Chủ nhật 31/05/2026 05:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phổ biến thông tin, tri thức khoa học từ kết quả nghiên cứu nhiệm vụ khoa học của Bộ Tư pháp

Chiều ngày 13/3/2025, Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp đã tổ chức Tọa đàm khoa học “Phổ biến thông tin, tri thức khoa học từ kết quả nghiên cứu nhiệm vụ khoa học của Bộ Tư pháp” nhằm giới thiệu và thảo luận về các đề tài nghiên cứu khoa học mà Bộ Tư pháp đã triển khai và được nghiệm thu trong năm 2024. Đồng chí Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý chủ trì buổi Tọa đàm.

Toàn cảnh Tọa đàm.

Phát biểu khai mạc Tọa đàm, TS. Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý cho biết, nghiên cứu khoa học là sản xuất ra tri thức mới và có sự khác biệt lớn so với các ngành nghề khác. Tri thức mới phải đạt được mục đích là thay đổi quan điểm của người khác, đưa ra được những giải pháp mà xưa nay chưa được nhắc đến. Mặc dù gần đây, Đảng và Nhà nước đã quan tâm hơn đến hoạt động nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học cũng được trân trọng hơn. Tuy nhiên, làm khoa học đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, nhưng hiện nguồn lực dành cho khoa học ở Việt Nam còn khiêm tốn. Vì vậy, trong bối cảnh này, cần phải có các giải pháp để đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học được tốt hơn nữa.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Xây dựng khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát để tích cực, chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Tại Tọa đàm, các nhà khoa học đã báo cáo kết quả nghiên cứu các đề tài. Về đề tài “Xây dựng khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát để tích cực, chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, Chủ nhiệm đề tài cho biết, ở Việt Nam hiện nay chưa có khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát (hay còn gọi là sandbox), vì vậy, đề tài đã tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới dựa theo 04 nhóm gồm: (i) các quốc gia tiên phong trong việc thiết kế và vận hành sandbox, tiêu biểu là nước Anh. Đây là quốc gia đầu tiên ban hành sandbox; (ii) nhóm các quốc gia và vùng lãnh thổ có nhiều thành công trong việc thiết kế, vận hành sandbox như Hoa Kỳ, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc; (iii) nhóm các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi có nhiều điều kiện tương đồng với Việt Nam như Liên Bang Nga, Trung Quốc; (iv) nhóm các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, trong đó lấy Singapore làm mô hình điển hình. Trên cơ sở nghiên cứu về kinh nghiệm của các quốc gia và vùng lãnh thổ, đề tài đã rút ra được những đánh giá chung và bài học kinh nghiệm tập trung vào 09 nội dung: (i) định hướng xây dựng sandbox; (ii) chính sách và mô hình của sandbox; (iii) cơ quan quản lý nhà nước; (iv) quy trình, thủ tục xây dựng sandbox; (v) các chủ thể đăng ký tham gia; (vi) các tiêu chí tham gia; (vii) giới hạn, phạm vi; (viii) phương thức hỗ trợ giám sát; (ix) yêu cầu đánh giá kết thúc thử nghiệm.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay: Lý luận, thực trạng và giải pháp đổi mới”.

Về đề tài “Giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay: Lý luận, thực trạng và giải pháp đổi mới”, Chủ nhiệm đề tài đã báo cáo tổng quan kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ thống pháp luật hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế làm cho pháp luật chưa đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, do đó, cần phải đổi mới thể chế giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật tập trung vào nội dung sau: (i) mở rộng đối tượng giải thích; (ii) rõ ràng hóa phạm vi hướng dẫn áp dụng pháp luật; (iii) thống nhất thuật ngữ: “giải thích pháp luật”, “hướng dẫn áp dụng pháp luật”, “giải thích áp dụng pháp luật”, “hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật”; (iv) khi sửa Hiến pháp nên trao thêm thẩm quyền giải thích pháp luật cho Tòa án nhân dân; (v) nâng cao trách nhiệm giải trình; (vi) kiểm soát chặt chẽ nội dung giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật; (vii) luật hóa giá trị pháp lý của án lệ. Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng hoạt động giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật, cần tập trung vào 03 nội dung sau: (i) tăng cường kiểm soát: xây dựng tiêu chí đánh giá, thiết lập cơ quan chuyên trách đánh giá và giám sát; (ii) nâng cao trách nhiệm giải trình: công khai quy trình, phương pháp, cơ sở khoa học, thiết lập cơ chế tiếp nhận - phản hồi và xây dựng cơ sở dữ liệu trực tuyến tập trung về văn bản giải thích, hướng dẫn pháp luật; (iii) cần có sự tham gia của xã hội.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Các giải pháp nâng cao thứ hạng chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam”.

Đối với đề tài “Các giải pháp nâng cao thứ hạng chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam”, đại diện Ban chủ nhiệm cho biết, chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là một chỉ số thành phần thuộc Bộ Chỉ số GII, đánh giá về năng lực của Chính phủ trong việc xây dựng và thực thi chính sách, quy định pháp luật nhằm thúc đẩy cho sự phát triển của khu vực tư nhân (sản xuất - kinh doanh). Đây là Chỉ số quan trọng thuộc nhóm chỉ số về môi trường pháp lý, thuộc trụ cột thể chế, được xác định là một trong các yếu tố đầu vào của đổi mới sáng tạo, giá trị của Chỉ số càng cao thì điểm số và thứ hạng trong GII càng lớn; xếp hạng năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam càng tăng thì càng tạo đà để hoàn thành mục tiêu chung trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khơi thông nguồn lực trong xã hội, thu hút đầu tư và có ý nghĩa lớn đối với việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay”.

Đối với đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay”, các nhà khoa học thực hiện đề tài đã nhận diện được hạn chế và thách thức trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, từ đó đưa ra giải pháp, cụ thể: tăng cường sự quan tâm của các cấp chính quyền, bảo đảm nguồn lực đầu tư hợp lý; đa dạng hóa hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật: áp dụng công nghệ thông tin, truyền thông số, tài liệu song ngữ; xây dựng đội ngũ báo cáo viên pháp luật và tuyên truyền viên pháp luật là người dân tộc thiểu số hoặc biết tiếng dân tộc; tăng cường kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, điều chỉnh chiến lược kịp thời và kết hợp phổ biến, giáo dục pháp luật với giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, tăng cường sự thấu hiểu và đồng thuận xã hội.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài ở Việt Nam”.

Với đề tài “Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài ở Việt Nam”, các nhà khoa học đã nghiên cứu các bất cập trong quy định của pháp luật làm cho việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo phương thức hòa giải và trọng tài ở Việt Nam chưa phát triển, như Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Nghị định số 22/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại chưa theo Luật mẫu của UNCITRAL; quy định của pháp luật về thẩm quyền, phạm vi giải quyết tranh chấp, căn cứ hủy phán quyết trọng tài,… chưa rõ, còn nhiều cách hiểu khác nhau gây khó khăn cho việc áp dụng, thực hiện trên thực tế; quá trình giải quyết có thể phát sinh một số vấn đề, nhất là việc hủy phán quyết trọng tài và sự can thiệp của hệ thống Tòa án vào việc giải quyết tranh chấp theo phương thức trọng tài làm cho các nhà đầu tư, các thương nhân “ái ngại”, làm cho hiệu lực giải quyết tranh chấp theo phương thức hòa giải và trọng tài chưa đạt chất lượng. Bên cạnh đó, một số nguyên nhân khác nhưng năng lực, trình độ của đội ngũ trọng tài viên và hòa giải viên chưa đáp ứng được yêu cầu cũng làm cho việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo phương thức hòa giải, trọng tài chưa nhiều, chưa hiệu quả.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về quyền con người, quyền công dân trên cơ sở thực tiễn 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013”.

Với đề tài “Hoàn thiện pháp luật về quyền con người, quyền công dân trên cơ sở thực tiễn 10 năm thi hành Hiến pháp năm 2013”, Chủ nhiệm đề tài đã báo cáo kết quả nghiên cứu, theo đó, đề tài đã đưa ra được một số giải pháp hoàn thiện như: (i) sửa đổi, bổ sung quy định của nguyên tắc chung về hạn chế quyền con người, quyền công dân; cần nghiên cứu để điều chỉnh lại các vấn đề còn “thiếu vắng” trong Hiến pháp năm 2013 như việc hạn chế quyền không được làm mất đi bản chất của quyền con người, quyền công dân, đồng thời cần giao Quốc hội kịp thời ban hành Nghị quyết giải thích các quy định của Hiến pháp liên quan đến nguyên tắc hạn chế quyền con người làm cơ sở để thể chế hóa nguyên tắc này trong pháp luật đối với các lĩnh vực cụ thể; (ii) hoàn thiện nội dung và kết cấu của Điều 15 Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc thống nhất giữa quyền con người với nghĩa vụ công dân; (iii) tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện một số quy định về quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp năm 2013; cần nghiên cứu việc tái quy định “nhân dân có quyền phúc quyết Hiến pháp”; nghiên cứu về việc ghi nhận đầy đủ nội hàm quyền riêng tư; (iv) cần nghiên cứu bổ sung một số quyền cơ bản về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa vào Hiến pháp năm 2013 theo quy định của hai công ước ICCPR và ICESCR mà Việt Nam đã tham gia, cụ thể như: quyền không bị bắt làm nô lệ và nô dịch (Điều 8 ICCPR); quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (Điều 11 ICCPR); quyền được thừa nhận là thể nhân trước pháp luật ở mọi nơi (Điều 16 ICCPR); quyền tự quyền tự do tư tưởng (Điều 18.1 ICCPR); quyền được giữ quan điểm riêng mà không bị can thiệp (Điều 19.1 ICCPR); quyền của người khuyết tật (Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật); quyền đình công, quyền thành lập, gia nhập công đoàn (khoản 1 Điều 8 ICESCR).

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Đối với đề tài “Hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, Chủ nhiệm đề tài cho biết, từ các chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cũng như định hướng xây dựng Chính phủ số, chính quyền số và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng, trong thời gian tới, pháp luật cần tiếp tục được hoàn thiện trên các phương diện sau:

Một là, bổ sung quy định một số khái niệm liên quan đến chuyển đổi số như công chứng giao dịch trên môi trường điện tử; môi trường điện tử; văn bản công chứng điện tử; hồ sơ công chứng điện tử; cơ sở dữ liệu công chứng; quy trình công chứng toàn trình; quy trình công chứng một phần;

Hai là, bổ sung quy định về việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về công chứng, chứng thực để thực hiện thống nhất trong cả nước; quy định việc tích hợp, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về công chứng, chứng thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, nhà ở, thuế, Tòa án, thi hành án, hộ tịch, đăng ký giao dịch bảo đảm để chia sẻ, kết nối các thông tin.

Ba là, bổ sung quy định về công chứng điện tử, bao gồm: (i) bổ sung quy định về nguyên tắc thực hiện công chứng giao dịch trên môi trường điện tử; (ii) bổ sung quy trình công chứng giao dịch trên môi trường điện tử.

Bốn là, sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm công chứng viên bảo đảm công chứng viên được bổ nhiệm ngoài việc đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, kinh nghiệm thực tiễn cần có đủ năng lực về ứng dụng tin học để thực hiện quy trình công chứng giao dịch trên môi trường điện tử.

Năm là, bổ sung quy định về hành vi nghiêm cấm “từ chối tiếp nhận văn bản công chứng điện tử trong các thủ tục hành chính, giao dịch mà thành phần hồ sơ có văn bản công chứng”.

Sáu là, bổ sung quy định về kiến thức, kỹ năng về việc thực hiện việc công chứng hợp đồng, giao dịch trên môi trường điện tử trong nội dung tập sự hành nghề công chứng và trong nội dung bồi dưỡng kiến thức bắt buộc hàng năm dành cho công chứng viên.

Bảy là, bổ sung quy định về thực hiện việc số hóa hồ sơ đã công chứng gồm 4 bước: bước 1: sao chụp giấy tờ, chuyển sang bản điện tử; bước 2: bóc tách dữ liệu; bước 3: cấp mã kết quả số hóa; bước 4: lưu kết quả số hóa. Việc thực hiện số hóa hồ sơ công chứng được thực hiện theo pháp luật về số hóa.

Tám là, sửa đổi, bổ sung quy định về quy trình, cách thức việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên bảo đảm thực hiện trên môi trường điện tử.

Nhà khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Lẽ công bằng trong điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự - Kinh nghiệm quốc tế và giá trị tham khảo cho Việt Nam”.

Về kết quả đề tài “Lẽ công bằng trong điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự - Kinh nghiệm quốc tế và giá trị tham khảo cho Việt Nam”, Chủ nhiệm đề tài cho biết, hệ thống pháp luật hiện nay chưa có quy định cụ thể về xác định và áp dụng lẽ công bằng, tuy nhiên, việc xét xử của Tòa án lại dựa trên lẽ công bằng. Từ đó đã đặt ra một số vấn đề cả về mặt lý luận và thực tiễn cần phải giải quyết như: lẽ công bằng là gì? khi nào được áp dụng lẽ công bằng? lẽ công bằng có phải nguồn luật áp dụng sau cùng không? lẽ công bằng có phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, trình độ nhận thức của người dân trong xã hội không và khi những điều kiện này thay đổi thì lẽ công bằng có thay đổi không? để bảo đảm công bằng cần có những điều kiện, tiêu chuẩn gì đối với thẩm phán?… Trên cơ sở đó, các nhà khoa học tham gia nghiên cứu cho rằng, Bộ Tư pháp cần có quan điểm rõ ràng về nội hàm của thuật ngữ lẽ công bằng như là một nguồn luật để giải thích. Bên cạnh đó, dựa trên cơ sở kinh nghiệm của một số quốc gia như Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada, Pháp,… nhà khoa học đã đưa ra một số quan điểm sau: lẽ công bằng có xuất xứ từ Anh nhưng trên thực tế đã được sử dụng và đề cập ở các quốc gia có truyền thống pháp luật lâu đời trước đó; trên thế giới hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về lẽ công bằng; quy trình áp dụng lẽ công bằng khá linh hoạt, khó xác định nên việc áp dụng có thể sẽ dẫn tới chủ quan, tùy tiện và làm dụng…

TS. Nguyễn Văn Cương phát biểu kết luận Tọa đàm

Phát biểu kết luận Tọa đàm, TS. Nguyễn Văn Cương khẳng định, với các đề tài khoa học được đầu tư công phu, bài bản, các nhà khoa học đã đóng góp nhiều ý kiến có giá trị, nhằm góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam.

Thùy Dung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bộ Tư pháp đứng đầu Chỉ số cải cách hành chính năm 2025 khối Bộ, ngành

Bộ Tư pháp đứng đầu Chỉ số cải cách hành chính năm 2025 khối Bộ, ngành

Bộ Nội vụ vừa cho biết, Bộ Tư pháp đứng đầu Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) năm 2025 trong khối các Bộ, cơ quan ngang Bộ với giá trị đạt 95,48%.
Lễ ký kết Quy chế phối hợp liên ngành trong thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính

Lễ ký kết Quy chế phối hợp liên ngành trong thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính

Sáng ngày 04/4, tại trụ sở Bộ Tư pháp đã diễn ra Lễ ký kết Quy chế phối hợp liên ngành trong thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính giữa Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ. Đồng chủ trì Lễ ký kết có Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Lương Tam Quang; Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh; Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, với sự tham dự của các Thứ trưởng ba Bộ, đại diện các Bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đồng hành.
Tăng cường tuyên truyền cài đặt và sử dụng ứng dụng “Báo cháy 114” thông qua quét mã QR trên địa bàn phường Cầu Giấy và phường Yên Hòa

Tăng cường tuyên truyền cài đặt và sử dụng ứng dụng “Báo cháy 114” thông qua quét mã QR trên địa bàn phường Cầu Giấy và phường Yên Hòa

Thời gian qua, Đội chữa cháy và cứu nạn cứu hộ (CC&CNCH) khu vực số 2 thuộc Phòng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC&CNCH) - Công an thành phố Hà Nội đã tích cực triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức và kỹ năng phòng cháy, chữa cháy tới các cơ quan, doanh nghiệp và người dân trên địa bàn. Trong đó, việc vận động người dân cài đặt và sử dụng ứng dụng “Báo cháy 114” được xác định là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả tiếp nhận thông tin, góp phần xử lý kịp thời các tình huống cháy, nổ, tai nạn, sự cố ngay từ ban đầu.
Xã Hoàng Hoa Thám (Hưng Yên): Tổ chức thành công cuộc bầu cử trong bối cảnh xã mới sáp nhập

Xã Hoàng Hoa Thám (Hưng Yên): Tổ chức thành công cuộc bầu cử trong bối cảnh xã mới sáp nhập

Ngay sau khi được thành lập theo Nghị quyết số 1666/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xã Hoàng Hoa Thám (tỉnh Hưng Yên) đã nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy và triển khai hiệu quả công tác chuẩn bị, tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Với quy mô lớn, địa bàn rộng và dân số đông, nhưng nhờ sự lãnh đạo sát sao của cấp ủy, chính quyền cùng sự đồng thuận của Nhân dân, cuộc bầu cử trên địa bàn xã đã diễn ra an toàn, dân chủ, đúng pháp luật và đạt kết quả toàn diện.
Văn hóa kinh doanh Việt Nam - Hệ giá trị mới từ tư duy đột phá của Nghị quyết Đại hội Đảng XIV

Văn hóa kinh doanh Việt Nam - Hệ giá trị mới từ tư duy đột phá của Nghị quyết Đại hội Đảng XIV

Diễn đàn Quốc gia “Văn hóa với Doanh nghiệp” năm 2026 tổ chức nhằm góp phần cụ thể hóa tinh thần các nghị quyết chiến lược của Đảng, đặc biệt là việc định hình hệ giá trị văn hóa kinh doanh của Việt Nam trong giai đoạn mới.
Giám sát chặt chẽ y tế trong thời gian diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp

Giám sát chặt chẽ y tế trong thời gian diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp

Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động xây dựng và cập nhật kế hoạch bảo đảm y tế phục vụ cuộc bầu cử trên địa bàn và thành lập các đội cơ động phòng, chống dịch, sẵn sàng triển khai các biện pháp ứng phó khi có dịch bệnh xảy ra.
Tuổi trẻ Tạp chí Dân chủ và Pháp luật: Khẳng định vai trò xung kích trong tuyên truyền bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp

Tuổi trẻ Tạp chí Dân chủ và Pháp luật: Khẳng định vai trò xung kích trong tuyên truyền bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp

Trong không khí rộn ràng của ngày hội toàn dân, tuổi trẻ Tạp chí Dân chủ và Pháp luật không chỉ sẵn sàng thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân với lá phiếu của mình, mà còn khẳng định tinh thần xung kích trong việc lan tỏa tinh thần thượng tôn pháp luật. Mỗi lá phiếu của cử tri không chỉ thể hiện quyền và trách nhiệm công dân, mà còn gửi gắm niềm tin và kỳ vọng vào một nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp (2026 - 2031) bản lĩnh, trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
Phát biểu của Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết tại Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII

Phát biểu của Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết tại Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tại Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII.
Ngày hội của toàn dân - Cử tri cả nước sẵn sàng cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp

Ngày hội của toàn dân - Cử tri cả nước sẵn sàng cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đang bước vào giai đoạn cao điểm chuẩn bị, tạo nên không khí chính trị sôi nổi trên khắp cả nước. Đây là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong việc lựa chọn những đại biểu tiêu biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Chinh phục niềm tin của cử tri bằng tài năng, tâm huyết, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức

Chinh phục niềm tin của cử tri bằng tài năng, tâm huyết, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức

Theo danh sách chính thức những người ứng cử trong cả nước, có 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khoá XVI tại 182 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 ĐBQH khóa XVI.
Toàn hệ thống chính trị khẩn trương hoạt động trở lại bình thường ngay sau kỳ nghỉ Tết

Toàn hệ thống chính trị khẩn trương hoạt động trở lại bình thường ngay sau kỳ nghỉ Tết

Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Công văn số 539-CV/VPTW về Kết luận của Ban Bí thư về tình hình tổ chức Tết Bính Ngọ 2026.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain)… làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Theo dõi chúng tôi trên: