Thứ sáu 10/04/2026 15:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa tại Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Bài viết nêu ra một số bất cập trong pháp luật và các định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định về chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa tại Luật Đất đai năm 2013 theo hướng khoa học, phù hợp với thực tiễn.

1. Thực trạng quy định về chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa tại Luật Đất đai năm 2013

Pháp luật về chuyển mục đích sử dụng (sau đây viết tắt là CMĐSD) đất nông nghiệp được quy định từ Luật Đất đai năm 1987, đến nay là Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do trung ương và địa phương ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tổ chức thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai nói chung, hoạt động CMĐSD đất trồng lúa nói riêng và các chủ thể có nhu cầu thực hiện theo mục đích và nguyện vọng trong quá trình sử dụng đất; diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên, làm tăng giá trị của đất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần cơ cấu hợp lý giữa công nghiệp và nông nghiệp và trong chính cơ cấu ngành nông nghiệp[1].

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhiều vấn đề thực tiễn phát sinh mà hệ thống pháp luật về CMĐSD đất nông nghiệp chưa đáp ứng được, dẫn đến những bất cập, hạn chế về thể chế có thể nêu ra dưới đây:

1.1. Về các trường hợp CMĐSD đất nông nghiệp

Thứ nhất, nội hàm về CMĐSD đất chưa được làm rõ trong pháp luật đất đai hiện hành, chưa bao quát được hết các trường hợp CMĐSD đất.

Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 đưa ra định nghĩa cụ thể về giao đất (khoản 7), cho thuê đất (khoản 8) nhưng lại không có quy định về CMĐSD đất. Vì vậy, khi triển khai các quy định liên quan đến CMĐSD đất gặp khá nhiều bất cập, vướng mắc. Cụ thể, Điều 57 Luật Đất đai năm 2013 quy định về các trường hợp CMĐSD đất gồm có 07 trường hợp[2] trong khi nghiên cứu quy định tại khoản 4 Điều 176 Luật Đất đai năm 2013[3] về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép CMĐSD đất từ đất không thu tiền sử dụng đất sang đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất. Đây chính là trường hợp còn thiếu tại Điều 57 Luật Đất đai năm 2013.

Thứ hai, về chủ thể là người sử dụng đất trong quan hệ CMĐSD đất chưa rõ ràng, chưa phù hợp.

Tại Điều 59 Luật Đất đai năm 2013 chỉ quy định 2 nhóm chủ thể là tổ chức và hộ gia đình, cá nhân được CMĐSD đất. Trong khi đó quy định tại Điều 127 Luật Đất đai năm 2013 lại cho thấy chủ thể CMĐSD đất được mở rộng tới cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam.

1.2. Về căn cứ, tiêu chí, điều kiện để CMĐSD đất trồng lúa

Thứ nhất, các quy định về căn cứ CMĐSD đất trồng lúa còn gây khó khăn trong thực tế triển khai như việc CMĐSD đất phải phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện đã phê duyệt (Điều 52 Luật Đất đai năm 2013). Tuy nhiên, việc lập kế hoạch sử dụng đất lại phụ thuộc vào quy hoạch; mặt khác, đối với đất trồng lúa khi CMĐSD phải thực hiện nghĩa vụ tài chính để bảo vệ tính chất cần giữ ổn định loại đất này lại chưa được nêu ra tại căn cứ CMĐSD đất.

Thứ hai, về điều kiện đầu tư hiện còn nhiều vấn đề chung chung, gây nhiều cách hiểu khác nhau và dẫn đến lúng túng trong quá trình áp dụng như: (i) Chưa có cơ sở khoa học rõ ràng để xác định chủ thể nào, loại đất chuyển đi, loại đất chuyển đến nào với diện tích bao nhiêu thì khi CMĐSD đất cần điều kiện cụ thể gì hay chưa có cơ sở để xác định điều kiện tài chính gắn với quy mô đất hay với loại đất…; (ii) Quy định về CMĐSD đất trồng lúa của hộ gia đình, cá nhân còn thiếu tính linh hoạt, gây khó khăn trong triển khai thực tế.

Thứ ba, quy định nghĩa vụ tài chính đối với hoạt động CMĐSD đất còn chưa hợp lý, gây nhiều khó khăn đối với chủ thể sử dụng đất: (i) Nghĩa vụ tài chính về đất đai bị quy định “phân tán” trong quá nhiều văn bản, “gián tiếp” dẫn đến thiếu minh bạch; (ii) Cơ chế, chính sách cho người trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp khi đất bị CMĐSD chưa đầy đủ, bao quát, hiện mới dừng lại ở việc đào tạo nghề, chuyển đổi nghề trong khi cần thêm các chính sách khác như hỗ trợ vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi hay tổ chức triển khai các dự án sinh kế cho người dân bị chuyển đổi đất.

Thứ tư, thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch về CMĐSD đất nói chung chưa đáp ứng yêu cầu, việc xác định cụ thể diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ.

2. Đề xuất sửa đổi và hoàn thiện quy định về CMĐSD đất trồng lúa tại Luật Đất đai năm 2013

Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao đã xác định mục tiêu: “Đến năm 2023 phải hoàn thành sửa đổi Luật Đất đai năm 2013 và một số luật liên quan, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất”[4]. Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi (dự thảo Luật) lần này cần được hoàn thiện các quy định về CMĐSD đất trồng lúa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia một cách bền vững, quản lý hài hòa, giữ diện tích đất nông nghiệp ổn định, bảo đảm quyền lợi cho người sử dụng đất nông nghiệp[5], trong đó trọng tâm là một số quy định sau:

Thứ nhất, bổ sung khái niệm CMĐSD đất nông nghiệp vào một khoản của Điều 3 dự thảo Luật[6] để thống nhất áp dụng trong quá trình tổ chức thực hiện, là căn cứ quan trọng để phân biệt giữa CMĐSD đất nông nghiệp với chuyển đổi quyền sử dụng đất nói chung và quyền sử dụng đất nông nghiệp nói riêng, cụ thể: “Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp là việc thay đổi mục đích sử dụng từ loại đất nông nghiệp này sang loại đất khác phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của Luật này”.

Thứ hai, bổ sung hành vi bị nghiêm cấm: “Chuyển mục đích sử dụng đất trái phép” tại Điều 11 dự thảo Luật, nhằm tăng cường công tác quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc CMĐSD đất trồng lúa.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 15 (Trách nhiệm của Nhà nước đối với người sử dụng đất) dự thảo Luật: “Có chính sách tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không có đất sản xuất do quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế được vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi, đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, tạo sinh kế, tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập”.

Thứ tư, bổ sung cụm từ “chuyển mục đích sử dụng đất”, “quy hoạch vùng được chuyển đổi”, “được lấy ý kiến khi quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất” vào điểm a khoản 1 Điều 24 (Quyền tiếp cận thông tin đất đai) dự thảo Luật nhằm minh bạch, công khai thông tin cho người có liên quan đến việc CMĐSD đất, nhất là CMĐSD đất nông nghiệp, khắc phục hạn chế thời gian qua, nhiều người dân không được tiếp cận thông tin này, giảm thiểu khiếu nại, khiếu kiện về đất đai.

Thứ năm, thay cụm từ “giúp đỡ” thành “hỗ trợ” để viết thành “được Nhà nước hướng dẫn và hỗ trợ trong việc cải tạo, phục hồi đất nông nghiệp” tại khoản 5; bổ sung một khoản quy định quyền chung của người sử dụng đất “được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật” tại Điều 26 (Quyền chung của người sử dụng đất) dự thảo Luật.

Thứ sáu, đề nghị sửa đổi Điều 117 (Căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép CMĐSD đất), Điều 123 (Điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép CMĐSD đất) và 124 (Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép CMĐSD đất) dự thảo Luật theo hướng quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc CMĐSD đất, đặc biệt là đất trồng lúa được nêu tại Nghị quyết số 18-NQ/TW. Đề xuất cần phân định rõ thẩm quyền cho phép CMĐSD đất trồng lúa sang mục đích khác theo hướng tiếp tục giao thẩm quyền cho Thủ tướng Chính phủ trong việc chấp thuận các trường hợp CMĐSD đất lúa nhưng với hạn mức cao hơn so với Luật Đất đai hiện hành, từ 10 ha trở lên thành từ 20 ha trở lên.

Trong trường hợp dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) thể hiện theo phương án này thì đề nghị rà soát để sửa đổi các điều, khoản có liên quan cho thống nhất (Điều 123, điểm b khoản 2 Điều 261). Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể đối với các trường hợp CMĐSD đất trồng lúa của hộ gia đình, cá nhân có diện tích nhỏ (dưới 0,5 ha), đảm bảo nhu cầu sử dụng đất linh hoạt, kịp thời.

- Xác định cụ thể diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt.

Trừ diện tích đất chuyên trồng lúa cần bảo vệ nghiêm ngặt, đối với diện tích đất trồng lúa khác khi chuyển sang mục đích khác phải có quy định chặt chẽ, ràng buộc trách nhiệm của chủ đầu tư khi thực hiện dự án. Theo đó, cần bổ sung vào Điều 123 dự thảo Luật quy định điều kiện CMĐSD đất (không giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này), cụ thể:

(i) Không được CMĐSD đất trồng lúa sang phi nông nghiệp sau khi đã được tích tụ, tập trung, (nhất là thực hiện dự án đầu tư) nhằm khuyến khích đầu tư sản xuất nông nghiệp chân chính, hiệu quả, tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư vào nông nghiệp.

(ii) Có báo cáo đánh giá tính hiệu quả, khả thi của dự án gắn trách nhiệm của chủ dự án với cộng đồng; đồng thời, bổ sung các điều kiện thu hồi khi không thực hiện dự án đúng tiến độ cho phép; không làm ảnh hưởng đến sản xuất, canh tác, các điều kiện về thủy lợi, đi lại của người dân; có quy định về quy mô dự án gắn với điều kiện về tài chính. Điều này sẽ đảm bảo tính khả thi của dự án.

(iii) Xây dựng và thực thi phương án bóc tách tầng đất mặt của đất chuyên trồng lúa khi xây dựng công trình, không loại trừ bất kỳ dự án nào kể cả dự án đầu tư công, vì tầng đất mặt của đất trồng lúa là đất tốt, giàu dinh dưỡng, mất hằng trăm năm để hình thành do đó cần bảo vệ và sử dụng vào mục đích nông nghiệp.

(iv) Nộp một khoản tiền bảo vệ và phát triển đất trồng lúa để Nhà nước bổ sung diện tích đất chuyên trồng lúa nước bị mất hoặc tăng hiệu quả sử dụng đất trồng lúa. Hiện nay, số tiền này đang được các tỉnh sử dụng cho các mục đích bảo vệ, phục hồi diện tích đất trồng lúa bị thoái hóa, hỗ trợ trực tiếp cho bà con trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong trồng lúa…, tuy nhiên, số tiền này chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của bà con trồng lúa, do đó, đề nghị tính toán số tiền phải nộp trên cơ sở giá trị hiệu quả của dự án.

Thứ bảy, sửa đổi một số khoản tại Điều 183 (Đất trồng lúa) dự thảo Luật:

- Sửa đổi, bổ sung khoản 4 “Nhà nước có chính sách bảo vệ đất trồng lúa, nhất là đất chuyên trồng lúa nước. Không được chuyển mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước tại khu vực quản lý nghiêm ngặt theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trừ trường hợp đặc biệt quan trọng cần thu hồi đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định và công trình hạ tầng phục vụ quản lý chặt chẽ các khu vực này, đất chuyên trồng lúa được hình thành từ quá trình tập trung, tích tụ ruộng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hạn chế chuyển đất chuyên trồng lúa sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp”[7].

- Bổ sung điểm d khoản 5 như sau “có chính sách hỗ trợ cho nhóm người yếu thế thuộc diện bị thu hồi đất trồng lúa” ngoài hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm như người già, người tàn tật, người có công, phụ nữ và trẻ em, người dân ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ tám, sửa đổi khoản 1 Điều 251, cụ thể là điểm e khoản 2 Điều 24 Luật Quy hoạch, đề nghị bổ sung đất trồng lúa là đối tượng phải được khoanh vùng trong khu vực sử dụng đất cần quản lý nghiêm ngặt. Vì hiện dự thảo Luật mới chỉ đề cập đến đối tượng chỉ tiêu là đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất; trong khi đất chuyên trồng lúa là đất màu mỡ, phục vụ sản xuất nông nghiệp hiệu quả, cần bảo vệ nghiêm ngặt và cần thể hiện từ chỉ tiêu trong nội dung quy hoạch sử dụng đất quốc gia làm cơ sở cho việc thực hiện quy hoạch từng thời kỳ, hay tiêu chí, điều kiện CMĐSD.

Thứ chín là bổ sung trách nhiệm của cơ quan nông nghiệp và phát triển nông thôn trong việc tham gia phối hợp với cơ quan tài nguyên và môi trường thẩm định các điều kiện CMĐSD đất trồng lúa sang mục đích khác tại khoản 2 Điều 227 dự thảo Luật nhằm quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan nông nghiệp và phát triển nông thôn - cơ quan chuyên môn có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về sử dụng đất trồng lúa... đảm bảo sử dụng hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người trồng lúa.

ThS. Nguyễn Thị Kim Anh

Ủy viên Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường

ThS. Nguyễn Thị Mai Hiên

Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

[1]. Kiểm kê đất đai 2019: Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển biến tích cực, hướng vào phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng, miền (2021).

[2]. Điều 57 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Điều 176 Luật Đất đai năm 2013.

[4]. Nghị quyết số 18- NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao đã xác định mục tiêu, https://dangcongsan.org.vn/.

[5]. Nguyễn Thị Kim Anh, Bảo đảm quyền và lợi ích của nông dân khi đất lúa bị chuyển đổi mục đích, Báo Nông nghiệp Việt Nam.

[6]. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phiên họp tháng 9 năm 2023.

[7]. Sửa đổi căn cứ Kết luận số 81-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030 yêu cầu “bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất lúa được quy hoạch”; khuyến khích, có cơ chế bảo vệ việc tích tụ, tập trung ruộng đất, phát triển các vùng chuyên canh trồng lúa nước quy mô lớn trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của thị trường, nguồn: https://dangcongsan.org.vn/, truy cập ngày 01/03/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.

Theo dõi chúng tôi trên: