Thứ tư 23/09/2026 03:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm tính đồng bộ giữa Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Luật Đất đai năm 2024

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) có hiệu lực khi Luật Đất đai năm 2003 chưa được sửa đổi nên có một số quy định liên quan đến lĩnh vực đất đai trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024 chưa có sự đồng bộ. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu các quy định liên quan đến lĩnh vực đất đai trong hai văn bản này nhằm bảo đảm tính đồng bộ để đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.

Đặt vấn đề

Trong thời gian qua tội phạm liên quan đến lĩnh vực đất đai liên tục được phát hiện với tính chất, quy mô lớn và phủ rộng ở nhiều địa phương, gây thiệt hại nghiêm trọng cho đất nước cũng như gây bức xúc trong dư luận. Tuy nhiên, tội phạm liên quan đến lĩnh vực này vẫn chưa có dấu hiệu “hạ nhiệt”, những vụ việc đã được phát hiện so với những sai phạm trong thực tế còn chưa tương xứng. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này phải kể đến hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, trong đó, có những bất cập xuất phát từ các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tính chưa đồng bộ giữa pháp luật hình sự và pháp luật đất đai.

1. Đánh giá quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 liên quan đến lĩnh vực đất đai

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định ba tội danh có tên gắn với đất đai là tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (Điều 228), tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 229), vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 230). Ngoài ba tội danh này, có thể kể thêm một số tội khác có liên quan đến lĩnh vực đất đai như tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 360), tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (Điều 227); trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để ra các quyết định trái pháp luật trong lĩnh vực đất đai nhằm nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào thì sẽ cấu thành tội nhận hối lộ (Điều 354)… Về cơ bản, có thể đánh giá những quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 liên quan đến lĩnh vực đất đai phù hợp với Luật Đất đai năm 2024. Luật Đất đai năm 2024 ở Điều 11 đã liệt kê những hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực đất đai và các hành vi này theo quy định tại Điều 239 với các tội danh tương ứng nêu trên. Tuy nhiên, khi nghiên cứu Bộ luật Hình sự năm 2015 và đối chiếu với Luật Đất đai năm 2024 có thể thấy bên cạnh sự tương thích thì vẫn còn nhiều quy định cần phải được đánh giá cụ thể hơn.

1.1. Về chủ thể thực hiện tội phạm liên quan đến lĩnh vực đất đai

Thứ nhất, tất cả các tội danh nêu ở trên theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 đều được thực hiện bởi một chủ thể duy nhất là cá nhân đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Đối với một số tội chủ thể cần có thêm dấu hiệu là người có chức vụ, quyền hạn. Điều này có nghĩa pháp nhân thương mại (là chủ thể phạm tội mới trong Bộ luật Hình sự năm 2015) không phải là chủ thể của nhóm tội danh này. Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng đã nêu rõ những tội danh mà chủ thể này có thể phạm một lần nữa khẳng định điều đó. Nghiên cứu các hành vi vi phạm bị cấm trong Luật Đất đai năm 2024 và Bộ luật Hình sự năm 2015 nhận thấy, pháp nhân thương mại không thể đứng ngoài cuộc của trách nhiệm hình sự được. Ngay hành vi đầu tiên được quy định trong Điều 11 Luật Đất đai năm 2024 là “lấn đất, chiếm đất, hủy hoại đất” thì người thuộc pháp nhân thương mại sẽ nhân danh tổ chức, vì lợi ích của pháp nhân thương mại và pháp nhân thương mại có thể chỉ đạo, điều hành hay chấp thuận đều có thể thực hiện được. Chủ thể thực hiện những hành vi này vẫn là cá nhân nhưng có thể hành vi của họ không phải vì cá nhân họ mà vì pháp nhân thương mại nên nếu chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự cá nhân mà bỏ qua pháp nhân thương mại là chưa phù hợp. Pháp nhân thương mại không trực tiếp thực hiện hành vi nhưng phải chịu trách nhiệm hình sự do thành viên của tổ chức mình thực hiện như các tội danh khác trong Chương XVIII về Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế như tội buôn lậu, tội sản xuất, buôn bán hàng giả… Chẳng hạn, một số nhân viên của doanh nghiệp dưới sự chỉ đạo của Hội đồng quản trị hoặc Ban giám đốc mà có hành vi lấn, chiếm đất của cá nhân hoặc tổ chức khác nhằm đem lại lợi ích cho doanh nghiệp của mình mà chỉ bản thân người thực hiện phải chịu trách nhiệm hình sự còn pháp nhân thương mại vô can là “bỏ lọt” tội phạm và không có sự công bằng trong truy cứu trách nhiệm. Điều này có thể dẫn đến pháp nhân thương mại lợi dụng để “né tránh” pháp luật, khi bị phát hiện đẩy hết trách nhiệm cho thành viên của tổ chức.

Thứ hai, về vấn đề đồng phạm trong lĩnh vực đất đai nhưng được thực hiện giữa một cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và pháp nhân thương mại. Vấn đề đặt ra, trong lĩnh vực đất đai nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung có thể xảy ra tình trạng một cá nhân liên kết cùng một pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội không và lúc đó sẽ xử lý như thế nào. Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “đồng phạm là hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” và gồm 04 loại người là người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức. Nếu một cá nhân liên kết cùng pháp nhân thương mại để lấn đất hoặc chiếm đất thì trường hợp này theo quy định hiện hành chỉ cá nhân mới phạm tội nên sẽ không có đồng phạm. Như vậy, xét về lẽ công bằng đã không phù hợp vì cùng thực hiện hành vi như nhau nhưng chỉ cá nhân bị truy cứu còn pháp nhân thương mại được loại trừ trách nhiệm hình sự; xét về đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của cá nhân phạm tội cũng không đúng vì không xét đến tình tiết phạm tội có tổ chức cũng như không đánh giá hết vai trò của người phạm tội. Ngoài ra, điểm a khoản 1 Điều 85 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định khi các pháp nhân thương mại câu kết với nhau để phạm tội thì đây sẽ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho pháp nhân. Việc “câu kết với nhau để phạm tội” có được coi là đồng phạm không và nếu đồng phạm thì vai trò của các pháp nhân thương mại trong đồng phạm cũng cần phải được quy định rõ như với cá nhân thì việc lượng hình mới chính xác. Với các quy định hiện nay trong Bộ luật Hình sự thì khi các pháp nhân thương mại câu kết với nhau hoặc với các cá nhân để lấn đất, chiếm đất… gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội không những không bị coi là đồng phạm mà những hành vi này còn không bị coi là tội phạm.

Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng cho cả pháp nhân thương mại. Vì vậy, khi pháp nhân thương mại câu kết với nhau hay với cá nhân khác để phạm tội thì cũng bị coi là đồng phạm theo Điều 17. Khi xem xét một số quy định trong phần chung của Bộ luật Hình sự năm 2015 (như Điều 3 về nguyên tắc xử lý), nhà làm luật đã tách thành 2 khoản: khoản 1 là đối với người phạm tội và khoản 2 đối với pháp nhân thương mại… Điều này có nghĩa Bộ luật Hình sự năm 2015 có sự tách bạch giữa pháp nhân và cá nhân; trường hợp quy định riêng về cá nhân phạm tội Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn sử dụng thuật ngữ “người phạm tội”. Nghiên cứu cho thấy, khi chưa có quy định khác cụ thể hơn thì không thể mặc định xem chữ “người” trong Điều 17 đã bao gồm cả pháp nhân thương mại. Vì vậy, để bảo đảm nguyên tắc pháp chế cũng như thống nhất trong thực tiễn áp dụng cần có quy định cụ thể về trường hợp pháp nhân thương mại đồng phạm.

Thứ ba, các pháp nhân thương mại có phải chịu trách nhiệm hình sự khi thành viên của tổ chức mình đưa hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn để được phân, cấp đất trái quy định không. Thực tế cho thấy có những trường hợp doanh nghiệp phải “bôi trơn” để được lợi khi phân cấp đất[1]. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ mới truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân là chưa thỏa đáng và chưa bảo đảm công bằng; đặc biệt, quy định này sẽ dẫn tới các doanh nghiệp không những không sợ mà Hội đồng quản trị, Ban giám đốc điều hành công ty tiếp tục thực hiện hành vi “mượn tay” của các cá nhân làm thuê để đưa hối lộ cho các quan chức, nếu bị phát hiện thì chỉ cá nhân đưa hối lộ đó sẽ chịu trách nhiệm hình sự, thậm chí các cá nhân đứng đầu các doanh nghiệp cũng có thể “mượn danh”, “núp bóng” pháp nhân thương mại để thực hiện hành vi của mình.

1.2. Về hành vi phạm tội trong lĩnh vực đất đai

Thứ nhất, tội vi phạm quy định về sử dụng đất đai ở Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định những hành vi sau là tội phạm: lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai”. Ở tội danh này có 03 hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự là lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất và sử dụng đất trái pháp luật. Nếu đối chiếu với Điều 11 Luật Đất đai năm 2024 thì có điểm chưa tương thích. “Lấn chiếm đất” thực chất là hai hành vi vi phạm là lấn đất và chiếm đất. Việc Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “lấn chiếm đất” mới là tội phạm thì khi một chủ thể chỉ có hành vi lấn đất nhưng không có hành vi chiếm đất và ngược lại thì không xử lý hình sự được và quy định như vậy là không phù hợp vì hai hành vi này độc lập với nhau, cũng có thể vừa lấn, vừa chiếm nhưng không phải mọi trường hợp đều như vậy. Ngoài ra, thực tiễn còn đặt ra vấn đề: người có hành vi hủy hoại đất, gây thiệt hại nghiêm trọng cho quyền sử dụng đất của người hoặc tổ chức khác thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Có ý kiến cho rằng hành vi hủy hoại đất có thể được xếp là hành vi sử dụng đất trái pháp luật. Tuy nhiên, dựa vào thực tiễn và quy định ở Điều 11 Luật Đất đai năm 2024 cho thấy hành vi hủy hoại đất và sử dụng đất trái quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai là hai hành vi độc lập. Hành vi hủy hoại đất là cố ý làm cho đất không còn giá trị sử dụng trong khi sử dụng đất trái pháp luật là hành vi sử dụng đất không đúng mục đích, công năng như đất nông nghiệp lại dùng để xây công trình nhà ở hay xây thành các tổ hợp phục vụ cho nhu cầu giải trí.

Hành vi tiếp theo cũng cần phải xem xét đó là hành vi đào đất bán nhằm thu lợi bất chính với số lượng lớn có vi phạm quy định về sử dụng đất hay không và nếu có thì nó là hành vi cụ thể nào. Có quan điểm cho rằng hành vi này được xếp chung vào “sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai” nhưng cũng có quan điểm khác cho rằng “đất bị đào để bán” có thể được coi là khoáng sản nên hành vi đào đất số lượng lớn để bán đã thuộc tội danh vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên ở Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nghiên cứu cho thấy, hành vi này thuộc quy định tại Điều 228, liên quan đến lĩnh vực đất đai mà không phải tài nguyên. Vì thế, để tránh có cách hiểu khác nhau cần phải có văn bản hướng dẫn cụ thể trường hợp này để có sự phân định rõ ràng trong quá trình áp dụng trên thực tế.

Ngoài ra, đối với một số hành vi vi phạm hành chính liên quan đến lĩnh vực đất đai như “tự ý đào, đắp, san, lấp mặt bằng trong hành lang an toàn đường bộ” bị xử phạt hành chính theo Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt và Nghị định số 107/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 171/2013/NĐ-CP, nghiên cứu cho thấy, hành vi này nếu chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính là chưa đầy đủ và không đủ để răn đe, phòng ngừa. Trường hợp hành vi này gây ra những hậu quả lớn cho xã hội như thiệt hại về tài sản khi Nhà nước phải bỏ ra để khắc phục hoặc vì việc đào, đắp, san, lấp đó gây ra tai nạn thiệt hại về người, tài sản… hoặc ảnh hưởng lớn tới sinh hoạt cũng như kinh doanh của người dân nếu chỉ bị xử phạt hành chính với mức 03 triệu đến 05 triệu đồng như hiện nay là chưa phù hợp, nhiều người sẵn sàng vì lợi ích cá nhân, chấp nhận bị xử phạt mà có các hành vi trái phép đối với hành lang an toàn đường bộ. Vì vậy, hành vi này cần được quy định trong Luật Đất đai năm 2024 và tiến tới xem xét để tội phạm hóa với tội danh cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ hai, tội vi phạm quy định về quản lý đất đai ở Điều 229 Bộ luật Hình sự năm 2015 liệt kê những hành vi phạm tội: “lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái quy định của pháp luật”, nghĩa là chỉ những hành vi này mới bị coi là vi phạm quy định về quản lý đất đai và mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, Điều 240 Luật Đất đai năm 2024 quy định ngoài các hành vi trên còn liệt kê thêm một số hành vi khác như “lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quản lý hồ sơ địa chính, đăng ký giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, ra quyết định hành chính trong quản lý đất đai”. Ngoài một số hành vi đã được quy định trong Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 2015 là bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, rõ ràng còn nhiều hành vi khác chưa được tội phạm hóa. Xét về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi được liệt kê trên, với các hành vi đã được quy định cụ thể trong Điều 229 Bộ luật Hình sự thì “không thua kém”. Vì vậy, nếu không truy cứu trách nhiệm hình sự những hành vi như “lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trưng dụng đất…” là không phù hợp vì bỏ lọt tội phạm.

2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những phân tích trên, nghiên cứu cho thấy, để bảo đảm tính đồng bộ giữa Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định sau:

2.1. Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2015

- Để truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong lĩnh vực đất đai, Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015 cần bổ sung thêm các tội danh mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 228, 364:

“Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại một trong các điều 188, 189… 228, …, 364 của Bộ luật này”. Cụ thể:

“Điều 228. Tội vi phạm quy định về sử dụng đất đai

4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng.

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.

c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm”.

- Để có cơ sở pháp lý xử lý pháp nhân thương mại khi đồng phạm, Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 cần quy định thêm một khoản: “5. Các pháp nhân thương mại khi có sự câu kết để thực hiện tội phạm thì được áp dụng theo quy định tại Điều này”.

- Trong thời gian tới, khi đã có quá trình xử phạt vi phạm hành chính mới các mức phạt tương xứng đối với hành vi “hủy hoại đất đai”, “tự ý đào, đắp, san, lấp mặt bằng trong hành lang an toàn đường bộ”, nếu thấy hành vi này không có dấu hiệu “hạ nhiệt” cả về tính chất nguy hiểm lẫn số lượng, cần phải nghiên cứu, xem xét để tội phạm hóa hành vi “hủy hoại đất đai”, “tự ý đào, đắp, san, lấp mặt bằng trong hành lang an toàn đường bộ” vào Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng như chia tách hành vi lấn đất và chiếm đất thành hành vi riêng biệt. Cụ thể:

Điều 228: “Người nào lấn đất, chiếm đất, hủy hoại đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, tự ý đào, đắp, san, lấp mặt bằng trong hành lang an toàn đường bộ đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

- Cần bổ sung hành vi phạm tội vào Điều 229 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

“Người nào lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trưng dụng đất, giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái quy định của pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

2.2. Sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2024

Để tránh bỏ lọt hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai, tạo sự đồng bộ giữa Luật Đất đai và Bộ luật Hình sự, nghiên cứu đề xuất bổ sung thêm các hành vi sau đây vào Điều 11 Luật Đất đai:

“Điều 11. Hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực đất đai:

+ Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định của pháp luật về quản lý đất đai;

+ Đào đất bán nhằm thu lợi bất chính;

+ Tự ý đào, đắp, san, lấp mặt bằng trong hành lang an toàn đường bộ”.

ThS. Phạm Thanh Tú

Khoa Luật, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo đánh giá tình hình thi hành Luật Đất đai năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngày 03/8/2022.

2. Báo cáo Tổng hợp kết quả lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) của Chính phủ ngày 26/4/2023.

3. Nguyễn Văn Sơn (2020), “Bàn về tội vi phạm quy định về quản lý đất đai và một số kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, 2/2020.

4. Phạm Thanh Tú (2023), “, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 3/2023.

5. “Thực trạng quy định pháp luật về điều tra, xử lý các tội phạm về đất đai”, http://tailieu.quochoi.vn:8080/index.php/tin-tuc/tin-tuc-ho-tro-boi-duong/item/2242-th-c-tr-ng-quy-d-nh-phap-lu-t-v-di-u-tra-x-ly-cac-t-i-ph-m-v-d-t-dai, truy cập ngày 19/3/2025.


[1] https://vov.vn/kinh-te/tien-doanh-nghiep-boi-tron-nhieu-khong-kem-tien-mua-dat-post956624.vov, truy cập ngày 20/2/2025.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: