Thứ tư 04/03/2026 14:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phổ biến thông tin, tri thức khoa học từ kết quả nghiên cứu nhiệm vụ khoa học của Bộ Tư pháp

Chiều ngày 13/3/2025, Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp đã tổ chức Tọa đàm khoa học “Phổ biến thông tin, tri thức khoa học từ kết quả nghiên cứu nhiệm vụ khoa học của Bộ Tư pháp” nhằm giới thiệu và thảo luận về các đề tài nghiên cứu khoa học mà Bộ Tư pháp đã triển khai và được nghiệm thu trong năm 2024. Đồng chí Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý chủ trì buổi Tọa đàm.

Toàn cảnh Tọa đàm.

Phát biểu khai mạc Tọa đàm, TS. Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý cho biết, nghiên cứu khoa học là sản xuất ra tri thức mới và có sự khác biệt lớn so với các ngành nghề khác. Tri thức mới phải đạt được mục đích là thay đổi quan điểm của người khác, đưa ra được những giải pháp mà xưa nay chưa được nhắc đến. Mặc dù gần đây, Đảng và Nhà nước đã quan tâm hơn đến hoạt động nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học cũng được trân trọng hơn. Tuy nhiên, làm khoa học đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, nhưng hiện nguồn lực dành cho khoa học ở Việt Nam còn khiêm tốn. Vì vậy, trong bối cảnh này, cần phải có các giải pháp để đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học được tốt hơn nữa.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Xây dựng khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát để tích cực, chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Tại Tọa đàm, các nhà khoa học đã báo cáo kết quả nghiên cứu các đề tài. Về đề tài “Xây dựng khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát để tích cực, chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, Chủ nhiệm đề tài cho biết, ở Việt Nam hiện nay chưa có khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát (hay còn gọi là sandbox), vì vậy, đề tài đã tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới dựa theo 04 nhóm gồm: (i) các quốc gia tiên phong trong việc thiết kế và vận hành sandbox, tiêu biểu là nước Anh. Đây là quốc gia đầu tiên ban hành sandbox; (ii) nhóm các quốc gia và vùng lãnh thổ có nhiều thành công trong việc thiết kế, vận hành sandbox như Hoa Kỳ, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc; (iii) nhóm các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi có nhiều điều kiện tương đồng với Việt Nam như Liên Bang Nga, Trung Quốc; (iv) nhóm các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, trong đó lấy Singapore làm mô hình điển hình. Trên cơ sở nghiên cứu về kinh nghiệm của các quốc gia và vùng lãnh thổ, đề tài đã rút ra được những đánh giá chung và bài học kinh nghiệm tập trung vào 09 nội dung: (i) định hướng xây dựng sandbox; (ii) chính sách và mô hình của sandbox; (iii) cơ quan quản lý nhà nước; (iv) quy trình, thủ tục xây dựng sandbox; (v) các chủ thể đăng ký tham gia; (vi) các tiêu chí tham gia; (vii) giới hạn, phạm vi; (viii) phương thức hỗ trợ giám sát; (ix) yêu cầu đánh giá kết thúc thử nghiệm.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay: Lý luận, thực trạng và giải pháp đổi mới”.

Về đề tài “Giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay: Lý luận, thực trạng và giải pháp đổi mới”, Chủ nhiệm đề tài đã báo cáo tổng quan kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ thống pháp luật hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế làm cho pháp luật chưa đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, do đó, cần phải đổi mới thể chế giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật tập trung vào nội dung sau: (i) mở rộng đối tượng giải thích; (ii) rõ ràng hóa phạm vi hướng dẫn áp dụng pháp luật; (iii) thống nhất thuật ngữ: “giải thích pháp luật”, “hướng dẫn áp dụng pháp luật”, “giải thích áp dụng pháp luật”, “hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật”; (iv) khi sửa Hiến pháp nên trao thêm thẩm quyền giải thích pháp luật cho Tòa án nhân dân; (v) nâng cao trách nhiệm giải trình; (vi) kiểm soát chặt chẽ nội dung giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật; (vii) luật hóa giá trị pháp lý của án lệ. Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng hoạt động giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật, cần tập trung vào 03 nội dung sau: (i) tăng cường kiểm soát: xây dựng tiêu chí đánh giá, thiết lập cơ quan chuyên trách đánh giá và giám sát; (ii) nâng cao trách nhiệm giải trình: công khai quy trình, phương pháp, cơ sở khoa học, thiết lập cơ chế tiếp nhận - phản hồi và xây dựng cơ sở dữ liệu trực tuyến tập trung về văn bản giải thích, hướng dẫn pháp luật; (iii) cần có sự tham gia của xã hội.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Các giải pháp nâng cao thứ hạng chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam”.

Đối với đề tài “Các giải pháp nâng cao thứ hạng chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam”, đại diện Ban chủ nhiệm cho biết, chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là một chỉ số thành phần thuộc Bộ Chỉ số GII, đánh giá về năng lực của Chính phủ trong việc xây dựng và thực thi chính sách, quy định pháp luật nhằm thúc đẩy cho sự phát triển của khu vực tư nhân (sản xuất - kinh doanh). Đây là Chỉ số quan trọng thuộc nhóm chỉ số về môi trường pháp lý, thuộc trụ cột thể chế, được xác định là một trong các yếu tố đầu vào của đổi mới sáng tạo, giá trị của Chỉ số càng cao thì điểm số và thứ hạng trong GII càng lớn; xếp hạng năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam càng tăng thì càng tạo đà để hoàn thành mục tiêu chung trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khơi thông nguồn lực trong xã hội, thu hút đầu tư và có ý nghĩa lớn đối với việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay”.

Đối với đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay”, các nhà khoa học thực hiện đề tài đã nhận diện được hạn chế và thách thức trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, từ đó đưa ra giải pháp, cụ thể: tăng cường sự quan tâm của các cấp chính quyền, bảo đảm nguồn lực đầu tư hợp lý; đa dạng hóa hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật: áp dụng công nghệ thông tin, truyền thông số, tài liệu song ngữ; xây dựng đội ngũ báo cáo viên pháp luật và tuyên truyền viên pháp luật là người dân tộc thiểu số hoặc biết tiếng dân tộc; tăng cường kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, điều chỉnh chiến lược kịp thời và kết hợp phổ biến, giáo dục pháp luật với giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, tăng cường sự thấu hiểu và đồng thuận xã hội.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài ở Việt Nam”.

Với đề tài “Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài ở Việt Nam”, các nhà khoa học đã nghiên cứu các bất cập trong quy định của pháp luật làm cho việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài ở Việt Nam chưa phát triển, như Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Nghị định số 22/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại chưa theo Luật mẫu của UNCITRAL; quy định của pháp luật về thẩm quyền, phạm vi giải quyết tranh chấp, căn cứ hủy phán quyết trọng tài,… chưa rõ, còn nhiều cách hiểu khác nhau gây khó khăn cho việc áp dụng, thực hiện trên thực tế; quá trình giải quyết có thể phát sinh một số vấn đề, nhất là việc hủy phán quyết trọng tài và sự can thiệp của hệ thống Tòa án vào việc giải quyết tranh chấp theo phương thức trọng tài làm cho các nhà đầu tư, các thương nhân “ái ngại”, làm cho hiệu lực giải quyết tranh chấp theo phương thức hòa giải và trọng tài chưa đạt chất lượng. Bên cạnh đó, một số nguyên nhân khác nhưng năng lực, trình độ của đội ngũ trọng tài viên và hòa giải viên chưa đáp ứng được yêu cầu cũng làm cho việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo phương thức hòa giải, trọng tài chưa nhiều, chưa hiệu quả.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về quyền con người, quyền công dân trên cơ sở thực tiễn 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013”.

Với đề tài “Hoàn thiện pháp luật về quyền con người, quyền công dân trên cơ sở thực tiễn 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013”, Chủ nhiệm đề tài đã báo cáo kết quả nghiên cứu, theo đó, đề tài đã đưa ra được một số giải pháp hoàn thiện như: (i) sửa đổi, bổ sung quy định của nguyên tắc chung về hạn chế quyền con người, quyền công dân; cần nghiên cứu để điều chỉnh lại các vấn đề còn “thiếu vắng” trong Hiến pháp năm 2013 như việc hạn chế quyền không được làm mất đi bản chất của quyền con người, quyền công dân, đồng thời cần giao Quốc hội kịp thời ban hành Nghị quyết giải thích các quy định của Hiến pháp liên quan đến nguyên tắc hạn chế quyền con người làm cơ sở để thể chế hóa nguyên tắc này trong pháp luật đối với các lĩnh vực cụ thể; (ii) hoàn thiện nội dung và kết cấu của Điều 15 Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc thống nhất giữa quyền con người với nghĩa vụ công dân; (iii) tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện một số quy định về quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp năm 2013; cần nghiên cứu việc tái quy định “nhân dân có quyền phúc quyết Hiến pháp”; nghiên cứu về việc ghi nhận đầy đủ nội hàm quyền riêng tư; (iv) cần nghiên cứu bổ sung một số quyền cơ bản về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa vào Hiến pháp năm 2013 theo quy định của hai công ước ICCPR và ICESCR mà Việt Nam đã tham gia, cụ thể như: quyền không bị bắt làm nô lệ và nô dịch (Điều 8 ICCPR); quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (Điều 11 ICCPR); quyền được thừa nhận là thể nhân trước pháp luật ở mọi nơi (Điều 16 ICCPR); quyền tự quyền tự do tư tưởng (Điều 18.1 ICCPR); quyền được giữ quan điểm riêng mà không bị can thiệp (Điều 19.1 ICCPR); quyền của người khuyết tật (Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật); quyền đình công, quyền thành lập, gia nhập công đoàn (khoản 1 Điều 8 ICESCR).

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Đối với đề tài “Hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, Chủ nhiệm đề tài cho biết, từ các chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cũng như định hướng xây dựng Chính phủ số, chính quyền số và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng, trong thời gian tới, pháp luật cần tiếp tục được hoàn thiện trên các phương diện sau:

Một là, bổ sung quy định một số khái niệm liên quan đến chuyển đổi số như công chứng giao dịch trên môi trường điện tử; môi trường điện tử; văn bản công chứng điện tử; hồ sơ công chứng điện tử; cơ sở dữ liệu công chứng; quy trình công chứng toàn trình; quy trình công chứng một phần;

Hai là, bổ sung quy định về việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về công chứng, chứng thực để thực hiện thống nhất trong cả nước; quy định việc tích hợp, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về công chứng, chứng thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, nhà ở, thuế, Tòa án, thi hành án, hộ tịch, đăng ký giao dịch bảo đảm để chia sẻ, kết nối các thông tin.

Ba là, bổ sung quy định về công chứng điện tử, bao gồm: (i) bổ sung quy định về nguyên tắc thực hiện công chứng giao dịch trên môi trường điện tử; (ii) bổ sung quy trình công chứng giao dịch trên môi trường điện tử.

Bốn là, sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm công chứng viên bảo đảm công chứng viên được bổ nhiệm ngoài việc đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, kinh nghiệm thực tiễn cần có đủ năng lực về ứng dụng tin học để thực hiện quy trình công chứng giao dịch trên môi trường điện tử.

Năm là, bổ sung quy định về hành vi nghiêm cấm “từ chối tiếp nhận văn bản công chứng điện tử trong các thủ tục hành chính, giao dịch mà thành phần hồ sơ có văn bản công chứng”.

Sáu là, bổ sung quy định về kiến thức, kỹ năng về việc thực hiện việc công chứng hợp đồng, giao dịch trên môi trường điện tử trong nội dung tập sự hành nghề công chứng và trong nội dung bồi dưỡng kiến thức bắt buộc hàng năm dành cho công chứng viên.

Bảy là, bổ sung quy định về thực hiện việc số hóa hồ sơ đã công chứng gồm 4 bước: bước 1: sao chụp giấy tờ, chuyển sang bản điện tử; bước 2: bóc tách dữ liệu; bước 3: cấp mã kết quả số hóa; bước 4: lưu kết quả số hóa. Việc thực hiện số hóa hồ sơ công chứng được thực hiện theo pháp luật về số hóa.

Tám là, sửa đổi, bổ sung quy định về quy trình, cách thức việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên bảo đảm thực hiện trên môi trường điện tử.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Lẽ công bằng trong điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự - Kinh nghiệm quốc tế và giá trị tham khảo cho Việt Nam”.

Về kết quả đề tài “Lẽ công bằng trong điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự - Kinh nghiệm quốc tế và giá trị tham khảo cho Việt Nam”, Chủ nhiệm đề tài cho biết, hệ thống pháp luật hiện nay chưa có quy định cụ thể về xác định và áp dụng lẽ công bằng, tuy nhiên, việc xét xử của Tòa án lại dựa trên lẽ công bằng. Từ đó đã đặt ra một số vấn đề cả về mặt lý luận và thực tiễn cần phải giải quyết như: lẽ công bằng là gì? khi nào được áp dụng lẽ công bằng? lẽ công bằng có phải nguồn luật áp dụng sau cùng không? lẽ công bằng có phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, trình độ nhận thức của người dân trong xã hội không và khi những điều kiện này thay đổi thì lẽ công bằng có thay đổi không? để bảo đảm công bằng cần có những điều kiện, tiêu chuẩn gì đối với thẩm phán?… Trên cơ sở đó, các nhà khoa học tham gia nghiên cứu cho rằng, Bộ Tư pháp cần có quan điểm rõ ràng về nội hàm của thuật ngữ lẽ công bằng như là một nguồn luật để giải thích. Bên cạnh đó, dựa trên cơ sở kinh nghiệm của một số quốc gia như Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada, Pháp,… nhà khoa học đã đưa ra một số quan điểm sau: lẽ công bằng có xuất xứ từ Anh nhưng trên thực tế đã được sử dụng và đề cập ở các quốc gia có truyền thống pháp luật lâu đời trước đó; trên thế giới hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về lẽ công bằng; quy trình áp dụng lẽ công bằng khá linh hoạt, khó xác định nên việc áp dụng có thể sẽ dẫn tới chủ quan, tùy tiện và làm dụng…

TS. Nguyễn Văn Cương phát biểu kết luận Tọa đàm

Phát biểu kết luận Tọa đàm, TS. Nguyễn Văn Cương khẳng định, với các đề tài khoa học được đầu tư công phu, bài bản, các nhà khoa học đã đóng góp nhiều ý kiến có giá trị, nhằm góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam.

Thùy Dung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Ngày hội của toàn dân - Cử tri cả nước sẵn sàng cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp

Ngày hội của toàn dân - Cử tri cả nước sẵn sàng cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đang bước vào giai đoạn cao điểm chuẩn bị, tạo nên không khí chính trị sôi nổi trên khắp cả nước. Đây là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong việc lựa chọn những đại biểu tiêu biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Chinh phục niềm tin của cử tri bằng tài năng, tâm huyết, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức

Chinh phục niềm tin của cử tri bằng tài năng, tâm huyết, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức

Theo danh sách chính thức những người ứng cử trong cả nước, có 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khoá XVI tại 182 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 ĐBQH khóa XVI.
Toàn hệ thống chính trị khẩn trương hoạt động trở lại bình thường ngay sau kỳ nghỉ Tết

Toàn hệ thống chính trị khẩn trương hoạt động trở lại bình thường ngay sau kỳ nghỉ Tết

Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Công văn số 539-CV/VPTW về Kết luận của Ban Bí thư về tình hình tổ chức Tết Bính Ngọ 2026.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain)… làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận: Kênh thông tin chính thống của Đảng trên không gian mạng

Ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận: Kênh thông tin chính thống của Đảng trên không gian mạng

Ứng dụng TGDV (Tuyên giáo và Dân vận) ra mắt, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong xây dựng Hệ sinh thái số công tác tuyên giáo và dân vận của Đảng. Đây là nền tảng truyền thông chính thống trên internet và mạng xã hội của Đảng, góp phần chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, đa nền tảng, đồng thời tăng cường kết nối giữa Trung ương với địa phương, giữa Đảng với nhân dân.
Đẩy mạnh tuyên truyền lưu động phòng cháy chữa cháy dịp Tết Bính Ngọ 2026

Đẩy mạnh tuyên truyền lưu động phòng cháy chữa cháy dịp Tết Bính Ngọ 2026

Nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC&CNCH) dịp Tết nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, Đội Chữa cháy và CNCH khu vực số 2 – Phòng Cảnh sát PCCC&CNCH đã tích cực triển khai hoạt động tuyên truyền lưu động tại nhiều khu dân cư, chợ, trung tâm thương mại, trường học và các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn phường Cầu Giấy và Yên Hoà.
Tăng cường kiểm tra an toàn về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đối nhà trọ

Tăng cường kiểm tra an toàn về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đối nhà trọ

Đội Chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ khu vực số 2 - Phòng PC07, Công an thành phố Hà Nội đã tiến hành kiểm tra an toàn về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC&CNCH) đối với các Nhà trọ trên địa bàn quản lý.
Giữ vững nền tảng vĩ mô - Chìa khóa để tăng trưởng nhanh và bền vững từ Ngành Tài chính

Giữ vững nền tảng vĩ mô - Chìa khóa để tăng trưởng nhanh và bền vững từ Ngành Tài chính

Thời gian tới, trước yêu cầu và nhiệm vụ mới đặt ra, ngành Tài chính sẽ tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: