Thứ năm 27/08/2026 14:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về hình phạt tiền

Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích một số điểm còn hạn chế, bất cập trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về hình phạt tiền, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện quy định về vấn đề này.

Hiện nay, xu hướng chung của hệ thống hình phạt của các nước trên thế giới đó là mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền. Cũng nằm trong xu thế đó, ở Việt Nam, hình phạt tiền được quy định trong Bộ luật Hình sự cũng mở rộng phạm vi áp dụng và được quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015). Hình phạt tiền là hình phạt có tính chất kinh tế nhằm vào tài sản của người phạm tội, được thực hiện bằng việc buộc người phạm tội phải nộp một khoản tiền nhất định sung vào công quỹ nhà nước[1].

Hình phạt tiền là hình phạt giữ vai trò quan trọng trong hệ thống các hình phạt chính, nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. Việc áp dụng hình phạt tiền trong nhiều trường hợp sẽ giúp cho việc cá thể hóa hình phạt ở mức cao mà khi áp dụng các loại hình phạt khác khó có thể đạt được mục đích của hình phạt. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có một số thay đổi so với Bộ luật Hình sự năm 1999 và một trong những điểm nổi bật đó là việc mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền. Việc mở rộng phạm vi nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp “giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm”[2]. Đồng thời, đáp ứng thực tiễn trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi mà mục đích của người phạm tội hướng tới lợi nhuận, cũng như phù hợp với hình phạt áp dụng đối với người phạm tội của các quốc gia trên thế giới.

Tuy nhiên, quá trình áp dụng quy định về hình phạt tiền vẫn còn một số hạn chế, bất cập, do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về hình phạt tiền nhằm bảo đảm quá trình áp dụng vào thực tiễn được thống nhất và hiệu quả cao. Cụ thể:

Thứ nhất, việc áp dụng hình phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Trong thực tiễn xét xử, việc áp dụng hình phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi phạm tội căn cứ theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Hình sự năm 2015, theo đó, phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng; mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, việc chỉ áp dụng hình phạt tiền đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là chưa toàn diện. Bởi vì, tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp như người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng; người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định. Như vậy, so với Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội nghiêm trọng và thậm chí cả đối với người phạm tội rất nghiêm trọng. Đối với trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng thì việc quy định và áp dụng hình phạt tiền không bị giới hạn về nhóm tội phạm. Đối với trường hợp người phạm tội rất nghiêm trọng thì bị giới hạn về nhóm tội phạm, cụ thể là, người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định. Tuy nhiên, tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại 28 điều luật nêu tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong 28 tội danh mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì có các tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng. Đối chiếu với các quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 thì người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Đồng thời, Bộ luật Lao động năm 2019 cũng quy định đối với lao động chưa thành niên tại mục 1 Chương XI, theo đó, người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành; người chưa đủ 13 tuổi chỉ được làm các công việc theo quy định tại khoản 3 Điều 145 Bộ luật Lao động năm 2019. Do đó, không chỉ người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, có thu nhập riêng mà người dưới 15 tuổi cũng có thể tham gia làm việc để có thu nhập và tài sản riêng.

Từ các căn cứ nêu trên, tác giả cho rằng, để bảo đảm thực hiện tốt nhất mục đích áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nên mở rộng đối tượng áp dụng hình phạt tiền đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu xét thấy họ có thu nhập hoặc có tài sản riêng thay vì áp dụng nhiều hình phạt tù có thời hạn hoặc cải tạo không giam giữ. Việc quy định này sẽ bảo đảm mục đích áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Thứ hai, về mức phạt tiền áp dụng.

Khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định mức thấp nhất của hình phạt tiền là 01 triệu đồng, mức tối đa tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015. Như vậy, Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn giữ nguyên quy định về mức khởi điểm của hình phạt tiền như Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 1999 là 01 triệu đồng. Theo tác giả, quy định này chưa thực sự phù hợp với các quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 2015, bởi vì, trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015 không có bất cứ điều luật cụ thể nào có quy định hình phạt tiền với mức khởi điểm là 01 triệu đồng mà mức khởi điểm thấp nhất (đối với cả hình phạt tiền với tính chất là hình phạt bổ sung) là 05 triệu đồng. Do vậy, để bảo đảm tính thống nhất, tác giả kiến nghị nâng mức thấp nhất của hình phạt tiền lên 05 triệu đồng.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hình phạt tiền có thể là hình phạt chính nhưng cũng có thể chỉ là hình phạt bổ sung (đối với người phạm tội trong một số tội phạm cụ thể mà Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định). Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa hình phạt tiền với tính chất là hình phạt chính với phạt tiền với tính chất là hình phạt bổ sung, mức phạt tiền tối thiểu giữa hình phạt chính và hình phạt bổ sung không được quy định riêng, đều quy định chung là 01 triệu đồng. Ví dụ: Đối với Tội đánh bạc (Điều 321) thì mức thấp nhất của khung hình phạt khi áp dụng hình phạt chính là phạt tiền là 20 triệu đồng, trong khi đó, hình phạt tiền với tính chất là hình phạt bổ sung đã có mức khởi điểm là 10 triệu đồng và tối đa là 50 triệu đồng, tức là hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung có mức phạt tối đa cao hơn cả hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính. Về nguyên tắc, hình phạt chính phải có mức độ nghiêm khắc hơn hình phạt bổ sung nên khi quy định về hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính phải có sự phân định rõ ràng với hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung. Có như vậy mới thực hiện triệt để nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong khi áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội. Do vậy, theo quan điểm của tác giả, cần phải sửa đổi các quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng quy định mức tối thiểu của phạt tiền với tính chất là hình phạt chính phải cao hơn mức tối đa của phạt tiền với tính chất hình phạt bổ sung.

Thứ ba, về khoảng cách giữa mức phạt tiền tối thiểu và tối đa trong một khung hình phạt tại một số điều luật trong phần các tội phạm.

Trong Bộ luật Hình sự năm 2015, một số điều luật tại Phần thứ hai “Các tội phạm” có quy định khoảng cách giữa mức phạt tiền tối thiểu và tối đa trong cùng khung hình phạt còn chênh lệch quá lớn. Ví dụ: Tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội trốn thuế có mức phạt tiền khi áp dụng là hình phạt chính tối thiểu là 01 tỷ 500 triệu đồng, trong khi mức tối đa là 04 tỷ 500 triệu đồng (chênh lệch 03 tỷ đồng); tại khoản 3 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội gây ô nhiễm môi trường có mức phạt tiền khi áp dụng là hình phạt chính tối thiểu là 01 tỷ đồng, trong khi quy định mức tối đa là 03 tỷ đồng (chênh lệch 02 tỷ đồng). Việc quy định như trên chưa thực sự bảo đảm nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, đồng thời, có thể là cơ sở cho sự tùy tiện trong việc áp dụng hình phạt này. Do đó, theo quan điểm của tác giả, cần thu hẹp khoảng cách giữa mức tối thiểu và tối đa trong việc quy định hình phạt tiền hoặc phân hóa hình phạt tiền trong các khung hình phạt khác nhau như đối với hình phạt tù có thời hạn, tạo điều kiện cho việc quyết định một hình phạt nghiêm khắc và công bằng.

Thứ tư, về căn cứ quyết định mức phạt tiền.

Khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả. Tuy nhiên, việc chứng minh khả năng tài chính của người phạm tội chỉ mang tính chất tương đối và thường gặp nhiều khó khăn trong việc xác minh thu nhập cũng như tài sản riêng của họ, điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: Người phạm tội có tâm lý che giấu thu nhập, tài sản của mình gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng; quy định của pháp luật còn một số vướng mắc, thiếu sự thống nhất trong quản lý nguồn tài sản, các biến động về tài sản của công dân. Trên thực tế, trong quá trình giải quyết vụ án, việc xác minh về khả năng tài chính của người phạm tội chủ yếu dựa trên các nguồn như: Lời khai của người phạm tội, các giấy tờ chứng minh được tài sản hợp pháp của người phạm tội, lời khai của những người thân thích trong gia đình người phạm tội... Đặc biệt là, đối với người phạm tội không có nghề nghiệp ổn định, lao động tự do thì càng khó xác định được chính xác tình hình tài sản của họ. Do vậy, việc xác định tình hình tài sản của người phạm tội mang tính chất tương đối. Bên cạnh đó, biến động giá cả cũng là một trong các căn cứ để quyết định mức phạt tiền, tuy nhiên, căn cứ này cũng thường không được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án khó có thể đưa ra một mức phạt tiền phù hợp với tình hình tài sản của người phạm tội và sự biến động giá cả. Nếu như mức phạt tiền cao so với tình hình tài sản của người phạm tội sẽ dẫn đến việc khó thi hành trên thực tế, ngược lại, trường hợp mức phạt tiền thấp thì không bảo đảm được tính nghiêm minh, răn đe của hình phạt.

Do đó, để phù hợp với tình hình quản lý tài sản ở nước ta hiện nay, cũng như để bảo đảm công tác thi hành án đối với những người bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, tác giả đề xuất, cần yêu cầu người phạm tội cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến tình hình tài sản, thu nhập của bản thân..., nếu họ không có thu nhập, không có tài sản thì không nên áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền, vì như vậy sẽ dẫn đến công tác thi hành án hình sự gặp nhiều khó khăn. Trong những trường hợp này, có thể lựa chọn các loại hình phạt chính khác phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn...

Thứ năm, về việc khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam khi áp dụng hình phạt chính là phạt tiền.

Trong Bộ luật Hình sự năm 2015, các hình phạt chính như tù có thời hạn, cải tạo không giam giữ đều quy định việc khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn chấp hành án, trong khi đó, hình phạt tiền lại không quy định về việc khấu trừ này. Về vấn đề này, tác giả cho rằng, cần quy định về việc khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam đối với cả hình phạt tiền. Bởi lẽ, trên thực tế, có một số trường hợp người phạm tội bị tạm giữ, tạm giam nhưng khi xét xử, nếu Tòa án áp dụng hình phạt tiền đối với họ sẽ không thể khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam bởi vì không có quy định về vấn đề này. Do vậy, việc không khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam đối với người phạm tội bị áp dụng hình phạt tiền là chưa bảo đảm được quyền lợi chính đáng của người phạm tội. Về vấn đề này, theo tác giả, Tòa án có thẩm quyền xác định mức thu nhập bình quân của người bị kết án phạt tiền, trên cơ sở đó, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam sẽ được khấu trừ một khoản tiền tương ứng với một ngày công lao động của người đó. Trong trường hợp người bị kết án không có thu nhập hoặc thu nhập không ổn định thì việc xác định mức khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam theo ngày cần dựa vào mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Thứ sáu, về đối tượng áp dụng hình phạt tiền.

Bên cạnh chủ thể của tội phạm là người phạm tội thì Bộ luật Hình sự năm 2015 còn quy định chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại phạm tội. Theo đó, hình phạt tiền (hình phạt chính và hình phạt bổ sung) cũng được Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định áp dụng đối với chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại. Theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hình phạt tiền có thể áp dụng đối với pháp nhân thương mại khi pháp nhân thương mại phạm một trong 33 tội danh thuộc các nhóm tội phạm kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại; nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh kế; nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn về trình tự, thủ tục, điều kiện áp dụng và thi hành hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại, điều này gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng pháp luật.

Vì vậy, theo tác giả, cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn quy định về trình tự, thủ tục áp dụng hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại phạm tội để thực hiện áp dụng thống nhất pháp luật, bảo đảm sự bình đẳng, công bằng cũng như bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân.

ThS. Nguyễn Đình Văn

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Cục Đào tạo, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần những quy định chung), Nxb. Lao Động, Hà Nội, năm 2021, tr. 196.

[2]. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: