Thứ năm 22/01/2026 10:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa tại Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Bài viết nêu ra một số bất cập trong pháp luật và các định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định về chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa tại Luật Đất đai năm 2013 theo hướng khoa học, phù hợp với thực tiễn.

1. Thực trạng quy định về chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa tại Luật Đất đai năm 2013

Pháp luật về chuyển mục đích sử dụng (sau đây viết tắt là CMĐSD) đất nông nghiệp được quy định từ Luật Đất đai năm 1987, đến nay là Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do trung ương và địa phương ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tổ chức thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai nói chung, hoạt động CMĐSD đất trồng lúa nói riêng và các chủ thể có nhu cầu thực hiện theo mục đích và nguyện vọng trong quá trình sử dụng đất; diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên, làm tăng giá trị của đất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần cơ cấu hợp lý giữa công nghiệp và nông nghiệp và trong chính cơ cấu ngành nông nghiệp[1].

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhiều vấn đề thực tiễn phát sinh mà hệ thống pháp luật về CMĐSD đất nông nghiệp chưa đáp ứng được, dẫn đến những bất cập, hạn chế về thể chế có thể nêu ra dưới đây:

1.1. Về các trường hợp CMĐSD đất nông nghiệp

Thứ nhất, nội hàm về CMĐSD đất chưa được làm rõ trong pháp luật đất đai hiện hành, chưa bao quát được hết các trường hợp CMĐSD đất.

Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 đưa ra định nghĩa cụ thể về giao đất (khoản 7), cho thuê đất (khoản 8) nhưng lại không có quy định về CMĐSD đất. Vì vậy, khi triển khai các quy định liên quan đến CMĐSD đất gặp khá nhiều bất cập, vướng mắc. Cụ thể, Điều 57 Luật Đất đai năm 2013 quy định về các trường hợp CMĐSD đất gồm có 07 trường hợp[2] trong khi nghiên cứu quy định tại khoản 4 Điều 176 Luật Đất đai năm 2013[3] về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép CMĐSD đất từ đất không thu tiền sử dụng đất sang đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất. Đây chính là trường hợp còn thiếu tại Điều 57 Luật Đất đai năm 2013.

Thứ hai, về chủ thể là người sử dụng đất trong quan hệ CMĐSD đất chưa rõ ràng, chưa phù hợp.

Tại Điều 59 Luật Đất đai năm 2013 chỉ quy định 2 nhóm chủ thể là tổ chức và hộ gia đình, cá nhân được CMĐSD đất. Trong khi đó quy định tại Điều 127 Luật Đất đai năm 2013 lại cho thấy chủ thể CMĐSD đất được mở rộng tới cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam.

1.2. Về căn cứ, tiêu chí, điều kiện để CMĐSD đất trồng lúa

Thứ nhất, các quy định về căn cứ CMĐSD đất trồng lúa còn gây khó khăn trong thực tế triển khai như việc CMĐSD đất phải phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện đã phê duyệt (Điều 52 Luật Đất đai năm 2013). Tuy nhiên, việc lập kế hoạch sử dụng đất lại phụ thuộc vào quy hoạch; mặt khác, đối với đất trồng lúa khi CMĐSD phải thực hiện nghĩa vụ tài chính để bảo vệ tính chất cần giữ ổn định loại đất này lại chưa được nêu ra tại căn cứ CMĐSD đất.

Thứ hai, về điều kiện đầu tư hiện còn nhiều vấn đề chung chung, gây nhiều cách hiểu khác nhau và dẫn đến lúng túng trong quá trình áp dụng như: (i) Chưa có cơ sở khoa học rõ ràng để xác định chủ thể nào, loại đất chuyển đi, loại đất chuyển đến nào với diện tích bao nhiêu thì khi CMĐSD đất cần điều kiện cụ thể gì hay chưa có cơ sở để xác định điều kiện tài chính gắn với quy mô đất hay với loại đất…; (ii) Quy định về CMĐSD đất trồng lúa của hộ gia đình, cá nhân còn thiếu tính linh hoạt, gây khó khăn trong triển khai thực tế.

Thứ ba, quy định nghĩa vụ tài chính đối với hoạt động CMĐSD đất còn chưa hợp lý, gây nhiều khó khăn đối với chủ thể sử dụng đất: (i) Nghĩa vụ tài chính về đất đai bị quy định “phân tán” trong quá nhiều văn bản, “gián tiếp” dẫn đến thiếu minh bạch; (ii) Cơ chế, chính sách cho người trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp khi đất bị CMĐSD chưa đầy đủ, bao quát, hiện mới dừng lại ở việc đào tạo nghề, chuyển đổi nghề trong khi cần thêm các chính sách khác như hỗ trợ vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi hay tổ chức triển khai các dự án sinh kế cho người dân bị chuyển đổi đất.

Thứ tư, thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch về CMĐSD đất nói chung chưa đáp ứng yêu cầu, việc xác định cụ thể diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ.

2. Đề xuất sửa đổi và hoàn thiện quy định về CMĐSD đất trồng lúa tại Luật Đất đai năm 2013

Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao đã xác định mục tiêu: “Đến năm 2023 phải hoàn thành sửa đổi Luật Đất đai năm 2013 và một số luật liên quan, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất”[4]. Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi (dự thảo Luật) lần này cần được hoàn thiện các quy định về CMĐSD đất trồng lúa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia một cách bền vững, quản lý hài hòa, giữ diện tích đất nông nghiệp ổn định, bảo đảm quyền lợi cho người sử dụng đất nông nghiệp[5], trong đó trọng tâm là một số quy định sau:

Thứ nhất, bổ sung khái niệm CMĐSD đất nông nghiệp vào một khoản của Điều 3 dự thảo Luật[6] để thống nhất áp dụng trong quá trình tổ chức thực hiện, là căn cứ quan trọng để phân biệt giữa CMĐSD đất nông nghiệp với chuyển đổi quyền sử dụng đất nói chung và quyền sử dụng đất nông nghiệp nói riêng, cụ thể: “Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp là việc thay đổi mục đích sử dụng từ loại đất nông nghiệp này sang loại đất khác phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của Luật này”.

Thứ hai, bổ sung hành vi bị nghiêm cấm: “Chuyển mục đích sử dụng đất trái phép” tại Điều 11 dự thảo Luật, nhằm tăng cường công tác quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc CMĐSD đất trồng lúa.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 15 (Trách nhiệm của Nhà nước đối với người sử dụng đất) dự thảo Luật: “Có chính sách tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không có đất sản xuất do quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế được vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi, đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, tạo sinh kế, tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập”.

Thứ tư, bổ sung cụm từ “chuyển mục đích sử dụng đất”, “quy hoạch vùng được chuyển đổi”, “được lấy ý kiến khi quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất” vào điểm a khoản 1 Điều 24 (Quyền tiếp cận thông tin đất đai) dự thảo Luật nhằm minh bạch, công khai thông tin cho người có liên quan đến việc CMĐSD đất, nhất là CMĐSD đất nông nghiệp, khắc phục hạn chế thời gian qua, nhiều người dân không được tiếp cận thông tin này, giảm thiểu khiếu nại, khiếu kiện về đất đai.

Thứ năm, thay cụm từ “giúp đỡ” thành “hỗ trợ” để viết thành “được Nhà nước hướng dẫn và hỗ trợ trong việc cải tạo, phục hồi đất nông nghiệp” tại khoản 5; bổ sung một khoản quy định quyền chung của người sử dụng đất “được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật” tại Điều 26 (Quyền chung của người sử dụng đất) dự thảo Luật.

Thứ sáu, đề nghị sửa đổi Điều 117 (Căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép CMĐSD đất), Điều 123 (Điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép CMĐSD đất) và 124 (Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép CMĐSD đất) dự thảo Luật theo hướng quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc CMĐSD đất, đặc biệt là đất trồng lúa được nêu tại Nghị quyết số 18-NQ/TW. Đề xuất cần phân định rõ thẩm quyền cho phép CMĐSD đất trồng lúa sang mục đích khác theo hướng tiếp tục giao thẩm quyền cho Thủ tướng Chính phủ trong việc chấp thuận các trường hợp CMĐSD đất lúa nhưng với hạn mức cao hơn so với Luật Đất đai hiện hành, từ 10 ha trở lên thành từ 20 ha trở lên.

Trong trường hợp dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) thể hiện theo phương án này thì đề nghị rà soát để sửa đổi các điều, khoản có liên quan cho thống nhất (Điều 123, điểm b khoản 2 Điều 261). Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể đối với các trường hợp CMĐSD đất trồng lúa của hộ gia đình, cá nhân có diện tích nhỏ (dưới 0,5 ha), đảm bảo nhu cầu sử dụng đất linh hoạt, kịp thời.

- Xác định cụ thể diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt.

Trừ diện tích đất chuyên trồng lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt, đối với diện tích đất trồng lúa khác khi chuyển sang mục đích khác phải có quy định chặt chẽ, ràng buộc trách nhiệm của chủ đầu tư khi thực hiện dự án. Theo đó, cần bổ sung vào Điều 123 dự thảo Luật quy định điều kiện CMĐSD đất (không giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này), cụ thể:

(i) Không được CMĐSD đất trồng lúa sang phi nông nghiệp sau khi đã được tích tụ, tập trung, (nhất là thực hiện dự án đầu tư) nhằm khuyến khích đầu tư sản xuất nông nghiệp chân chính, hiệu quả, tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư vào nông nghiệp.

(ii) Có báo cáo đánh giá tính hiệu quả, khả thi của dự án gắn trách nhiệm của chủ dự án với cộng đồng; đồng thời, bổ sung các điều kiện thu hồi khi không thực hiện dự án đúng tiến độ cho phép; không làm ảnh hưởng đến sản xuất, canh tác, các điều kiện về thủy lợi, đi lại của người dân; có quy định về quy mô dự án gắn với điều kiện về tài chính. Điều này sẽ đảm bảo tính khả thi của dự án.

(iii) Xây dựng và thực thi phương án bóc tách tầng đất mặt của đất chuyên trồng lúa khi xây dựng công trình, không loại trừ bất kỳ dự án nào kể cả dự án đầu tư công, vì tầng đất mặt của đất trồng lúa là đất tốt, giàu dinh dưỡng, mất hằng trăm năm để hình thành do đó cần bảo vệ và sử dụng vào mục đích nông nghiệp.

(iv) Nộp một khoản tiền bảo vệ và phát triển đất trồng lúa để Nhà nước bổ sung diện tích đất chuyên trồng lúa nước bị mất hoặc tăng hiệu quả sử dụng đất trồng lúa. Hiện nay, số tiền này đang được các tỉnh sử dụng cho các mục đích bảo vệ, phục hồi diện tích đất trồng lúa bị thoái hóa, hỗ trợ trực tiếp cho bà con trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong trồng lúa…, tuy nhiên, số tiền này chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của bà con trồng lúa, do đó, đề nghị tính toán số tiền phải nộp trên cơ sở giá trị hiệu quả của dự án.

Thứ bảy, sửa đổi một số khoản tại Điều 183 (Đất trồng lúa) dự thảo Luật:

- Sửa đổi, bổ sung khoản 4 “Nhà nước có chính sách bảo vệ đất trồng lúa, nhất là đất chuyên trồng lúa nước. Không được chuyển mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước tại khu vực quản lý nghiêm ngặt theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trừ trường hợp đặc biệt quan trọng cần thu hồi đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định và công trình hạ tầng phục vụ quản lý chặt chẽ các khu vực này, đất chuyên trồng lúa được hình thành từ quá trình tập trung, tích tụ ruộng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hạn chế chuyển đất chuyên trồng lúa sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp”[7].

- Bổ sung điểm d khoản 5 như sau “có chính sách hỗ trợ cho nhóm người yếu thế thuộc diện bị thu hồi đất trồng lúa” ngoài hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm như người già, người tàn tật, người có công, phụ nữ và trẻ em, người dân ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ tám, sửa đổi khoản 1 Điều 251, cụ thể là điểm e khoản 2 Điều 24 Luật Quy hoạch, đề nghị bổ sung đất trồng lúa là đối tượng phải được khoanh vùng trong khu vực sử dụng đất cần quản lý nghiêm ngặt. Vì hiện dự thảo Luật mới chỉ đề cập đến đối tượng chỉ tiêu là đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất; trong khi đất chuyên trồng lúa là đất màu mỡ, phục vụ sản xuất nông nghiệp hiệu quả, cần bảo vệ nghiêm ngặt và cần thể hiện từ chỉ tiêu trong nội dung quy hoạch sử dụng đất quốc gia làm cơ sở cho việc thực hiện quy hoạch từng thời kỳ, hay tiêu chí, điều kiện CMĐSD.

Thứ chín là bổ sung trách nhiệm của cơ quan nông nghiệp và phát triển nông thôn trong việc tham gia phối hợp với cơ quan tài nguyên và môi trường thẩm định các điều kiện CMĐSD đất trồng lúa sang mục đích khác tại khoản 2 Điều 227 dự thảo Luật nhằm quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan nông nghiệp và phát triển nông thôn - cơ quan chuyên môn có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về sử dụng đất trồng lúa... đảm bảo sử dụng hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người trồng lúa.

ThS. Nguyễn Thị Kim Anh

Ủy viên Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường

ThS. Nguyễn Thị Mai Hiên

Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

[1]. Kiểm kê đất đai 2019: Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển biến tích cực, hướng vào phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng, miền (2021).

[2]. Điều 57 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Điều 176 Luật Đất đai năm 2013.

[4]. Nghị quyết số 18- NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao đã xác định mục tiêu, https://dangcongsan.org.vn/.

[5]. Nguyễn Thị Kim Anh, Bảo đảm quyền và lợi ích của nông dân khi đất lúa bị chuyển đổi mục đích, Báo Nông nghiệp Việt Nam.

[6]. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phiên họp tháng 9 năm 2023.

[7]. Sửa đổi căn cứ Kết luận số 81-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030 yêu cầu “bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất lúa được quy hoạch”; khuyến khích, có cơ chế bảo vệ việc tích tụ, tập trung ruộng đất, phát triển các vùng chuyên canh trồng lúa nước quy mô lớn trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của thị trường, nguồn: https://dangcongsan.org.vn/, truy cập ngày 01/03/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.
Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Hiện, Bộ Tư pháp đang dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật). Trong chế định tương trợ tư pháp về dân sự, thuật ngữ “ủy thác tư pháp” được sử dụng tương đối phổ biến. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “ủy thác tư pháp” để thiết lập các quy phạm điều chỉnh lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự là không phù hợp và dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này là hợp lý.
Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật tương trợ tư pháp về dân sự trong giai đoạn mới

Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật tương trợ tư pháp về dân sự trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng trên mọi mặt của đời sống xã hội, hoạt động TTTP về dân sự đòi hỏi có những bước phát triển mới phù hợp với bối cảnh, điều kiện và tình hình mới trong nước và quốc tế.
Điểm mới tại dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự kỳ vọng giải quyết nhiều vướng mắc, bất cập hiện nay

Điểm mới tại dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự kỳ vọng giải quyết nhiều vướng mắc, bất cập hiện nay

Sáng ngày 27/10/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của 04 dự thảo: Luật Dẫn độ; Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Luật Tương trợ tư pháp về hình sự; Luật Tương trợ tư pháp về dân sự. Trong đó có nhiều điểm mới quan trọng góp phần giải quyết những vướng mắc, bất cập trong hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự.
Xây dựng và hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao năng lực, hiệu quả thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao năng lực, hiệu quả thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, hệ thống pháp luật Việt Nam cần phải đáp ứng các yêu cầu cốt lõi, mang tính chiến lược nhằm phát huy tối đa vai trò của pháp luật trong sự phát triển của đất nước.
Hoàn thiện pháp luật về hình sự, hành chính, tổ chức bộ máy đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về hình sự, hành chính, tổ chức bộ máy đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Sự phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đặt ra những yêu cầu mới, mang tính nền tảng và chiến lược đối với công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để tạo động lực cho sự phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước, làm tiền đề vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển bứt phá, giàu mạnh, hùng cường dưới sự lãnh đạo của Đảng thì hoàn thiện pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật hình sự, hành chính và tổ chức bộ máy nói riêng là yêu cầu tất yếu.
Phát huy truyền thống - Bộ, ngành Tư pháp tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy truyền thống - Bộ, ngành Tư pháp tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Từ những ngày đầu kiến tạo nền Tư pháp dân chủ Nhân dân cho đến nay, chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp có những thay đổi và bước phát triển thăng trầm khác nhau nhưng về cơ bản, với hệ thống tổ chức đồng bộ từ trung ương đến địa phương, vị thế, vai trò của Bộ, ngành Tư pháp ngày càng được khẳng định, xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát triển nền Tư pháp Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực trong công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, bảo vệ biên giới, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước.
Sửa đổi Luật Viên chức hướng tới xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, phục vụ Nhân dân

Sửa đổi Luật Viên chức hướng tới xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, phục vụ Nhân dân

Dự thảo Luật Viên chức (sửa đổi) được Bộ Nội vụ xây dựng có nhiều điểm mới quan trọng hướng tới mô hình quản trị chuyên nghiệp, hiện đại trong đơn vị sự nghiệp; xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, có trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, năng động, phục vụ tốt cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.
Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu bài viết "Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới" trong ấn phẩm 200 trang "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong giai đoạn mới" xuất bản tháng 7/2025.

Theo dõi chúng tôi trên: