Thứ sáu 03/04/2026 01:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về các quy định pháp luật khi chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Bài viết phân tích một số vấn đề chung và vướng mắc khi áp dụng quy định pháp luật về chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, từ đó, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.

1. Khái quát về chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được hiểu là hành vi chủ thể tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự), do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách vô ý, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác.

Chứng minh vụ án hình sự nói chung là hoạt động đặc thù đối với một loại tội phạm cụ thể, bao hàm nhiều hoạt động tố tụng nhằm thu thập, đánh giá, kiểm tra chứng cứ đối với các tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, việc chứng minh cũng phải được thực hiện đúng với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự) dựa trên cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ do Bộ luật Hình sự quy định.

Như vậy, có thể hiểu rằng, chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ theo trình tự, thủ tục được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và sử dụng chứng cứ đó làm rõ hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nhằm giải quyết đúng đắn các vụ án đã xảy ra.

Nội dung của hoạt động chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là toàn bộ hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ theo những vấn đề cần phải chứng minh được quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hay nói cách khác, các hoạt động này sẽ giúp trả lời câu hỏi rằng, vụ việc tai nạn giao thông đã xảy ra có thoả mãn các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự, cũng như các yếu tố khác có ý nghĩa giải quyết những vấn đề phát sinh khác trong vụ án hay không.

Chứng minh đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là một hoạt động áp dụng pháp luật, trong đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên cơ sở các tình tiết thực tế của hành vi phạm tội phân tích, đối chiếu, so sánh với các yếu tố cấu thành tội phạm này và các yêu cầu khác được quy định trong Bộ luật Hình sự, các văn bản pháp luật liên quan để đưa ra kết luận cuối cùng. Về mặt thực tế, đó là việc các chủ thể chứng minh đánh giá các chứng cứ có liên quan đến tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ đã xảy ra như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện đã gây tai nạn, kết luận giám định thương tích, kết luận định giá tài sản hư hỏng… Về mặt pháp luật, đó là việc các chủ thể phân tích, đánh giá nội dung các dấu hiệu pháp lý được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự, cũng như kết hợp với các nội dung khác. Tuy vậy, pháp luật mang tính tổng quát, trong khi đó các tình huống thực tế thường phức tạp nên việc để pháp luật và thực tế tương ứng với nhau hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ lập pháp và nhận thức của chủ thể áp dụng pháp luật.

Đặc trưng của hoạt động chứng minh đối với tội vi phạm quy định về giao thông đường bộ là việc bảo đảm thu thập các nguồn chứng cứ bắt buộc. Hầu hết, các vụ việc vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ luôn bắt buộc phải có biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định tài sản bị hư hỏng… và tuỳ thuộc vào từng tình huống còn có biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định thương tật hoặc tổn hại về sức khoẻ, văn bản hành chính về việc vi phạm nồng độ, file ghi hình tai nạn xảy ra. Nói cách khác, có nhiều hoạt động điều tra bắt buộc phải được thực hiện để làm nguồn chứng cứ khi xử lý các vụ án về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Nếu thiếu đi các hoạt động này sẽ không có chứng cứ phục vụ việc chứng minh tội phạm.

Như vậy, khi chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ cần vừa bảo đảm các chứng cứ thực tế được thu thập một cách đầy đủ, hợp pháp, vừa bảo đảm tính liên quan đến nội dung cần phải chứng minh.

2. Vướng mắc trong áp dụng quy định pháp luật khi chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và giải pháp hoàn thiện

Thứ nhất, việc thực hiện thực nghiệm điều tra: Thực tế xảy ra trường hợp đã thực hiện hết các biện pháp mà khoản 3 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nhưng vẫn chưa đủ căn cứ để chứng minh vụ việc tai nạn giao thông có dấu hiệu tội phạm do vẫn chưa thể đi đến kết luận về nguyên nhân, diễn biến hay lỗi của các bên khi tham gia giao thông. Hiện nay, hầu hết các vụ việc tai nạn giao thông thường được ghi hình lại thông qua thiết bị do công an địa phương lắp đặt hoặc nhà dân gần đó ghi hình lại được. Điều này giúp giải quyết rất nhiều vụ tai nạn giao thông phức tạp khi không xác định được điểm va chạm, hành vi vi phạm, lỗi của các bên. Tuy nhiên, cũng nhiều trường hợp tai nạn giao thông phức tạp nhưng lại nằm ở các đoạn đường vắng không có camera ghi hình và cũng không có người chứng kiến sự việc, nhất là các vùng nông thôn vào ban đêm. Điều này gây khó khăn cho việc xác định có dấu hiệu tội phạm không, nếu không thể dựng lại được hiện trường vụ việc và tiến hành thực nghiệm. Không chỉ đối với các vụ việc vi phạm quy định về giao thông đường bộ mà trong nhiều tội phạm khác cũng rất cần được thực nghiệm điều tra trước khi quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án. Trên thực tế, nhiều địa phương vẫn tiến hành thực nghiệm trước khi khởi tố để bảo đảm chứng cứ nhưng được hợp thức hoá đúng về mặt giai đoạn tố tụng.

Thứ hai, về thực hiện hoạt động khám nghiệm tử thi: Trong nhiều vụ tai nạn giao thông hiện nay vẫn có tình trạng tai nạn đã xảy ra và người bị tai nạn đã được mai táng trước khi cơ quan điều tra kịp thời tiến hành khám nghiệm tử thi. Do không thể tiến hành việc khám nghiệm được tử thi để xác định nguyên nhân tử vong, dẫn đến không đủ cơ sở để cơ quan điều tra khởi tố vụ án. Bởi lẽ, có quan điểm cho rằng, việc không khám nghiệm tử thi, không đưa ra được kết luận về nguyên nhân tử vong của nạn nhân nên không thể khởi tố vụ án, khởi tố bị can được do kết luận giám định tử thi được coi là nguồn chứng cứ chủ chốt nhất để quyết định việc khởi tố hay không. Tuy vậy, một số quan điểm khác lại cho rằng, kết luận giám định chỉ là một nguồn chứng cứ trong vụ án, việc xác định nguyên nhân tử vong còn có thể được xác định thông qua các tài liệu, chứng cứ khác trong vụ án như có lời khai người làm chứng cho thấy sau tai nạn thì nạn nhân vẫn khoẻ mạnh, hay chứng kiến rõ việc nạn nhân bị va đập vào bánh xe, gãy xương… thì vẫn có thể tiến hành khởi tố vụ án theo quy định.

Theo tác giả, kết luận giám định pháp y tử thi là một nguồn chứng cứ trong số rất nhiều nguồn chứng cứ khác trong vụ án, nếu không có kết luận giám định pháp y tử thi thì dù có nhiều chứng cứ khác thể hiện rõ hậu quả của tội phạm vẫn không thể chứng minh được. Bởi lẽ, nếu chỉ thông qua lời khai của người làm chứng cũng chỉ có thể đưa ra được những dự đoán rằng nạn nhân tử vong như thế nào mà không thể khẳng định hoàn toàn. Ngoài ra cũng không thể dự liệu được những trường hợp nạn nhân tử vong không phải vì tai nạn giao thông mà do nguyên nhân khác. Vì vậy, đối với các vụ việc tai nạn giao thông có người tử vong, việc khám nghiệm tử thi phải là quy định bắt buộc dù trong bất kỳ tình huống nào. Nhưng nếu người thân của nạn nhân kiên quyết từ chối khai quật hoặc khám nghiệm trong khi cơ quan tiến hành tố tụng không có một cơ sở pháp lý nào để cưỡng chế thực hiện thì gần như khó để thu thập chứng cứ quan trọng này. Do đó, theo tác giả, cần bổ sung nội dung sau vào Điều 202 Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho cơ quan tiến hành tố tụng:

“Trường hợp người thân thích của người bị hại không đồng ý cho khai quật hoặc khám nghiệm tử thi thì điều tra viên phải giải thích, thuyết phục gia đình của người bị hại đồng ý. Nếu người thân thích của người bị hại không đồng ý thì điều tra viên vẫn bắt buộc tiến hành khai quật hoặc khám nghiệm tử thi theo quy định của pháp luật. Trường hợp người thân thích của người bị hại có khiếu nại, tố cáo sẽ được giải quyết theo quy định của Bộ luật này.”

Thứ ba, vấn đề điều tra, xác minh, giải quyết các vụ tai nạn giao thông do cảnh sát giao thông thực hiện: Khoản 7 Điều 7 Thông tư số 63/2020/TT-BCA ngày 19/6/2020 của Bộ Công an quy định quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông (Thông tư số 63/2020/TT-BCA) quy định:

“a) Nếu phát hiện vụ tai nạn giao thông có một trong các dấu hiệu về hậu quả: Có người chết tại hiện trường, chết trên đường đi cấp cứu, đang cấp cứu mà chết; có người bị thương dập, nát, đứt, rời tay, chân, bị mù hai mắt; vỡ nền sọ; có từ 03 người trở lên bị thương gãy tay, chân trở lên hoặc có căn cứ thiệt hại tài sản từ 100 triệu đồng trở lên thì thực hiện như sau:

Đối với cán bộ Cảnh sát giao thông Công an cấp huyện, báo cáo Trưởng Công an cấp huyện phân công Cảnh sát điều tra tiếp nhận điều tra, giải quyết; đối với cán bộ Cục Cảnh sát giao thông thì báo cáo Cục trưởng, cán bộ Phòng Cảnh sát giao thông Công an cấp tỉnh thì báo cáo Trưởng phòng để chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện có thẩm quyền điều tra, giải quyết;

b) Trường hợp vụ tai nạn giao thông không thuộc một trong các dấu hiệu quy định tại điểm a khoản này thì phân công cán bộ Cảnh sát giao thông tiến hành điều tra, xác minh, giải quyết theo quy định của Thông tư này.”

Nói cách khác, các vụ việc tai nạn giao thông ban đầu không có dấu hiệu tội phạm thì công tác khám nghiệm hiện trường đều do cán bộ Cảnh sát giao thông thực hiện và các hoạt động này không có sự tham gia của điều tra viên, kiểm sát viên. Nhưng thực tế nhiều sự việc sau khi có kết luận giám định thương tật hay kết luận định giá tài sản bị thiệt hại thì mới phát sinh dấu hiệu tội phạm. Lúc này, theo quy định, đội Cảnh sát giao thông phải chuyển hồ sơ, tài liệu cho cơ quan điều tra có thẩm quyền thực hiện các thủ tục tố tụng. Vấn đề phát sinh là các tài liệu điều tra, xác minh ban đầu đều không thực hiện đúng thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự nên các chứng cứ này không thể được sử dụng làm chứng cứ để khởi tố vụ án. Việc tiến hành lại các hoạt động xác minh trong nhiều trường hợp là không thể do hiện trường bị xáo trộn hoặc không còn, nhiều trường hợp xử lý ban đầu xác định không có dấu hiệu tội phạm nên đã trả lại phương tiện cho các chủ sở hữu và họ tiến hành sửa chữa nên việc khám nghiệm phương tiện cũng không thể thực hiện.

Do đó, theo tác giả, quy định tại điểm b khoản 7 Điều 7 Thông tư số 63/2020/TT-BCA nên quy định như sau: “Trường hợp vụ tai nạn giao thông không thuộc một trong các dấu hiệu quy định tại điểm a khoản này thì phân công Cảnh sát điều tra tiếp nhận, theo dõi, đồng thời phân công cán bộ Cảnh sát giao thông tiến hành điều tra, xác minh giải quyết theo quy định của Thông tư này”. Đồng thời khoản 2 Điều 9 Thông tư này cũng cần xem xét, bổ sung: “Việc khám nghiệm hiện trường phải có mặt của Cảnh sát điều tra được phân công và thông báo cho Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.”

Từ đó, việc khám nghiệm hiện trường ban đầu luôn phải có sự tham gia của điều tra viên, kiểm sát viên nhằm bảo đảm không để xảy ra tình trạng bỏ lọt tội phạm hoặc ảnh hưởng đến chứng cứ chứng minh tội vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ. Ngoài ra, cũng bảo đảm các biện pháp kiểm tra, xác minh do Cảnh sát giao thông thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự có sự theo dõi, tham gia khi cần thiết của điều tra viên, bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ trong giai đoạn này.

Chứng minh tình trạng điều khiển phương tiện giao thông có nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở do sử dụng rượu, bia, điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định...”. Như vậy, để chứng minh người gây ra tai nạn cấu thành tội phạm tăng nặng theo nội dung trên, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được người gây ra tai nạn đã sử dụng rượu, bia dẫn đến nồng độ trong máu hoặc hơi thở vượt quá mức quy định. Tuy vậy, thực tế lại khó có thể chứng minh được theo quy định này. Bởi lẽ, Điều 5, Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, thì mức vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe đã được định lượng qua 03 mức để làm căn cứ xử phạt hành chính cho từng loại phương tiện, cụ thể: “(i) Chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở; (ii) Vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; (iii) Vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở”. Vậy, “vượt quá mức quy định” mà Điều 260 Bộ luật Hình sự nói đến là mức vi phạm nào để truy cứu trách nhiệm hình sự người gây ra tai nạn, cũng như phải sử dụng tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh là vượt quá mức quy định, vì rất ít trường hợp cơ quan chức năng thu được mẫu máu của người gây tai nạn để giám định mà chỉ căn cứ vào kết quả xét nghiệm của cơ sở y tế, kết quả đo nồng độ cồn trong khí thở của lực lượng Cảnh sát giao thông để xử lý đối với tình tiết này, nhưng đây khó có thể coi là một nguồn chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bên cạnh đó, hiện nay, thị trường Việt Nam du nhập nhiều loại sản phẩm có chứa cồn như thuốc uống chữa bệnh, nước giải khác lên men… thì cụm từ “sử dụng rượu, bia” sẽ phải chứng minh như thế nào nếu họ đưa ra lời khai rằng không sử dụng rượu, bia mà chỉ sử dụng các thực phẩm có chứa cồn khác.

Ngoài ra, theo Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 thì hành vi: “Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” là hành vi bị nghiêm cấm. Nói cách khác, nhà làm luật đã loại bỏ hoàn toàn việc cho phép ngươi tham gia giao thông có nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở dưới bất kỳ hình thức nào. Nếu đã là hành vi bị cấm, xem như pháp luật đã loại bỏ hoàn toàn các “mức” để xem xét việc có vượt quá quy định hay không, vì chỉ cần xác định trong máu hoặc hơi thở của người điều khiển phương tiện giao thông có nồng đồ cồn đều được coi là vi phạm. Sự không thống nhất trong các văn bản pháp luật và quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự làm cho việc áp dụng pháp luật còn vướng mắc. Nhất là trong tình hình đẩy mạnh việc xử lý người tham gia giao thông sử dụng rượu, bia.

Vì vậy, theo tác giả, điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự cần được chỉnh sửa cho phù hợp với các chính sách pháp luật hiện nay. Có thể sửa đổi thành: “Vi phạm quy định về nồng đồ cồn trong máu hoặc hơi thở, có sử dụng chất ma tuý hoặc chất kích thích mạnh khác”. Việc thay đổi thành quy định tổng quát này sẽ giúp cho việc áp dụng trở nên dễ dàng hơn khi chỉ cần xác định có hay không người gây ra tai nạn vi phạm quy định về nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở theo pháp luật hiện hành. Điều này giúp cho việc chứng minh sẽ đơn giản hơn rất nhiều. Bởi lẽ, hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận về quy định nồng độ cồn. Ngoài ra, trong tương lai, nếu có sự thay đổi về quy định nồng độ cồn cũng sẽ không ảnh hưởng đến quy định của Bộ luật Hình sự nếu sửa đổi theo hướng trên.

Bên cạnh đó, Điều 260 Bộ luật Hình sự hiện hành vẫn chưa khái niệm hóa các tình tiết cấu thành tội phạm tăng nặng: “Không có giấy phép lái xe theo quy định”, “bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm”, “cố ý không giúp người bị nạn” hay khoản 4 Điều 260 cũng chưa được diễn giải rõ ràng[1]. Điều này làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động chứng minh tội phạm khi việc thu thập chứng cứ trở nên không có giới hạn, không có sự thống nhất giữa các địa phương. Những nội dung trên cho thấy tính cần thiết của một văn bản hướng dẫn cụ thể tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Để nâng cao hoạt động áp dụng pháp luật khi chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, các cơ quan trung ương có liên quan cần nghiên cứu, xây dựng văn bản hướng dẫn về các vấn đề đã được nêu trên.

Tóm lại, việc áp dụng pháp luật khi chứng minh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thời gian qua chưa đáp ứng yêu cầu của Đảng, Nhà nước trong việc đẩy lùi tai nạn giao thông. Việc xem xét, đánh giá quy định pháp luật và đưa ra các giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn áp dụng pháp luật là giải pháp hữu hiệu nhất để hoàn thiện pháp luật về chứng minh tội phạm này, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án về tại nạn giao thông trong thời gian tới./.

TS. Nguyễn Thị Nga

Viện Khoa học Cảnh sát, Học viện Cảnh sát nhân dân

[1]. Nguyễn Chí Công, Hoàng Thị Song Mai (2022), “Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án liên quan đến tai nạn giao thông”, Tạp chí Toà án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/mot-so-giai-phap-hoan-thien-phap-luat-nang-cao-hieu-qua-giai-quyet-cac-vu-an-lien-quan-den-tai-nan-giao-thong6816.html.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.

Theo dõi chúng tôi trên: