Thứ hai 21/09/2026 10:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về các quy định pháp luật khi chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Bài viết phân tích một số vấn đề chung và vướng mắc khi áp dụng quy định pháp luật về chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, từ đó, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.

1. Khái quát về chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được hiểu là hành vi chủ thể tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự), do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách vô ý, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác.

Chứng minh vụ án hình sự nói chung là hoạt động đặc thù đối với một loại tội phạm cụ thể, bao hàm nhiều hoạt động tố tụng nhằm thu thập, đánh giá, kiểm tra chứng cứ đối với các tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, việc chứng minh cũng phải được thực hiện đúng với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự) dựa trên cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ do Bộ luật Hình sự quy định.

Như vậy, có thể hiểu rằng, chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ theo trình tự, thủ tục được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và sử dụng chứng cứ đó làm rõ hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nhằm giải quyết đúng đắn các vụ án đã xảy ra.

Nội dung của hoạt động chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là toàn bộ hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ theo những vấn đề cần phải chứng minh được quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hay nói cách khác, các hoạt động này sẽ giúp trả lời câu hỏi rằng, vụ việc tai nạn giao thông đã xảy ra có thoả mãn các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự, cũng như các yếu tố khác có ý nghĩa giải quyết những vấn đề phát sinh khác trong vụ án hay không.

Chứng minh đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là một hoạt động áp dụng pháp luật, trong đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên cơ sở các tình tiết thực tế của hành vi phạm tội phân tích, đối chiếu, so sánh với các yếu tố cấu thành tội phạm này và các yêu cầu khác được quy định trong Bộ luật Hình sự, các văn bản pháp luật liên quan để đưa ra kết luận cuối cùng. Về mặt thực tế, đó là việc các chủ thể chứng minh đánh giá các chứng cứ có liên quan đến tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ đã xảy ra như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện đã gây tai nạn, kết luận giám định thương tích, kết luận định giá tài sản hư hỏng… Về mặt pháp luật, đó là việc các chủ thể phân tích, đánh giá nội dung các dấu hiệu pháp lý được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự, cũng như kết hợp với các nội dung khác. Tuy vậy, pháp luật mang tính tổng quát, trong khi đó các tình huống thực tế thường phức tạp nên việc để pháp luật và thực tế tương ứng với nhau hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ lập pháp và nhận thức của chủ thể áp dụng pháp luật.

Đặc trưng của hoạt động chứng minh đối với tội vi phạm quy định về giao thông đường bộ là việc bảo đảm thu thập các nguồn chứng cứ bắt buộc. Hầu hết, các vụ việc vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ luôn bắt buộc phải có biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định tài sản bị hư hỏng… và tuỳ thuộc vào từng tình huống còn có biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định thương tật hoặc tổn hại về sức khoẻ, văn bản hành chính về việc vi phạm nồng độ, file ghi hình tai nạn xảy ra. Nói cách khác, có nhiều hoạt động điều tra bắt buộc phải được thực hiện để làm nguồn chứng cứ khi xử lý các vụ án về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Nếu thiếu đi các hoạt động này sẽ không có chứng cứ phục vụ việc chứng minh tội phạm.

Như vậy, khi chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ cần vừa bảo đảm các chứng cứ thực tế được thu thập một cách đầy đủ, hợp pháp, vừa bảo đảm tính liên quan đến nội dung cần phải chứng minh.

2. Vướng mắc trong áp dụng quy định pháp luật khi chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và giải pháp hoàn thiện

Thứ nhất, việc thực hiện thực nghiệm điều tra: Thực tế xảy ra trường hợp đã thực hiện hết các biện pháp mà khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nhưng vẫn chưa đủ căn cứ để chứng minh vụ việc tai nạn giao thông có dấu hiệu tội phạm do vẫn chưa thể đi đến kết luận về nguyên nhân, diễn biến hay lỗi của các bên khi tham gia giao thông. Hiện nay, hầu hết các vụ việc tai nạn giao thông thường được ghi hình lại thông qua thiết bị do công an địa phương lắp đặt hoặc nhà dân gần đó ghi hình lại được. Điều này giúp giải quyết rất nhiều vụ tai nạn giao thông phức tạp khi không xác định được điểm va chạm, hành vi vi phạm, lỗi của các bên. Tuy nhiên, cũng nhiều trường hợp tai nạn giao thông phức tạp nhưng lại nằm ở các đoạn đường vắng không có camera ghi hình và cũng không có người chứng kiến sự việc, nhất là các vùng nông thôn vào ban đêm. Điều này gây khó khăn cho việc xác định có dấu hiệu tội phạm không, nếu không thể dựng lại được hiện trường vụ việc và tiến hành thực nghiệm. Không chỉ đối với các vụ việc vi phạm quy định về giao thông đường bộ mà trong nhiều tội phạm khác cũng rất cần được thực nghiệm điều tra trước khi quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án. Trên thực tế, nhiều địa phương vẫn tiến hành thực nghiệm trước khi khởi tố để bảo đảm chứng cứ nhưng được hợp thức hoá đúng về mặt giai đoạn tố tụng.

Thứ hai, về thực hiện hoạt động khám nghiệm tử thi: Trong nhiều vụ tai nạn giao thông hiện nay vẫn có tình trạng tai nạn đã xảy ra và người bị tai nạn đã được mai táng trước khi cơ quan điều tra kịp thời tiến hành khám nghiệm tử thi. Do không thể tiến hành việc khám nghiệm được tử thi để xác định nguyên nhân tử vong, dẫn đến không đủ cơ sở để cơ quan điều tra khởi tố vụ án. Bởi lẽ, có quan điểm cho rằng, việc không khám nghiệm tử thi, không đưa ra được kết luận về nguyên nhân tử vong của nạn nhân nên không thể khởi tố vụ án, khởi tố bị can được do kết luận giám định tử thi được coi là nguồn chứng cứ chủ chốt nhất để quyết định việc khởi tố hay không. Tuy vậy, một số quan điểm khác lại cho rằng, kết luận giám định chỉ là một nguồn chứng cứ trong vụ án, việc xác định nguyên nhân tử vong còn có thể được xác định thông qua các tài liệu, chứng cứ khác trong vụ án như có lời khai người làm chứng cho thấy sau tai nạn thì nạn nhân vẫn khoẻ mạnh, hay chứng kiến rõ việc nạn nhân bị va đập vào bánh xe, gãy xương… thì vẫn có thể tiến hành khởi tố vụ án theo quy định.

Theo tác giả, kết luận giám định pháp y tử thi là một nguồn chứng cứ trong số rất nhiều nguồn chứng cứ khác trong vụ án, nếu không có kết luận giám định pháp y tử thi thì dù có nhiều chứng cứ khác thể hiện rõ hậu quả của tội phạm vẫn không thể chứng minh được. Bởi lẽ, nếu chỉ thông qua lời khai của người làm chứng cũng chỉ có thể đưa ra được những dự đoán rằng nạn nhân tử vong như thế nào mà không thể khẳng định hoàn toàn. Ngoài ra cũng không thể dự liệu được những trường hợp nạn nhân tử vong không phải vì tai nạn giao thông mà do nguyên nhân khác. Vì vậy, đối với các vụ việc tai nạn giao thông có người tử vong, việc khám nghiệm tử thi phải là quy định bắt buộc dù trong bất kỳ tình huống nào. Nhưng nếu người thân của nạn nhân kiên quyết từ chối khai quật hoặc khám nghiệm trong khi cơ quan tiến hành tố tụng không có một cơ sở pháp lý nào để cưỡng chế thực hiện thì gần như khó để thu thập chứng cứ quan trọng này. Do đó, theo tác giả, cần bổ sung nội dung sau vào Điều 202 Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho cơ quan tiến hành tố tụng:

“Trường hợp người thân thích của người bị hại không đồng ý cho khai quật hoặc khám nghiệm tử thi thì điều tra viên phải giải thích, thuyết phục gia đình của người bị hại đồng ý. Nếu người thân thích của người bị hại không đồng ý thì điều tra viên vẫn bắt buộc tiến hành khai quật hoặc khám nghiệm tử thi theo quy định của pháp luật. Trường hợp người thân thích của người bị hại có khiếu nại, tố cáo sẽ được giải quyết theo quy định của Bộ luật này.”

Thứ ba, vấn đề điều tra, xác minh, giải quyết các vụ tai nạn giao thông do cảnh sát giao thông thực hiện: Khoản 7 Điều 7 Thông tư số 63/2020/TT-BCA ngày 19/6/2020 của Bộ Công an quy định quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông (Thông tư số 63/2020/TT-BCA) quy định:

“a) Nếu phát hiện vụ tai nạn giao thông có một trong các dấu hiệu về hậu quả: Có người chết tại hiện trường, chết trên đường đi cấp cứu, đang cấp cứu mà chết; có người bị thương dập, nát, đứt, rời tay, chân, bị mù hai mắt; vỡ nền sọ; có từ 03 người trở lên bị thương gãy tay, chân trở lên hoặc có căn cứ thiệt hại tài sản từ 100 triệu đồng trở lên thì thực hiện như sau:

Đối với cán bộ Cảnh sát giao thông Công an cấp huyện, báo cáo Trưởng Công an cấp huyện phân công Cảnh sát điều tra tiếp nhận điều tra, giải quyết; đối với cán bộ Cục Cảnh sát giao thông thì báo cáo Cục trưởng, cán bộ Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh thì báo cáo Trưởng phòng để chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện có thẩm quyền điều tra, giải quyết;

b) Trường hợp vụ tai nạn giao thông không thuộc một trong các dấu hiệu quy định tại điểm a khoản này thì phân công cán bộ Cảnh sát giao thông tiến hành điều tra, xác minh, giải quyết theo quy định của Thông tư này.”

Nói cách khác, các vụ việc tai nạn giao thông ban đầu không có dấu hiệu tội phạm thì công tác khám nghiệm hiện trường đều do cán bộ Cảnh sát giao thông thực hiện và các hoạt động này không có sự tham gia của điều tra viên, kiểm sát viên. Nhưng thực tế nhiều sự việc sau khi có kết luận giám định thương tật hay kết luận định giá tài sản bị thiệt hại thì mới phát sinh dấu hiệu tội phạm. Lúc này, theo quy định, đội Cảnh sát giao thông phải chuyển hồ sơ, tài liệu cho cơ quan điều tra có thẩm quyền thực hiện các thủ tục tố tụng. Vấn đề phát sinh là các tài liệu điều tra, xác minh ban đầu đều không thực hiện đúng thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự nên các chứng cứ này không thể được sử dụng làm chứng cứ để khởi tố vụ án. Việc tiến hành lại các hoạt động xác minh trong nhiều trường hợp là không thể do hiện trường bị xáo trộn hoặc không còn, nhiều trường hợp xử lý ban đầu xác định không có dấu hiệu tội phạm nên đã trả lại phương tiện cho các chủ sở hữu và họ tiến hành sửa chữa nên việc khám nghiệm phương tiện cũng không thể thực hiện.

Do đó, theo tác giả, quy định tại điểm b khoản 7 Điều 7 Thông tư số 63/2020/TT-BCA nên quy định như sau: “Trường hợp vụ tai nạn giao thông không thuộc một trong các dấu hiệu quy định tại điểm a khoản này thì phân công Cảnh sát điều tra tiếp nhận, theo dõi, đồng thời phân công cán bộ Cảnh sát giao thông tiến hành điều tra, xác minh giải quyết theo quy định của Thông tư này”. Đồng thời khoản 2 Điều 9 Thông tư này cũng cần xem xét, bổ sung: “Việc khám nghiệm hiện trường phải có mặt của Cảnh sát điều tra được phân công và thông báo cho Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.”

Từ đó, việc khám nghiệm hiện trường ban đầu luôn phải có sự tham gia của điều tra viên, kiểm sát viên nhằm bảo đảm không để xảy ra tình trạng bỏ lọt tội phạm hoặc ảnh hưởng đến chứng cứ chứng minh tội vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ. Ngoài ra, cũng bảo đảm các biện pháp kiểm tra, xác minh do Cảnh sát giao thông thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự có sự theo dõi, tham gia khi cần thiết của điều tra viên, bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ trong giai đoạn này.

Chứng minh tình trạng điều khiển phương tiện giao thông có nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở do sử dụng rượu, bia, điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định...”. Như vậy, để chứng minh người gây ra tai nạn cấu thành tội phạm tăng nặng theo nội dung trên, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được người gây ra tai nạn đã sử dụng rượu, bia dẫn đến nồng độ trong máu hoặc hơi thở vượt quá mức quy định. Tuy vậy, thực tế lại khó có thể chứng minh được theo quy định này. Bởi lẽ, Điều 5, Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, thì mức vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe đã được định lượng qua 03 mức để làm căn cứ xử phạt hành chính cho từng loại phương tiện, cụ thể: “(i) Chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở; (ii) Vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; (iii) Vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở”. Vậy, “vượt quá mức quy định” mà Điều 260 Bộ luật Hình sự nói đến là mức vi phạm nào để truy cứu trách nhiệm hình sự người gây ra tai nạn, cũng như phải sử dụng tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh là vượt quá mức quy định, vì rất ít trường hợp cơ quan chức năng thu được mẫu máu của người gây tai nạn để giám định mà chỉ căn cứ vào kết quả xét nghiệm của cơ sở y tế, kết quả đo nồng độ cồn trong khí thở của lực lượng Cảnh sát giao thông để xử lý đối với tình tiết này, nhưng đây khó có thể coi là một nguồn chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bên cạnh đó, hiện nay, thị trường Việt Nam du nhập nhiều loại sản phẩm có chứa cồn như thuốc uống chữa bệnh, nước giải khác lên men… thì cụm từ “sử dụng rượu, bia” sẽ phải chứng minh như thế nào nếu họ đưa ra lời khai rằng không sử dụng rượu, bia mà chỉ sử dụng các thực phẩm có chứa cồn khác.

Ngoài ra, theo Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 thì hành vi: “Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” là hành vi bị nghiêm cấm. Nói cách khác, nhà làm luật đã loại bỏ hoàn toàn việc cho phép ngươi tham gia giao thông có nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở dưới bất kỳ hình thức nào. Nếu đã là hành vi bị cấm, xem như pháp luật đã loại bỏ hoàn toàn các “mức” để xem xét việc có vượt quá quy định hay không, vì chỉ cần xác định trong máu hoặc hơi thở của người điều khiển phương tiện giao thông có nồng đồ cồn đều được coi là vi phạm. Sự không thống nhất trong các văn bản pháp luật và quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự làm cho việc áp dụng pháp luật còn vướng mắc. Nhất là trong tình hình đẩy mạnh việc xử lý người tham gia giao thông sử dụng rượu, bia.

Vì vậy, theo tác giả, điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự cần được chỉnh sửa cho phù hợp với các chính sách pháp luật hiện nay. Có thể sửa đổi thành: “Vi phạm quy định về nồng đồ cồn trong máu hoặc hơi thở, có sử dụng chất ma tuý hoặc chất kích thích mạnh khác”. Việc thay đổi thành quy định tổng quát này sẽ giúp cho việc áp dụng trở nên dễ dàng hơn khi chỉ cần xác định có hay không người gây ra tai nạn vi phạm quy định về nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở theo pháp luật hiện hành. Điều này giúp cho việc chứng minh sẽ đơn giản hơn rất nhiều. Bởi lẽ, hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận về quy định nồng độ cồn. Ngoài ra, trong tương lai, nếu có sự thay đổi về quy định nồng độ cồn cũng sẽ không ảnh hưởng đến quy định của Bộ luật Hình sự nếu sửa đổi theo hướng trên.

Bên cạnh đó, Điều 260 Bộ luật Hình sự hiện hành vẫn chưa khái niệm hóa các tình tiết cấu thành tội phạm tăng nặng: “Không có giấy phép lái xe theo quy định”, “bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm”, “cố ý không giúp người bị nạn” hay khoản 4 Điều 260 cũng chưa được diễn giải rõ ràng[1]. Điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động chứng minh tội phạm khi việc thu thập chứng cứ trở nên không có giới hạn, không có sự thống nhất giữa các địa phương. Những nội dung trên cho thấy tính cần thiết của một văn bản hướng dẫn cụ thể tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Để nâng cao hoạt động áp dụng pháp luật khi chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, các cơ quan trung ương có liên quan cần nghiên cứu, xây dựng văn bản hướng dẫn về các vấn đề đã được nêu trên.

Tóm lại, việc áp dụng pháp luật khi chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thời gian qua chưa đáp ứng yêu cầu của Đảng, Nhà nước trong việc đẩy lùi tai nạn giao thông. Việc xem xét, đánh giá quy định pháp luật và đưa ra các giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn áp dụng pháp luật là giải pháp hữu hiệu nhất để hoàn thiện pháp luật về chứng minh tội phạm này, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án về tại nạn giao thông trong thời gian tới./.

TS. Nguyễn Thị Nga

Viện Khoa học Cảnh sát, Học viện Cảnh sát nhân dân

[1]. Nguyễn Chí Công, Hoàng Thị Song Mai (2022), “Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án liên quan đến tai nạn giao thông”, Tạp chí Toà án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/mot-so-giai-phap-hoan-thien-phap-luat-nang-cao-hieu-qua-giai-quyet-cac-vu-an-lien-quan-den-tai-nan-giao-thong6816.html.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: