Thứ hai 20/07/2026 04:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa tại Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Bài viết nêu ra một số bất cập trong pháp luật và các định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định về chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa tại Luật Đất đai năm 2013 theo hướng khoa học, phù hợp với thực tiễn.

1. Thực trạng quy định về chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa tại Luật Đất đai năm 2013

Pháp luật về chuyển mục đích sử dụng (sau đây viết tắt là CMĐSD) đất nông nghiệp được quy định từ Luật Đất đai năm 1987, đến nay là Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do trung ương và địa phương ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tổ chức thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai nói chung, hoạt động CMĐSD đất trồng lúa nói riêng và các chủ thể có nhu cầu thực hiện theo mục đích và nguyện vọng trong quá trình sử dụng đất; diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên, làm tăng giá trị của đất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần cơ cấu hợp lý giữa công nghiệp và nông nghiệp và trong chính cơ cấu ngành nông nghiệp[1].

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhiều vấn đề thực tiễn phát sinh mà hệ thống pháp luật về CMĐSD đất nông nghiệp chưa đáp ứng được, dẫn đến những bất cập, hạn chế về thể chế có thể nêu ra dưới đây:

1.1. Về các trường hợp CMĐSD đất nông nghiệp

Thứ nhất, nội hàm về CMĐSD đất chưa được làm rõ trong pháp luật đất đai hiện hành, chưa bao quát được hết các trường hợp CMĐSD đất.

Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 đưa ra định nghĩa cụ thể về giao đất (khoản 7), cho thuê đất (khoản 8) nhưng lại không có quy định về CMĐSD đất. Vì vậy, khi triển khai các quy định liên quan đến CMĐSD đất gặp khá nhiều bất cập, vướng mắc. Cụ thể, Điều 57 Luật Đất đai năm 2013 quy định về các trường hợp CMĐSD đất gồm có 07 trường hợp[2] trong khi nghiên cứu quy định tại khoản 4 Điều 176 Luật Đất đai năm 2013[3] về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép CMĐSD đất từ đất không thu tiền sử dụng đất sang đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất. Đây chính là trường hợp còn thiếu tại Điều 57 Luật Đất đai năm 2013.

Thứ hai, về chủ thể là người sử dụng đất trong quan hệ CMĐSD đất chưa rõ ràng, chưa phù hợp.

Tại Điều 59 Luật Đất đai năm 2013 chỉ quy định 2 nhóm chủ thể là tổ chức và hộ gia đình, cá nhân được CMĐSD đất. Trong khi đó quy định tại Điều 127 Luật Đất đai năm 2013 lại cho thấy chủ thể CMĐSD đất được mở rộng tới cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam.

1.2. Về căn cứ, tiêu chí, điều kiện để CMĐSD đất trồng lúa

Thứ nhất, các quy định về căn cứ CMĐSD đất trồng lúa còn gây khó khăn trong thực tế triển khai như việc CMĐSD đất phải phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện đã phê duyệt (Điều 52 Luật Đất đai năm 2013). Tuy nhiên, việc lập kế hoạch sử dụng đất lại phụ thuộc vào quy hoạch; mặt khác, đối với đất trồng lúa khi CMĐSD phải thực hiện nghĩa vụ tài chính để bảo vệ tính chất cần giữ ổn định loại đất này lại chưa được nêu ra tại căn cứ CMĐSD đất.

Thứ hai, về điều kiện đầu tư hiện còn nhiều vấn đề chung chung, gây nhiều cách hiểu khác nhau và dẫn đến lúng túng trong quá trình áp dụng như: (i) Chưa có cơ sở khoa học rõ ràng để xác định chủ thể nào, loại đất chuyển đi, loại đất chuyển đến nào với diện tích bao nhiêu thì khi CMĐSD đất cần điều kiện cụ thể gì hay chưa có cơ sở để xác định điều kiện tài chính gắn với quy mô đất hay với loại đất…; (ii) Quy định về CMĐSD đất trồng lúa của hộ gia đình, cá nhân còn thiếu tính linh hoạt, gây khó khăn trong triển khai thực tế.

Thứ ba, quy định nghĩa vụ tài chính đối với hoạt động CMĐSD đất còn chưa hợp lý, gây nhiều khó khăn đối với chủ thể sử dụng đất: (i) Nghĩa vụ tài chính về đất đai bị quy định “phân tán” trong quá nhiều văn bản, “gián tiếp” dẫn đến thiếu minh bạch; (ii) Cơ chế, chính sách cho người trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp khi đất bị CMĐSD chưa đầy đủ, bao quát, hiện mới dừng lại ở việc đào tạo nghề, chuyển đổi nghề trong khi cần thêm các chính sách khác như hỗ trợ vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi hay tổ chức triển khai các dự án sinh kế cho người dân bị chuyển đổi đất.

Thứ tư, thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch về CMĐSD đất nói chung chưa đáp ứng yêu cầu, việc xác định cụ thể diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ.

2. Đề xuất sửa đổi và hoàn thiện quy định về CMĐSD đất trồng lúa tại Luật Đất đai năm 2013

Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao đã xác định mục tiêu: “Đến năm 2023 phải hoàn thành sửa đổi Luật Đất đai năm 2013 và một số luật liên quan, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất”[4]. Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi (dự thảo Luật) lần này cần được hoàn thiện các quy định về CMĐSD đất trồng lúa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia một cách bền vững, quản lý hài hòa, giữ diện tích đất nông nghiệp ổn định, bảo đảm quyền lợi cho người sử dụng đất nông nghiệp[5], trong đó trọng tâm là một số quy định sau:

Thứ nhất, bổ sung khái niệm CMĐSD đất nông nghiệp vào một khoản của Điều 3 dự thảo Luật[6] để thống nhất áp dụng trong quá trình tổ chức thực hiện, là căn cứ quan trọng để phân biệt giữa CMĐSD đất nông nghiệp với chuyển đổi quyền sử dụng đất nói chung và quyền sử dụng đất nông nghiệp nói riêng, cụ thể: “Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp là việc thay đổi mục đích sử dụng từ loại đất nông nghiệp này sang loại đất khác phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của Luật này”.

Thứ hai, bổ sung hành vi bị nghiêm cấm: “Chuyển mục đích sử dụng đất trái phép” tại Điều 11 dự thảo Luật, nhằm tăng cường công tác quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc CMĐSD đất trồng lúa.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 15 (Trách nhiệm của Nhà nước đối với người sử dụng đất) dự thảo Luật: “Có chính sách tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không có đất sản xuất do quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế được vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi, đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, tạo sinh kế, tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập”.

Thứ tư, bổ sung cụm từ “chuyển mục đích sử dụng đất”, “quy hoạch vùng được chuyển đổi”, “được lấy ý kiến khi quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất” vào điểm a khoản 1 Điều 24 (Quyền tiếp cận thông tin đất đai) dự thảo Luật nhằm minh bạch, công khai thông tin cho người có liên quan đến việc CMĐSD đất, nhất là CMĐSD đất nông nghiệp, khắc phục hạn chế thời gian qua, nhiều người dân không được tiếp cận thông tin này, giảm thiểu khiếu nại, khiếu kiện về đất đai.

Thứ năm, thay cụm từ “giúp đỡ” thành “hỗ trợ” để viết thành “được Nhà nước hướng dẫn và hỗ trợ trong việc cải tạo, phục hồi đất nông nghiệp” tại khoản 5; bổ sung một khoản quy định quyền chung của người sử dụng đất “được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật” tại Điều 26 (Quyền chung của người sử dụng đất) dự thảo Luật.

Thứ sáu, đề nghị sửa đổi Điều 117 (Căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép CMĐSD đất), Điều 123 (Điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép CMĐSD đất) và 124 (Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép CMĐSD đất) dự thảo Luật theo hướng quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc CMĐSD đất, đặc biệt là đất trồng lúa được nêu tại Nghị quyết số 18-NQ/TW. Đề xuất cần phân định rõ thẩm quyền cho phép CMĐSD đất trồng lúa sang mục đích khác theo hướng tiếp tục giao thẩm quyền cho Thủ tướng Chính phủ trong việc chấp thuận các trường hợp CMĐSD đất lúa nhưng với hạn mức cao hơn so với Luật Đất đai hiện hành, từ 10 ha trở lên thành từ 20 ha trở lên.

Trong trường hợp dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) thể hiện theo phương án này thì đề nghị rà soát để sửa đổi các điều, khoản có liên quan cho thống nhất (Điều 123, điểm b khoản 2 Điều 261). Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể đối với các trường hợp CMĐSD đất trồng lúa của hộ gia đình, cá nhân có diện tích nhỏ (dưới 0,5 ha), đảm bảo nhu cầu sử dụng đất linh hoạt, kịp thời.

- Xác định cụ thể diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt.

Trừ diện tích đất chuyên trồng lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt, đối với diện tích đất trồng lúa khác khi chuyển sang mục đích khác phải có quy định chặt chẽ, ràng buộc trách nhiệm của chủ đầu tư khi thực hiện dự án. Theo đó, cần bổ sung vào Điều 123 dự thảo Luật quy định điều kiện CMĐSD đất (không giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này), cụ thể:

(i) Không được CMĐSD đất trồng lúa sang phi nông nghiệp sau khi đã được tích tụ, tập trung, (nhất là thực hiện dự án đầu tư) nhằm khuyến khích đầu tư sản xuất nông nghiệp chân chính, hiệu quả, tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư vào nông nghiệp.

(ii) Có báo cáo đánh giá tính hiệu quả, khả thi của dự án gắn trách nhiệm của chủ dự án với cộng đồng; đồng thời, bổ sung các điều kiện thu hồi khi không thực hiện dự án đúng tiến độ cho phép; không làm ảnh hưởng đến sản xuất, canh tác, các điều kiện về thủy lợi, đi lại của người dân; có quy định về quy mô dự án gắn với điều kiện về tài chính. Điều này sẽ đảm bảo tính khả thi của dự án.

(iii) Xây dựng và thực thi phương án bóc tách tầng đất mặt của đất chuyên trồng lúa khi xây dựng công trình, không loại trừ bất kỳ dự án nào kể cả dự án đầu tư công, vì tầng đất mặt của đất trồng lúa là đất tốt, giàu dinh dưỡng, mất hằng trăm năm để hình thành do đó cần bảo vệ và sử dụng vào mục đích nông nghiệp.

(iv) Nộp một khoản tiền bảo vệ và phát triển đất trồng lúa để Nhà nước bổ sung diện tích đất chuyên trồng lúa nước bị mất hoặc tăng hiệu quả sử dụng đất trồng lúa. Hiện nay, số tiền này đang được các tỉnh sử dụng cho các mục đích bảo vệ, phục hồi diện tích đất trồng lúa bị thoái hóa, hỗ trợ trực tiếp cho bà con trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong trồng lúa…, tuy nhiên, số tiền này chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của bà con trồng lúa, do đó, đề nghị tính toán số tiền phải nộp trên cơ sở giá trị hiệu quả của dự án.

Thứ bảy, sửa đổi một số khoản tại Điều 183 (Đất trồng lúa) dự thảo Luật:

- Sửa đổi, bổ sung khoản 4 “Nhà nước có chính sách bảo vệ đất trồng lúa, nhất là đất chuyên trồng lúa nước. Không được chuyển mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước tại khu vực quản lý nghiêm ngặt theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trừ trường hợp đặc biệt quan trọng cần thu hồi đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định và công trình hạ tầng phục vụ quản lý chặt chẽ các khu vực này, đất chuyên trồng lúa được hình thành từ quá trình tập trung, tích tụ ruộng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hạn chế chuyển đất chuyên trồng lúa sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp”[7].

- Bổ sung điểm d khoản 5 như sau “có chính sách hỗ trợ cho nhóm người yếu thế thuộc diện bị thu hồi đất trồng lúa” ngoài hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm như người già, người tàn tật, người có công, phụ nữ và trẻ em, người dân ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ tám, sửa đổi khoản 1 Điều 251, cụ thể là điểm e khoản 2 Điều 24 Luật Quy hoạch, đề nghị bổ sung đất trồng lúa là đối tượng phải được khoanh vùng trong khu vực sử dụng đất cần quản lý nghiêm ngặt. Vì hiện dự thảo Luật mới chỉ đề cập đến đối tượng chỉ tiêu là đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất; trong khi đất chuyên trồng lúa là đất màu mỡ, phục vụ sản xuất nông nghiệp hiệu quả, cần bảo vệ nghiêm ngặt và cần thể hiện từ chỉ tiêu trong nội dung quy hoạch sử dụng đất quốc gia làm cơ sở cho việc thực hiện quy hoạch từng thời kỳ, hay tiêu chí, điều kiện CMĐSD.

Thứ chín là bổ sung trách nhiệm của cơ quan nông nghiệp và phát triển nông thôn trong việc tham gia phối hợp với cơ quan tài nguyên và môi trường thẩm định các điều kiện CMĐSD đất trồng lúa sang mục đích khác tại khoản 2 Điều 227 dự thảo Luật nhằm quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan nông nghiệp và phát triển nông thôn - cơ quan chuyên môn có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về sử dụng đất trồng lúa... đảm bảo sử dụng hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người trồng lúa.

ThS. Nguyễn Thị Kim Anh

Ủy viên Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường

ThS. Nguyễn Thị Mai Hiên

Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

[1]. Kiểm kê đất đai 2019: Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển biến tích cực, hướng vào phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng, miền (2021).

[2]. Điều 57 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Điều 176 Luật Đất đai năm 2013.

[4]. Nghị quyết số 18- NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao đã xác định mục tiêu, https://dangcongsan.org.vn/.

[5]. Nguyễn Thị Kim Anh, Bảo đảm quyền và lợi ích của nông dân khi đất lúa bị chuyển đổi mục đích, Báo Nông nghiệp Việt Nam.

[6]. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phiên họp tháng 9 năm 2023.

[7]. Sửa đổi căn cứ Kết luận số 81-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030 yêu cầu “bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất lúa được quy hoạch”; khuyến khích, có cơ chế bảo vệ việc tích tụ, tập trung ruộng đất, phát triển các vùng chuyên canh trồng lúa nước quy mô lớn trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của thị trường, nguồn: https://dangcongsan.org.vn/, truy cập ngày 01/03/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo - Một số gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo - Một số gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại một số quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Nga, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á; từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Nghiên cứu tập trung phân tích ba nội dung chính: (i) mô hình pháp luật điều chỉnh quan hệ Nhà nước - tôn giáo; (ii) cơ chế bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân; (iii) phương thức quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số quốc gia ASEAN: tiếp cận từ mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số quốc gia ASEAN: tiếp cận từ mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo

Tóm tắt: Trong xã hội đa dạng về tín ngưỡng và tôn giáo, pháp luật không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn thiết lập cơ chế duy trì trật tự công, ổn định xã hội và thúc đẩy hòa hợp cộng đồng. Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và được cụ thể hóa trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, các cách tiếp cận hiện chưa làm rõ đầy đủ cơ sở lý luận của mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo như một nền tảng cho cải cách pháp luật. Nghiên cứu phân tích các mô hình lý luận về quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo, đánh giá mô hình chính sách, pháp luật hiện hành của Việt Nam và xu hướng sửa đổi trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Thông qua tham chiếu kinh nghiệm của Singapore như một trường hợp điển hình trong ASEAN, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong cách tiếp cận pháp luật hiện nay ở Việt Nam và đề xuất các định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật theo hướng vừa bảo đảm tốt hơn quyền tự do tôn giáo, vừa đáp ứng yêu cầu quản trị nhà nước và hội nhập quốc tế.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã bước đầu thiết lập hành lang pháp lý cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Nghiên cứu phân tích các chính sách, quy định mới về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, đánh giá tính tương thích và khả thi trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Bằng phương pháp phân tích quy phạm và so sánh đối chiếu, nghiên cứu làm rõ sự biến đổi của các hình thức thực hành tôn giáo trong môi trường số và trách nhiệm của các chủ thể liên quan, đặc biệt là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng, qua đó, xác định các yêu cầu đối với tổ chức thực thi nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong bối cảnh số hóa.
Thực trạng chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Thực trạng chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng và sự đa dạng ngày càng gia tăng của các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, hệ thống chính sách, pháp luật Việt Nam đã có nhiều bước hoàn thiện, đặc biệt, với việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật còn tồn tại một số hạn chế như tính minh bạch chưa cao, thủ tục hành chính còn phức tạp và sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật giữa các địa phương. Nghiên cứu phân tích thực trạng chính sách, pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: