quyết số 25/2021/QH15 ngày 28/7/2021, có tổng kinh phí tối thiểu là 196.332 tỷ đồng. Ngoài chính sách chung, Chương trình còn có 06 chuyên đề trọng tâm và thực hiện trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố cả nước.

Kết quả giám sát cho thấy, kế thừa và phát huy kết quả các giai đoạn trước, phong trào xây dựng nông thôn mới của cả nước đã bám sát mục tiêu: “gắn với thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, quá trình đô thị hoá, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững”. Tổ chức bộ máy thực hiện Chương trình nông thôn mới được kiện toàn từ Trung ương đến địa phương, cơ bản giữ ổn định như giai đoạn trước. Hệ thống văn bản thực hiện từ Trung ương đến địa phương được ban hành tương đối đầy đủ, có đổi mới, cơ bản phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Một số địa phương đã chủ động nghiên cứu, ban hành các chính sách đặc thù, có cách làm hay, mô hình tốt, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và người dân. Công tác lập kế hoạch, phân bổ vốn đảm bảo nguyên tắc và đúng theo quy định.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Phó Trưởng Đoàn giám sát của Quốc hội Y Thanh Hà Niê Kđăm trình bày Báo cáo của Đoàn giám sát của Quốc hội về việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về các Chương trình mục tiêu quốc gia.

Tính đến 30/6/2023, cả nước có 6.022/8.177 xã (73,65%) đạt chuẩn nông thôn mới, 1.331 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 176 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; có 263/644 đơn vị cấp huyện (40,8%) được công nhận hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn nông thôn mới; 19 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Phó Trưởng Đoàn giám sát của Quốc hội Y Thanh Hà Niê Kđăm cũng nêu rõ những hạn chế, bất cập trong quá trình giám sát. Đó là hệ thống các văn bản chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn thực hiện của Trung ương và địa phương còn nhiều, ban hành chậm, chưa đồng bộ, còn có vướng mắc nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung kịp thời. Nguồn vốn đầu tư phát triển ngân sách trung ương phân bổ chậm, tỷ lệ đối ứng còn cao gây khó khăn cho một số địa phương, nhất là các tỉnh nghèo. Tiến độ giải ngân vốn ngân sách trung ương năm 2022 và giai đoạn 2021-2025 còn chậm so với yêu cầu, nhất là vốn sự nghiệp, đến 30/6/2023 mới giải ngân được 9,17% kế hoạch vốn của năm. Kết quả xây dựng nông thôn mới chưa đồng đều, chưa thực sự bền vững; một số địa phương thiếu quyết liệt và có dấu hiệu chững lại trong chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới; cơ chế lồng ghép nguồn vốn ngân sách trung ương của các Chương trình mục tiêu để hỗ trợ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, các huyện nghèo còn hạn chế, chưa thực sự hiệu quả.

Đã bám sát mục tiêu “thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững” nhưng còn tình trạng chạy theo thành tích”.

Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025 (gọi tắt là Chương trình giảm nghèo) được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 24/2021/QH15, có tổng vốn tối thiểu là 75.000 tỷ đồng, gồm 07 dự án với 11 tiểu dự án, được thực hiện trên địa bàn cả nước.

Báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát cũng đánh giá, giai đoạn 2021-2025, mục tiêu về giảm nghèo cao hơn so với các giai đoạn trước, gắn với các mục tiêu phát triển bền vững nhưng địa bàn, đối tượng thực hiện Chương trình lại tập trung vào các “lõi nghèo” khó khăn nhất của cả nước. Kết quả triển khai thực hiện Chương trình đã cơ bản bám sát mục tiêu“Thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững”; tuân thủ các nguyên tắc, giải pháp theo Nghị quyết 24. Nhiều địa phương có mô hình hay, cách làm sáng tạo đạt hiệu quả trong quá trình tổ chức thực hiện.

Đến tháng 9/2022, là Chương trình đầu tiên trong 3 Chương trình MTQG đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện ở cấp Trung ương. Việc lập, giao kế hoạch vốn thực hiện Chương trình tuân thủ theo quy định pháp luật. Chương trình đã thực hiện cơ bản đạt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số hằng năm theo Nghị quyết 24 đề ra; bước đầu cải thiện mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân. Các địa phương đã sử dụng nguồn lực của Chương trình thực hiện các mục tiêu giám nghèo bền vững, nhất là tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng – xã hội tại các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo.

Tuy vậy, việc ban hành văn bản của Chương trình vẫn chậm so với quy định Nghị quyết 24. Một số văn bản đã ban hành có khó khăn vướng mắc, địa phương kiến nghị cần phải sửa đổi, bổ sung. Việc phân bổ ngân sách trung ương còn chậm; một số địa phương bố trí nguồn vốn đối ứng thấp; Giải ngân vốn ngân sách trung ương năm 2022 (đến 31/01/2023) đạt 35,63% kế hoạch; giải ngân vốn đầu tư công năm 2022 kéo dài sang năm 2023 đạt 53% kế hoạch; giải ngân vốn đầu tư công ước đến 31/8/2023 đạt 31,9% kế hoạch.

Việc phát huy quyền làm chủ, sự tham gia tích cực, chủ động của cộng đồng và người dân vào công tác giảm nghèo còn chưa thực chất. Tại các huyện nghèo mới chỉ quan tâm đánh giá việc giảm tỷ lệ hộ nghèo, chưa đánh giá thực chất mức tăng thu nhập bình quân đầu người hàng năm. Bên cạnh đó, trong công tác giảm nghèo nói chung, còn có tình trạng một số địa phương, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc để phấn đấu được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới đã “chạy theo thành tích” giảm nghèo đa chiều nhưng trên thực tế nhiều tiêu chí quan trọng về chất lượng cuộc sống của người dân chưa được cải thiện, nâng cao một cách thực chất, bền vững sau khi đạt chuẩn nông thôn mới. Kết quả giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm chưa thực sự phản ánh đầy đủ các tác động của Chương trình...

Nhiều chỉ tiêu Chương trình giảm nghèo đạt và vượt nhưng một số chỉ tiêu chưa thực chất.

Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (gọi tắt là Chương trình dân tộc thiểu số) được Quốc hội phê duyệt Chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020, có kinh phí tối thiểu làm tròn là 137.664 tỷ đồng, gồm 10 dự án, 14 Tiểu dự án thực hiện trên địa bàn 49 tỉnh.

Kết quả giám sát cho thấy, quá trình triển khai thực hiện đã bám sát mục tiêu tổng quát của Chương trình là “Giảm nghèo nhanh, bền vững, giảm dần số xã, thôn đặc biệt khó khăn, sắp xếp ổn định dân cư, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đồng bộ, thu hẹp dần khoảng cách mức sống, thu nhập so với bình quân chung của cả nước...”. Chương trình thực hiện đã tích hợp trên 118 văn bản chính sách dân tộc ở giai đoạn trước, do đó bước đầu khắc phục được tình trạng manh mún, dàn trải để tập trung nguồn lực, ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết những vấn đề cấp thiết về kinh tế, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là vùng đặc biệt khó khăn. Đến tháng 6/2023, các văn bản chỉ đạo, điều hành triển khai thực hiện Chương trình cơ bản đã hoàn thành với khối lượng khá lớn, các bộ, ngành Trung ương đã ban hành khoảng 58 văn bản, ở mỗi địa phương ban hành từ 40-50 văn bản liên quan.

Tình hình giải ngân năm 2023 đã có tiến bộ, nhất là vốn đầu tư công. Giải ngân vốn đầu tư công Trung ương đến tháng 6/2023 đạt 22%, ước đến tháng 9/2023 đạt 52%, nhiều địa phương giải ngân trên 60%. Mặc dù còn nhiều khó khăn trong triển khai thực hiện, nhưng theo Báo cáo của Chính phủ tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số năm 2022 giảm 3.4%, đạt và vượt mục tiêu kế hoạch giao; nhiều chỉ tiêu về hạ tầng, kinh tế-xã hội khác cơ bản đều đạt so với mục tiêu của Chương trình.

Mặc dù vậy, Đoàn giám sát đã chỉ rõ, việc ban hành các văn bản quản của Chương trình còn chậm. Mô hình chỉ đạo, điều hành còn bất cập, chưa được kiện toàn, đồng bộ, thống nhất giữa Trung ương và địa phương, giữa các địa phương với nhau. Đến tháng 6/2023 vẫn còn 21 tỉnh chưa thành lập Tổ Công tác. Việc phân bổ vốn Trung ương chậm, dẫn đến đối tượng thực hiện của một số chính sách, ở một số địa phương có sự thay đổi, không còn phù hợp. Kết quả giải ngân đạt thấp, từ năm 2022 đến 6/2023 giải ngân khoảng 18,9% so với kế hoạch trung hạn, do đó, Chương trình khó có thể hoàn thành mục tiêu giải ngân đến hết năm 2025.

Theo báo cáo, Chương trình đến nay đã đạt và vượt nhiều chỉ tiêu đề ra, xong trên thực tế, Đoàn giám sát nhận định: đời sống đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp rất nhiều khó khăn, kinh tế, xã hội phát triển chậm; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo và nguy cơ tái nghèo cao; khoảng cách giàu nghèo có xu hướng gia tăng; khả năng đạt mức thu nhập bình quân tăng 2 lần so với 2020, giảm 50% số xã đặc biệt khó khăn, hoàn thành các chỉ tiêu về thiếu đất ở, đất sản xuất, quy hoạch dân cư và nhiều chỉ tiêu khác đến năm 2025 ở vùng dân tộc thiểu số theo mục tiêu của Chương trình rất khó khăn.

7 nguyên nhân, 4 bài học kinh nghiệm và làm rõ trách nhiệm của tồn tại, hạn chế.

Đánh giá chung về việc triển khai 3 Chương trình mục tiêu quốc gia, Đoàn giám sát nhận định, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng hành của Quốc hội và sự quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kế thừa và phát huy giá trị, thành tựu của giai đoạn trước, kết quả triển khai các Chương trình giai đoạn này bước đầu đạt được một số kết quả tích cực, bám sát các Nghị quyết của Quốc hội; cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội vùng nông thôn, miền núi được cải thiện.

Ban Chỉ đạo chung các Chương trình đã kiện toàn thống nhất 01 Ban Chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương. Chính phủ và các Bộ, ngành đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát liên ngành và riêng từng Chương trình. Thông qua hoạt động giám sát, cán bộ các ngành, các cấp, từ Trung ương đến địa phương nhận thức được thực chất, đầy đủ hơn về thực trạng các Chương trình, là cơ sở quan trọng để tiếp tục đổi mới một cách toàn diện, đẩy mạnh thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia.

Bên cạnh kết quả đạt được, các cơ quan bộ, ngành liên quan còn hạn chế trong quản lý và tổ chức thực hiện các Chương trình, nhất là việc chậm ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền quản lý, nội dung chưa rõ ràng, khó thực hiện, có nội dung trích dẫn dẫn đến nhiều văn bản khác.

Hiệu quả phối hợp liên ngành (theo chiều ngang) chưa thật sự chuyển biến rõ nét; Còn có sự chồng lấn về địa bàn, nội dung thực hiện Chương trình; Nguồn vốn bố trí chưa tương xứng so với mục tiêu, yêu cầu đặt ra; Tiến độ giải ngân vốn ngân sách trung ương cả 03 Chương trình còn chậm, nhất là vốn sự nghiệp; Việc nắm bắt các vấn đề, hướng dẫn, hỗ trợ, tháo gỡ các vướng mắc trong triển khai thực hiện Chương trình chưa kịp thời; Tình trạng cát cứ, manh mún, phân tán, làm cho các cơ chế lồng ghép, phân cấp, phân quyền, cơ chế đặc thù theo chủ trương của Đảng và Nhà nước không được phát huy hiệu quả trên thực tế, làm lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội, các Chương trình chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.

Đoàn giám sát đã phân tích rõ nguyên nhân khách quan, 7 nguyên nhân chủ quan. Trong đó, nguyên nhân khách quan là ảnh hưởng từ tình hình kinh tế chung của thị trường thế giới; biến đổi khí hậu, dịch bệnh Covid-19 trong thời gian dài đã tác động không nhỏ đến phát triển kinh tế - xã hội, thu nhập, mức sống người dân. Thay đổi nhân sự, bộ máy tổ chức Ban Chỉ đạo Chương trình cả ở Trung ương và địa phương đã phần nào ảnh hưởng đến công tác chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện.

7 nguyên nhân chủ quan Đoàn giám sát chỉ ra, đó là lần đầu tiên thực hiện cơ chế, quản lý, chỉ đạo chung 03 Chương trình mục tiêu quốc gia và thực hiện các nguyên tắc đổi mới của Quốc hội là thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, tăng cường phân cấp cho địa phương và nhiều yêu cầu về đổi mới cơ chế quản lý, nội dung tiếp cận xây dựng chính sách nên không tránh khỏi những khó khăn, lúng túng về chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Năng lực thực tiễn của một bộ phận cán bộ, công chức tham mưu, xây dưng văn bản, chính sách còn hạn chế. Việc phối hợp của một số cơ quan, Bộ, ngành, địa phương còn chưa chặt chẽ. Cả 03 Chương trình đều gắn liền với phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi khó khăn và đặc biệt khó khăn, nên rất cần cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện đặc thù. Cách tiếp cận xây dựng các Chương trình chưa thực sự phù hợp, được thiết kế phức tạp gồm nhiều chính sách, dự án, tiểu dự án liên quan đến nhiều bộ, ngành, lĩnh vực cùng chủ trì thực hiện với khoảng gần 100 chính sách.

Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư 03 CTMTQG có giao Chính phủ xây dựng chính sách, cơ chế quản lý đặc thù, nhưng lại yêu cầu thực hiện theo Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách Nhà nước và các quy định pháp luật khác. Điều này làm cho Chính phủ và các địa phương khó thể chế hóa, quản lý thực hiện các CTMTQG theo cơ chế đặc thù. Ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành các Chương trình còn chậm, nhất là chưa xây dựng, triển khai kịp thời hệ thống giám sát, đánh giá quản lý, điều hành các Chương trình; hệ thống thông tin, dữ liệu, báo cáo từ địa phương đến Trung ương chưa đồng bộ, đầy đủ, minh bạch.

Trách nhiệm cụ thể thuộc về Chính phủ, Ban Chỉ đạo Trung ương, mà chủ yếu là các cơ quan chủ chương trình (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Ủy ban Dân tộc), các bộ, ngành liên quan (nhất là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính). Bên cạnh đó cũng có trách nhiệm thẩm tra, giám sát, đôn đốc của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội; trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cơ quan các cấp trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các Chương trình.

Qua giám sát, Đoàn giám rút ra 4 bài học kinh nghiệm: Quán triệt, nhận thức đúng đắn, đầy đủ, rõ ràng các Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội, bám sát thực tiễn, cụ thể hóa cơ chế, chính sách, công tác điều hành, quản lý và tổ chức thực hiện. Phát huy vai trò chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là sự chỉ đạo quyết liệt của người đứng đầu, khắc phục cho được tâm lý sợ sai, né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm. Phát huy vai trò chủ thể, sáng tạo của Nhân dân, tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương trong việc lựa chọn, quyết định các danh mục dự án, tiểu dự án cụ thể.

Kiến nghị các giải pháp kịp thời giải quyết những, vướng mắc.

Đoàn giám sát đã nêu một số kiến nghị cụ thể đối với Quốc hội, đối với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành liên quan, đối với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội, đối với địa phương.

Trong đó, đối với Quốc hội, Đoàn giám sát kiến nghị Quốc hội chỉ đạo Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội theo chức năng nhiệm vụ tăng cường giám sát việc triển khai thực hiện các Chương trình Mục tiêu quốc gia ở các cấp.

Cân đối, bố trí đủ ngân sách theo đúng các Nghị quyết của Quốc hội để thực hiện có hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia; cho phép kéo dài nguồn vốn được phân bổ năm 2023 chưa được giải ngân hết chuyển sang tiếp tục thực hiện đến 31/12/2024.

Giao Chính thực hiện Nghị quyết số 100/2023/QH15 ngày 24/6/2023 về hoạt động chất vấn tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV, nội dung liên quan đến các Chương trình mục tiêu quốc gia và lĩnh vực dân tộc. Trong đó tập trung vào việc thí điểm phân cấp cho cấp huyện chủ động quyết định, điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn, danh mục dự án đầu tư thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn; đề xuất, trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh một số mục tiêu, chỉ tiêu, nội dung của các Chương trình mục tiêu quốc gia để triển khai thực hiện, bảo đảm hiệu quả, khả thi, phù hợp với tình hình thực tiễn, tránh lãng phí, tiêu cực.

Đoàn giám sát đã kiến nghị các giải pháp kịp thời giải quyết những, vướng mắc trong thực hiện ba Chương trình mục tiêu quốc gia.

Giao Chính phủ hoàn thiện hồ sơ, tiếp thu kiến nghị của Đoàn Giám sát trình Quốc hội tại Kỳ họp gần nhất ban hành Nghị quyết theo quy trình rút gọn về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025.

Đối với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành liên quan: Chỉ đạo các bộ, ngành liên quan hoàn thành trong năm 2023 rà soát, sửa đổi, bổ sung những cơ chế, chính sách chưa phù hợp, khó thực hiện thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Rà soát, kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý sớm vốn tồn đọng do giải ngân chậm; có cơ chế đặc thù về vốn thực hiện các Chương trình cho các tỉnh khó khăn miền núi. Tập trung giải quyết dứt điểm những khó khăn, bức xúc về đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, quy hoạch sắp xếp ổn định dân cư ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Rà soát đánh giá, sửa đổi, bổ sung các chương trình, chính sách về hỗ trợ cho các xã diện đặc biệt khó khăn, huyện nghèo, hộ nghèo, cận nghèo các đối tượng yếu thế ở vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số. Hoàn thiện bộ máy, tổ chức quản lý thực hiện các Chương trình; Thiết lập hệ thống đánh giá, giám sát, báo cáo phù hợp; Chỉ đạo nghiên cứu, định hướng xây dựng nội dung, cơ cấu, chính sách đối với các Chương trình mục tiêu quốc gia.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên phát huy vai trò nòng cốt trong việc tổ chức các phong trào thi đua thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia; tăng cường giám sát và phản biện xã hội trong quá trình thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia.

Các địa phương tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn của cấp ủy, chính quyền; đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò, ý nghĩa, nội dung các Chương trình. Tăng cường vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân; sự tham gia của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia.

Lan Hương

(Theo Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 72 năm Ngày Bác Hồ về thăm Đền Hùng

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 72 năm Ngày Bác Hồ về thăm Đền Hùng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ Kỷ niệm 72 năm Ngày Bác Hồ về thăm Đền Hùng và khánh thành Tượng đài "Bác Hồ với ngày hội non sông"
Đối thoại Biển lần thứ 15: Từ cam kết BBNJ đến hành động vì quản trị biển công bằng, hiệu quả

Đối thoại Biển lần thứ 15: Từ cam kết BBNJ đến hành động vì quản trị biển công bằng, hiệu quả

Ngày 18/9/2026, tại Hà Nội, Đối thoại Biển lần thứ 15 với chủ đề "Từ thỏa thuận đến hành động: Triển khai Hiệp định BBNJ vì quản trị biển công bằng, hiệu quả" diễn ra với sự tham dự của đại diện các cơ quan, tổ chức quốc tế, cơ quan Trung ương, các chuyên gia, nhà khoa học. Các đại biểu tập trung trao đổi về việc chuyển hóa các cam kết của Hiệp định về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển ở các vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia (Hiệp định BBNJ) thành pháp luật, cơ chế hợp tác và hành động cụ thể ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế.
Phát huy tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong thực tiễn công tác Bộ, ngành Tư pháp

Phát huy tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong thực tiễn công tác Bộ, ngành Tư pháp

Sáng ngày 15/9, Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ Tư pháp Nguyễn Quang Thái chủ trì Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết nối từ Bộ Tư pháp với các điểm cầu trực tuyến tại các đơn vị thuộc Bộ.
Hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực đáp ứng yêu cầu quản lý,  thúc đẩy phát triển kinh tế trong tình hình mới

Hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực đáp ứng yêu cầu quản lý, thúc đẩy phát triển kinh tế trong tình hình mới

Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI diễn ra trong bối cảnh Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV được tổ chức thành công tốt đẹp. Đây cũng là thời điểm đánh giá toàn diện, khách quan kết quả sau 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành chính quyền địa phương 02 cấp và sự nỗ lực của cấp ủy các cấp, cộng đồng doanh nghiệp, Nhân dân trong việc thực hiện các mục tiêu, giải pháp, hiệu quả tăng trưởng "02 con số" trong năm 2026 và những năm tiếp theo.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, phát triển nhanh, bền vững đất nước

Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, phát triển nhanh, bền vững đất nước

Tại Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, cả 05 nghị quyết, 01 chỉ thị hợp thành một chỉnh thể thống nhất về quan điểm và hành động. Tất cả cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống Nhân dân.
Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị

Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị

Sáng ngày 03/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu quan trọng chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): Xây dựng văn hóa pháp lý ngay từ cơ sở

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): Xây dựng văn hóa pháp lý ngay từ cơ sở

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) tập trung khắc phục những vướng mắc trong quá trình thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải và quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; góp phần phòng ngừa tranh chấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và tăng cường sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư.
Hệ thống pháp luật - Thành tố trọng tâm trong hệ sinh thái thể chế phát triển

Hệ thống pháp luật - Thành tố trọng tâm trong hệ sinh thái thể chế phát triển

Hệ thống pháp luật được xem là thành tố trọng tâm trong hệ sinh thái thể chế phát triển, được nhìn nhận trong trạng thái động, gồm hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành tồn tại không tách rời với cơ chế xây dựng và thực thi pháp luật, cùng các điều kiện bảo đảm để chu trình điều chỉnh pháp luật được vận hành đồng bộ, thông suốt, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
75 tác phẩm tiêu biểu: Những tiếng nói chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

75 tác phẩm tiêu biểu: Những tiếng nói chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Tối 20/8, tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội), Đảng ủy Chính phủ tổ chức Lễ trao giải Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Đảng bộ Chính phủ lần thứ 2 năm 2026.
Tổng rà soát hệ thống pháp luật: Lấy phương án xử lý làm thước đo kết quả

Tổng rà soát hệ thống pháp luật: Lấy phương án xử lý làm thước đo kết quả

Tại cuộc họp về tình hình triển khai thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tổ chức ngày 19/8, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đề nghị sản phẩm của tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phải là phương án xử lý, không chỉ là danh mục văn bản.
Lan tỏa kinh nghiệm ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Lan tỏa kinh nghiệm ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Ngày 12/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1885/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch Truyền thông về Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề: "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Với yêu cầu thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác và thống nhất, công tác truyền thông được triển khai đồng bộ trước, trong và sau Diễn đàn, kết hợp giữa truyền thông đối ngoại, truyền thông chính sách và truyền thông số, qua đó góp phần tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi về một sự kiện pháp lý quốc tế quan trọng do Việt Nam đăng cai tổ chức.
Khẳng định vị thế của ASEAN và vai trò chủ động, có trách nhiệm, từng bước tham gia kiến tạo của Việt Nam

Khẳng định vị thế của ASEAN và vai trò chủ động, có trách nhiệm, từng bước tham gia kiến tạo của Việt Nam

Ngày 04/8/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1477/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch truyền thông, quảng bá về ASEAN giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch). Kế hoạch đặt mục tiêu nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị, người dân, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế về Cộng đồng ASEAN; đồng thời khẳng định vai trò, vị thế của ASEAN và vai trò chủ động, tích cực, có trách nhiệm, từng bước tham gia kiến tạo của Việt Nam trong ASEAN.
15 luật và 04 nghị quyết sẽ được xem xét, thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất

15 luật và 04 nghị quyết sẽ được xem xét, thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất

Sáng ngày 03/8, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI khai mạc trọng thể. Kỳ họp dự kiến xem xét, thông qua 15 luật, 04 nghị quyết; cho ý kiến lần đầu đối với 07 dự án luật. Kỳ họp dự kiến kéo dài khoảng 17 ngày, được chia thành 2 đợt: Đợt 1 diễn ra từ ngày 03 - 13/8/2026; đợt 2 từ ngày 19 - 24/8/2026.
Quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030

Quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030

Ngày 29/7, Đảng bộ Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị sơ kết công tác Đảng 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả

Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả

Sáng 29/7, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối từ điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội đến các điểm cầu ở các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương, các địa phương, cơ quan, đơn vị. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

Theo dõi chúng tôi trên: