Thứ ba 12/05/2026 21:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sửa đổi Luật Viên chức hướng tới xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, phục vụ Nhân dân

Dự thảo Luật Viên chức (sửa đổi) được Bộ Nội vụ xây dựng có nhiều điểm mới quan trọng hướng tới mô hình quản trị chuyên nghiệp, hiện đại trong đơn vị sự nghiệp; xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, có trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, năng động, phục vụ tốt cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của người dân, doanh nghiệp.

Qua hơn 12 năm thực hiện Luật Viên chức năm 2010, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2019 (Luật Viên chức) đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong quản lý viên chức, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập; từng bước được hoàn thiện, đổi mới đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Tuy nhiên, để thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị trong phát triển đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời giải quyết bất cập, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành, cần thiết phải xây dựng, ban hành Luật Viên chức (sửa đổi) (dự thảo Luật).

Dự thảo Luật gồm 06 chương, 42 điều (giảm 20 điều so với Luật hiện hành), với nhiều điểm mới đáng chú ý. Trong đó, đặc biệt, các nội dung sửa đổi, bổ sung về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức, quyền, nghĩa vụ của viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập tạo hành lang pháp lý đồng bộ, hiện đại hóa công tác quản lý viên chức theo hướng năng động, minh bạch, hiệu quả, bảo đảm nguyên tắc sử dụng đúng người, đúng việc, phát huy tối đa năng lực của viên chức, tạo cơ chế trong thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời sàng lọc những trường hợp không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, hướng tới mô hình quản trị chuyên nghiệp, hiện đại trong đơn vị sự nghiệp, góp phần xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, có trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, năng động, phục vụ tốt cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của người dân, doanh nghiệp; mặt khác, việc sửa đổi các nội dung này phù hợp, thống nhất trong quản lý đội ngũ công chức, viên chức.

Một số nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng tại dự thảo Luật cụ thể như sau:

Bổ sung căn cứ “tính chất của sản phẩm cung cấp” làm cơ sở để phân loại đơn vị sự nghiệp công lập

Về chính sách phát triển đơn vị sự nghiệp công lập, Điều 5 dự thảo Luật đã sửa đổi Điều 9 và Điều 10 Luật hiện hành. Trong đó, điểm a khoản Điều 5 dự thảo Luật bổ sung quy định phân loại đơn vị sự nghiệp công lập “theo lĩnh vực cung cấp bao gồm đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công thiết yếu và đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công không thiết yếu”.

Việc phân loại mô hình đơn vị sự nghiệp theo Luật hiện hành chủ yếu căn cứ vào mức độ tự chủ về tài chính mà chưa căn cứ vào tính chất của sản phẩm cung cấp làm cơ sở để xác định mô hình, lĩnh vực hoạt động, trên cơ sở đó xây dựng các quy định quản lý đội ngũ. Việc phân loại theo loại hình đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công thiết yếu và đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công không thiết yếu là cần thiết để xác định trách nhiệm của Nhà nước nhằm tập trung đầu tư, quy hoạch, quản lý, tránh việc dàn trải trên quá nhiều lĩnh vực, đồng thời thực hiện đúng chủ trương Nhà nước tập trung vào cung cấp những lĩnh vực chủ yếu, quan trọng phục vụ người dân, phục vụ xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và không vì mục tiêu lợi nhuận

Bỏ quy định “tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp” là căn cứ để tuyển dụng, bảo đảm việc tuyển dụng theo yêu cầu của vị trí việc làm

Khoản 3 Điều 6 Luật Viên chức quy định, “việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức được thực hiện trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và căn cứ vào hợp đồng làm việc”; Điều 20 Luật này quy định, “việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập”. Như vậy, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp là một trong những cơ sở, căn cứ để tuyển dụng viên chức.

Tuy nhiên, dự thảo Luật đã bỏ quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp là căn cứ để tuyển dụng và quy định rõ việc quản lý, tuyển dụng viên chức phải căn cứ yêu cầu vị trí việc làm, cụ thể như sau: Nguyên tắc quản lý viên chức “thực hiện quản lý theo vị trí việc làm gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra và đóng góp phục vụ người dân, xã hội” (khoản 3 Điều 3); “việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào vị trí việc làm và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập” (Điều 15).

Theo dự thảo Luật, chức danh nghề nghiệp viên chức là một trong những nội dung cơ bản của vị trí việc làm (khoản 2 Điều 22). Đồng thời, vị trí việc làm được phân loại gồm: (i) Vị trí việc làm quản lý; (ii) Vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành và chuyên môn, nghiệp vụ dùng chung; (iii) Vị trí việc làm hỗ trợ, phục vụ; (iv) Vị trí việc làm khác phù hợp với mô hình tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập (khoản 3 Điều 22).

Đa dạng phương thức tuyển dụng viên chức

Dự thảo Luật quy định có sự đổi mới trong công tác tuyển dụng viên chức nhằm xây dựng cơ chế quản trị đội ngũ trên cơ sở phân định rõ theo lĩnh vực cung cấp dịch vụ công thiết yếu hoặc cung cấp dịch vụ công không thiết yếu. Đối với đơn vị sự nghiệp không cung cấp dịch vụ công thiết yếu sẽ hướng tới thực hiện việc tuyển dụng theo hướng ký hợp đồng.

Về phương thức tuyển dụng viên chức, Điều 23 Luật Viên chức quy định: Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển.

So với Luật Viên chức, dự thảo Luật Viên chức (sửa đổi) bổ sung hình thức tuyển dụng viên chức theo hướng ngoài phương thức thi tuyển, xét tuyển truyền thống thì bổ sung hình thức ký hợp đồng trực tiếp. Cụ thể, Điều 17 dự thảo quy định như sau: Việc tuyển dụng viên chức vào vị trí việc làm được thực hiện thông qua các phương thức, hình thức sau: (i) Thi tuyển; (ii) Xét tuyển; (iii) Ký hợp đồng trực tiếp đối với chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng phù hợp với lĩnh vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập. Ngoài ra, cơ quan, đơn vị quản lý viên chức quyết định tiếp nhận vào làm viên chức đối với người có kinh nghiệm đáp ứng ngay yêu cầu của vị trí việc làm đang làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị ngoài khu vực công lập.

Dự thảo Luật sửa đổi trên cơ sở kế thừa quy định hiện hành, đa dạng hóa phương thức tuyển dụng, đồng thời, thể chế chủ trương của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân, Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hội nhập quốc tế”.

Việc mở rộng các quy định về ký hợp đồng trực tiếp, tiếp nhận như tại dự thảo Luật Viên chức (sửa đổi) để tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi từ khu vực tư sang khu vực công và ngược lại theo yêu cầu công việc và theo năng lực thực tế trong môi trường cạnh tranh, công khai, minh bạch, bình đẳng. Việc đa dạng phương thức tuyển dụng tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị sự nghiệp chủ động trong công tác tuyển dụng viên chức, hướng tới mô hình quản trị chuyên nghiệp, hiện đại.

Bên cạnh đó, dự thảo Luật còn sửa đổi, bổ sung quy định điều kiện đăng ký dự tuyển “có quốc tịch là quốc tịch Việt Nam; trường hợp có quốc tịch Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài hoặc có quốc tịch nước ngoài đang sinh sống tại Việt Nam thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền”, trong khi Luật hiện hành yêu cầu phải “có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam”; bổ sung quy định “ứng dụng khoa học công nghệ trong quá trình tuyển dụng; tích hợp với dữ liệu quản lý đội ngũ viên chức thống nhất trong từng ngành, lĩnh vực”; quy định về chế độ tập sự người trúng tuyển viên chức phải thực hiện chế độ tập sự, “trừ trường hợp không phải thực hiện tập sự”, trong khi Luật hiện hành quy định “trừ trường hợp đã có thời gian từ đủ 12 tháng trở lên thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm được tuyển dụng”.

Bổ sung quyền của viên chức về hoạt động nghề nghiệp

So với quy định của Luật Viên chức, dự thảo Luật bổ sung một số quyền của viên chức về hoạt động nghề nghiệp như sau:

- Được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật. Bổ sung để bảo đảm phù hợp với quyền của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động.

- Được quyền ký hợp đồng để thực hiện hoạt động nghề nghiệp tại các đơn vị sự nghiệp khác ngoài đơn vị sự nghiệp công lập hiện đang làm việc. Bổ sung để phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong sử dụng nguồn nhân lực.

- Được xem xét loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm theo quy định của pháp luật và của cấp có thẩm quyền. Bổ sung để phù hợp với thực tiễn quản lý; đồng thời, phù hợp với quy định tại Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

- Được thực hiện các quyền khác về hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật chuyên ngành và quy định của cấp có thẩm quyền. Bổ sung để phù hợp với pháp luật chuyên ngành.

Viên chức được tham gia thành lập, quản lý, điều hành doanh nghiệp

Về quyền của viên chức về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định, khoản 3 Điều 14 Luật Viên chức quy định “được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác”.

Tuy nhiên, dự thảo Luật (khoản 3 Điều 13) đã sửa đổi, bổ sung quy định này. Theo đó, viên chức “được tham gia góp vốn, tham gia thành lập, tham gia quản lý, điều hành, làm việc tại doanh nghiệp do đơn vị sự nghiệp mà mình đang làm việc thành lập hoặc tham gia thành lập để thương mại hóa kết quả nghiên cứu, khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ, các sáng chế và công nghệ số do tổ chức đó tạo ra; được cử sang làm việc tại các tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và các tổ chức khác trong thời gian nhất định; được góp vốn, thành lập, tham gia quản lý, điều hành hoặc tham gia phát triển công nghệ tại các doanh nghiệp trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật”. Riêng đối với “trường hợp viên chức là người đứng đầu phải được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền quản lý trực tiếp; trong thời gian làm việc ở các tổ chức này, viên chức được giữ chế độ lương và các chế độ, chính sách khác hiện hưởng, được quy hoạch, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng theo quy định”. Bổ sung để phù hợp với thực tiễn quản lý; đồng thời, phù hợp với quy định tại Nghị quyết số 193/2025/QH15.

Ngoài ra, để bảo đảm thống nhất với pháp luật chuyên ngành khác (nếu có quy định), khoản 4 dự thảo Luật bổ sung quy định viên chức “được thực hiện các quyền khác trong hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định theo quy định của pháp luật chuyên ngành và quy định của cấp có thẩm quyền”.

Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác đánh giá, sử dụng viên chức

Dự thảo Luật đã đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác đánh giá, sử dụng viên chức. Vấn đề này được thể hiện rõ nét tại Mục 3 về đánh giá viên chức của Chương III dự thảo Luật (Điều 25, Điều 26, Điều 27 dự thảo Luật), sửa đổi, bổ sung, lược bỏ các quy định tại Mục 6 về đánh giá viên chức của Chương III của Luật Viên chức trên cơ sở kế thừa quy định hiện hành, tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp và chỉ đạo của Tổng Bí thư “đánh giá cán bộ theo hướng thực chất;… sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín”; quy định trách nhiệm Bộ quản lý viên chức chuyên ngành xây dựng bộ công vụ và quy chế đánh giá mẫu áp dụng đối với viên chức thuộc ngành, lĩnh vực quản lý để phù hợp đặc thù hoạt động nghề nghiệp. Đồng thời, lược bỏ các nội dung khác liên quan về đánh giá để thể hiện đúng tinh thần quy định tại Luật nội dung thuộc thẩm quyền Quốc hội; các nội dung khác liên quan giao Chính phủ quy định chi tiết do không thuộc phạm vi quy định tại luật của Quốc hội. Theo đó:

Dự thảo Luật quy định: (i) Việc đánh giá phải bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan, xuyên suốt, liên tục, đa chiều; (ii) Nội dung đánh giá phải được định lượng trên cơ sở các tiêu chí gắn với kết quả, sản phẩm của từng vị trí việc làm; khả năng đổi mới, thích ứng với yêu cầu thực tiễn; đóng góp vào mục tiêu chung của đơn vị; (iii) Ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức; (iv) Bảo đảm sự linh hoạt, chủ động của đơn vị sự nghiệp trong việc xây dựng quy trình, quy định tiêu chí và triển khai đánh giá phù hợp với tính chất hoạt động, mô hình tổ chức của đơn vị; gắn với chế độ tiền lương, thưởng và chế độ, chính sách khác.

Bên cạnh đó, dự thảo Luật quy định thẩm quyền và quy trình xây dựng quy chế đánh giá. Cụ thể, người đứng đầu cơ quan, đơn vị sử dụng viên chức có trách nhiệm đánh giá hoặc phân cấp thẩm quyền đánh giá; Bộ quản lý chuyên ngành xây dựng bộ công cụ đánh giá và mẫu quy chế đánh giá; đơn vị sự nghiệp công lập xây dựng quy chế đánh giá áp dụng cho đơn vị mình, làm căn cứ pháp lý để thực hiện đánh giá, xếp loại chất lượng và thực hiện các chế độ chính sách.

Đồng thời, dự thảo Luật quy định giao quyền cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập xem xét, quyết định việc sàng lọc đối với viên chức không đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm trên cơ sở công khai, minh bạch, cạnh tranh.

Bổ sung quy định loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm đối với viên chức

Điều 32 dự thảo Luật bổ sung quy định loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm đối với viên chức nhằm thể chế hóa chủ trương bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Theo đó quy định: “1. Viên chức được xem xét loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm trong các trường hợp sau: a) Phải chấp hành quyết định trái pháp luật của cấp trên nhưng đã báo cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 8 của Luật này[1]; b) Đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, không vụ lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng vẫn gây ra thiệt hại vì lý do khách quan; c) Thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền cho phép và được cấp có thẩm quyền xác định đã thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung; d) Do bất khả kháng theo quy định của pháp luật; đ) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật và của cấp có thẩm quyền. 2. Việc loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm đối với viên chức được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan và của cấp có thẩm quyền”.

Uyên Nhi


  1. Khoản 5 Điều 8 về nghĩa vụ của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp: “5. Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định, trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải chấp hành, đồng thời báo cáo bằng văn bản với cấp trên trực tiếp của người ra quyết định và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: