Thứ ba 13/10/2026 08:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về hình phạt tiền

Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích một số điểm còn hạn chế, bất cập trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về hình phạt tiền, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện quy định về vấn đề này.

Hiện nay, xu hướng chung của hệ thống hình phạt của các nước trên thế giới đó là mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền. Cũng nằm trong xu thế đó, ở Việt Nam, hình phạt tiền được quy định trong Bộ luật Hình sự cũng mở rộng phạm vi áp dụng và được quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015). Hình phạt tiền là hình phạt có tính chất kinh tế nhằm vào tài sản của người phạm tội, được thực hiện bằng việc buộc người phạm tội phải nộp một khoản tiền nhất định sung vào công quỹ nhà nước[1].

Hình phạt tiền là hình phạt giữ vai trò quan trọng trong hệ thống các hình phạt chính, nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. Việc áp dụng hình phạt tiền trong nhiều trường hợp sẽ giúp cho việc cá thể hóa hình phạt ở mức cao mà khi áp dụng các loại hình phạt khác khó có thể đạt được mục đích của hình phạt. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có một số thay đổi so với Bộ luật Hình sự năm 1999 và một trong những điểm nổi bật đó là việc mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền. Việc mở rộng phạm vi nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp “giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm”[2]. Đồng thời, đáp ứng thực tiễn trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi mà mục đích của người phạm tội hướng tới lợi nhuận, cũng như phù hợp với hình phạt áp dụng đối với người phạm tội của các quốc gia trên thế giới.

Tuy nhiên, quá trình áp dụng quy định về hình phạt tiền vẫn còn một số hạn chế, bất cập, do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về hình phạt tiền nhằm bảo đảm quá trình áp dụng vào thực tiễn được thống nhất và hiệu quả cao. Cụ thể:

Thứ nhất, việc áp dụng hình phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Trong thực tiễn xét xử, việc áp dụng hình phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi phạm tội căn cứ theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Hình sự năm 2015, theo đó, phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng; mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, việc chỉ áp dụng hình phạt tiền đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là chưa toàn diện. Bởi vì, tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp như người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng; người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định. Như vậy, so với Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội nghiêm trọng và thậm chí cả đối với người phạm tội rất nghiêm trọng. Đối với trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng thì việc quy định và áp dụng hình phạt tiền không bị giới hạn về nhóm tội phạm. Đối với trường hợp người phạm tội rất nghiêm trọng thì bị giới hạn về nhóm tội phạm, cụ thể là, người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định. Tuy nhiên, tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại 28 điều luật nêu tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong 28 tội danh mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì có các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng. Đối chiếu với các quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 thì người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Đồng thời, Bộ luật Lao động năm 2019 cũng quy định đối với lao động chưa thành niên tại mục 1 Chương XI, theo đó, người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành; người chưa đủ 13 tuổi chỉ được làm các công việc theo quy định tại khoản 3 Điều 145 Bộ luật Lao động năm 2019. Do đó, không chỉ người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, có thu nhập riêng mà người dưới 15 tuổi cũng có thể tham gia làm việc để có thu nhập và tài sản riêng.

Từ các căn cứ nêu trên, tác giả cho rằng, để bảo đảm thực hiện tốt nhất mục đích áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nên mở rộng đối tượng áp dụng hình phạt tiền đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu xét thấy họ có thu nhập hoặc có tài sản riêng thay vì áp dụng nhiều hình phạt tù có thời hạn hoặc cải tạo không giam giữ. Việc quy định này sẽ bảo đảm mục đích áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Thứ hai, về mức phạt tiền áp dụng.

Khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định mức thấp nhất của hình phạt tiền là 01 triệu đồng, mức tối đa tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015. Như vậy, Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn giữ nguyên quy định về mức khởi điểm của hình phạt tiền như Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 1999 là 01 triệu đồng. Theo tác giả, quy định này chưa thực sự phù hợp với các quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 2015, bởi vì, trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015 không có bất cứ điều luật cụ thể nào có quy định hình phạt tiền với mức khởi điểm là 01 triệu đồng mà mức khởi điểm thấp nhất (đối với cả hình phạt tiền với tính chất là hình phạt bổ sung) là 05 triệu đồng. Do vậy, để bảo đảm tính thống nhất, tác giả kiến nghị nâng mức thấp nhất của hình phạt tiền lên 05 triệu đồng.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hình phạt tiền có thể là hình phạt chính nhưng cũng có thể chỉ là hình phạt bổ sung (đối với người phạm tội trong một số tội phạm cụ thể mà Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định). Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa hình phạt tiền với tính chất là hình phạt chính với phạt tiền với tính chất là hình phạt bổ sung, mức phạt tiền tối thiểu giữa hình phạt chính và hình phạt bổ sung không được quy định riêng, đều quy định chung là 01 triệu đồng. Ví dụ: Đối với Tội đánh bạc (Điều 321) thì mức thấp nhất của khung hình phạt khi áp dụng hình phạt chính là phạt tiền là 20 triệu đồng, trong khi đó, hình phạt tiền với tính chất là hình phạt bổ sung đã có mức khởi điểm là 10 triệu đồng và tối đa là 50 triệu đồng, tức là hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung có mức phạt tối đa cao hơn cả hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính. Về nguyên tắc, hình phạt chính phải có mức độ nghiêm khắc hơn hình phạt bổ sung nên khi quy định về hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính phải có sự phân định rõ ràng với hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung. Có như vậy mới thực hiện triệt để nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong khi áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội. Do vậy, theo quan điểm của tác giả, cần phải sửa đổi các quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng quy định mức tối thiểu của phạt tiền với tính chất là hình phạt chính phải cao hơn mức tối đa của phạt tiền với tính chất hình phạt bổ sung.

Thứ ba, về khoảng cách giữa mức phạt tiền tối thiểu và tối đa trong một khung hình phạt tại một số điều luật trong phần các tội phạm.

Trong Bộ luật Hình sự năm 2015, một số điều luật tại Phần thứ hai “Các tội phạm” có quy định khoảng cách giữa mức phạt tiền tối thiểu và tối đa trong cùng khung hình phạt còn chênh lệch quá lớn. Ví dụ: Tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội trốn thuế có mức phạt tiền khi áp dụng là hình phạt chính tối thiểu là 01 tỷ 500 triệu đồng, trong khi mức tối đa là 04 tỷ 500 triệu đồng (chênh lệch 03 tỷ đồng); tại khoản 3 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội gây ô nhiễm môi trường có mức phạt tiền khi áp dụng là hình phạt chính tối thiểu là 01 tỷ đồng, trong khi quy định mức tối đa là 03 tỷ đồng (chênh lệch 02 tỷ đồng). Việc quy định như trên chưa thực sự bảo đảm nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, đồng thời, có thể là cơ sở cho sự tùy tiện trong việc áp dụng hình phạt này. Do đó, theo quan điểm của tác giả, cần thu hẹp khoảng cách giữa mức tối thiểu và tối đa trong việc quy định hình phạt tiền hoặc phân hóa hình phạt tiền trong các khung hình phạt khác nhau như đối với hình phạt tù có thời hạn, tạo điều kiện cho việc quyết định một hình phạt nghiêm khắc và công bằng.

Thứ tư, về căn cứ quyết định mức phạt tiền.

Khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả. Tuy nhiên, việc chứng minh khả năng tài chính của người phạm tội chỉ mang tính chất tương đối và thường gặp nhiều khó khăn trong việc xác minh thu nhập cũng như tài sản riêng của họ, điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: Người phạm tội có tâm lý che giấu thu nhập, tài sản của mình gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng; quy định của pháp luật còn một số vướng mắc, thiếu sự thống nhất trong quản lý nguồn tài sản, các biến động về tài sản của công dân. Trên thực tế, trong quá trình giải quyết vụ án, việc xác minh về khả năng tài chính của người phạm tội chủ yếu dựa trên các nguồn như: Lời khai của người phạm tội, các giấy tờ chứng minh được tài sản hợp pháp của người phạm tội, lời khai của những người thân thích trong gia đình người phạm tội... Đặc biệt là, đối với người phạm tội không có nghề nghiệp ổn định, lao động tự do thì càng khó xác định được chính xác tình hình tài sản của họ. Do vậy, việc xác định tình hình tài sản của người phạm tội mang tính chất tương đối. Bên cạnh đó, biến động giá cả cũng là một trong các căn cứ để quyết định mức phạt tiền, tuy nhiên, căn cứ này cũng thường không được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án khó có thể đưa ra một mức phạt tiền phù hợp với tình hình tài sản của người phạm tội và sự biến động giá cả. Nếu như mức phạt tiền cao so với tình hình tài sản của người phạm tội sẽ dẫn đến việc khó thi hành trên thực tế, ngược lại, trường hợp mức phạt tiền thấp thì không bảo đảm được tính nghiêm minh, răn đe của hình phạt.

Do đó, để phù hợp với tình hình quản lý tài sản ở nước ta hiện nay, cũng như để bảo đảm công tác thi hành án đối với những người bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, tác giả đề xuất, cần yêu cầu người phạm tội cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến tình hình tài sản, thu nhập của bản thân..., nếu họ không có thu nhập, không có tài sản thì không nên áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền, vì như vậy sẽ dẫn đến công tác thi hành án hình sự gặp nhiều khó khăn. Trong những trường hợp này, có thể lựa chọn các loại hình phạt chính khác phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn...

Thứ năm, về việc khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam khi áp dụng hình phạt chính là phạt tiền.

Trong Bộ luật Hình sự năm 2015, các hình phạt chính như tù có thời hạn, cải tạo không giam giữ đều quy định việc khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn chấp hành án, trong khi đó, hình phạt tiền lại không quy định về việc khấu trừ này. Về vấn đề này, tác giả cho rằng, cần quy định về việc khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam đối với cả hình phạt tiền. Bởi lẽ, trên thực tế, có một số trường hợp người phạm tội bị tạm giữ, tạm giam nhưng khi xét xử, nếu Tòa án áp dụng hình phạt tiền đối với họ sẽ không thể khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam bởi vì không có quy định về vấn đề này. Do vậy, việc không khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam đối với người phạm tội bị áp dụng hình phạt tiền là chưa bảo đảm được quyền lợi chính đáng của người phạm tội. Về vấn đề này, theo tác giả, Tòa án có thẩm quyền xác định mức thu nhập bình quân của người bị kết án phạt tiền, trên cơ sở đó, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam sẽ được khấu trừ một khoản tiền tương ứng với một ngày công lao động của người đó. Trong trường hợp người bị kết án không có thu nhập hoặc thu nhập không ổn định thì việc xác định mức khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam theo ngày cần dựa vào mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Thứ sáu, về đối tượng áp dụng hình phạt tiền.

Bên cạnh chủ thể của tội phạm là người phạm tội thì Bộ luật Hình sự năm 2015 còn quy định chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại phạm tội. Theo đó, hình phạt tiền (hình phạt chính và hình phạt bổ sung) cũng được Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định áp dụng đối với chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại. Theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hình phạt tiền có thể áp dụng đối với pháp nhân thương mại khi pháp nhân thương mại phạm một trong 33 tội danh thuộc các nhóm tội phạm kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại; nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh kế; nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn về trình tự, thủ tục, điều kiện áp dụng và thi hành hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại, điều này gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng pháp luật.

Vì vậy, theo tác giả, cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn quy định về trình tự, thủ tục áp dụng hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại phạm tội để thực hiện áp dụng thống nhất pháp luật, bảo đảm sự bình đẳng, công bằng cũng như bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân.

ThS. Nguyễn Đình Văn

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Cục Đào tạo, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần những quy định chung), Nxb. Lao Động, Hà Nội, năm 2021, tr. 196.

[2]. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: