

Nhận diện những biến đổi của phân tầng xã hội
Phát biểu khai mạc Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Văn Quang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội cho biết, phân tầng xã hội là một hiện tượng xã hội khách quan trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Sự khác biệt về thu nhập, tài sản, nghề nghiệp, trình độ học vấn và cơ hội tiếp cận các nguồn lực tạo nên những vị thế xã hội khác nhau giữa các nhóm dân cư. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để những khác biệt này không chuyển hóa thành bất bình đẳng mang tính cấu trúc, mà được điều tiết thông qua chính sách và pháp luật nhằm bảo đảm công bằng xã hội, duy trì ổn định và thúc đẩy phát triển bền vững.
Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Quang, sau 40 năm đổi mới, cùng với những biến đổi về cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội và đời sống của các tầng lớp dân cư, sự khác biệt về thu nhập, nghề nghiệp, trình độ học vấn, điều kiện sống và cơ hội phát triển cũng ngày càng đa dạng. Đặc biệt, trong kỷ nguyên số, sự không đồng đều về năng lực sử dụng công nghệ và khả năng chuyển hóa nguồn lực số giữa các nhóm xã hội có thể góp phần duy trì, làm sâu sắc hoặc tái cấu trúc các dạng thức phân tầng hiện có, đồng thời tạo ra những hình thức phân hóa mới.
Từ thực tiễn đó, việc kiểm soát phân tầng xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số cần được tiếp cận toàn diện, trong đó chính sách và pháp luật giữ vai trò điều tiết các quan hệ xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các nhóm xã hội, đồng thời định hướng việc phân bổ và thụ hưởng các nguồn lực phát triển. Hội thảo là diễn đàn để các nhà khoa học, chuyên gia nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn và gợi mở các giải pháp chính sách, pháp luật phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững.
![]() |
| PGS.TS. Nguyễn Văn Quang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội phát biểu khai mạc Hội thảo |
Từ góc độ lý luận, TS. Ngọ Văn Nhân, Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng, nghiên cứu về phân tầng xã hội cần được tiếp cận liên ngành, với sự kết nối giữa triết học, xã hội học và luật học. Trên cơ sở phân tích các lý thuyết về phân tầng xã hội, ông phân biệt phân tầng xã hội hợp thức và phân tầng xã hội không hợp thức. Trong đó, phân tầng hợp thức dựa trên tài năng, trí tuệ, đức độ, sự nỗ lực và đóng góp của cá nhân; ngược lại, phân tầng không hợp thức gắn với những hành vi như gian lận, tham nhũng, lạm quyền, chạy chức, chạy quyền, qua đó có thể làm thất thoát các nguồn lực công.
Về kiểm soát phân tầng xã hội, TS. Ngọ Văn Nhân xác định đây là tổng thể các biện pháp về chính sách, pháp luật, quản lý và giám sát nhằm kiểm soát sự chênh lệch, bảo đảm mức độ phân hóa giàu nghèo không vượt quá giới hạn cho phép, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội và duy trì ổn định. Việc kiểm soát được thực hiện cả thông qua các cơ chế chính thức của Nhà nước và những cơ chế phi chính thức dựa trên chuẩn mực đạo đức, dư luận xã hội, vai trò của truyền thông, báo chí.
Từ đó, TS. Ngọ Văn Nhân đưa ra định hướng tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến thu nhập, an sinh xã hội, tiến bộ và công bằng xã hội; thúc đẩy các hình thức phân tầng dựa trên năng lực, đóng góp và phù hợp pháp luật. Trong bối cảnh chuyển đổi số, cần quan tâm đến khả năng tiếp cận và thụ hưởng thành quả công nghệ của các nhóm xã hội, đồng thời tăng cường các chính sách, biện pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nhằm bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn lực công.
![]() |
| Toàn cảnh Hội thảo |
Từ phân tầng truyền thống đến những khoảng cách mới trong kỷ nguyên số
Một trong những vấn đề được các đại biểu tập trung phân tích là tác động của dữ liệu, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đối với sự phân hóa xã hội. PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Học viện Hành chính và Quản trị công cho rằng, trong kỷ nguyên số, dữ liệu, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo ngày càng trở thành những nguồn lực quan trọng của nền kinh tế và xã hội. Bên cạnh các yếu tố truyền thống như vốn, đất đai, việc làm và các thiết chế xã hội, khả năng tiếp cận hạ tầng số, dữ liệu, công nghệ, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo cũng ngày càng tác động đến vị thế của cá nhân, nhóm xã hội, qua đó tạo ra những khác biệt mới.
Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà, chính sách, pháp luật cần chuyển từ việc chỉ bảo đảm quyền tiếp cận sang bảo đảm khả năng hưởng lợi của người dân từ các nguồn lực số; coi quyền số là một thành tố của chính sách xã hội và kiểm soát sự tập trung quyền lực công nghệ. Điều này đòi hỏi phải quan tâm đến năng lực sử dụng công nghệ của người dân, nhất là những nhóm gặp khó khăn trong tiếp cận các nguồn lực mới.
Từ góc độ này, PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà đề xuất xây dựng nguyên tắc công bằng số như một nguyên tắc xuyên suốt trong chính sách phát triển; đồng thời bổ sung đánh giá tác động phân tầng xã hội trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật về số. Đối với dữ liệu, cần hoàn thiện quy định theo hướng vừa thúc đẩy khai thác, vừa kiểm soát quyền lực dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân; thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực thuật toán, bảo đảm không phân biệt đối xử bằng trí tuệ nhân tạo. Cùng với đó, cần hoàn thiện chính sách lao động, an sinh xã hội trước những biến đổi của thị trường lao động trong môi trường số. Theo bà, chính sách, pháp luật cần hướng tới mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau” khi các hình thức phân tầng xã hội đang có những biến đổi mới.
Ở một góc tiếp cận khác, một số đại biểu nhận định kiểm soát phân tầng xã hội không đồng nghĩa với việc xóa bỏ sự khác biệt về mức sống hay hạn chế động lực làm giàu. Vấn đề quan trọng là xác định mức độ phân tầng phù hợp, vừa tạo động lực phát triển, vừa bảo đảm các nhóm có hoàn cảnh khó khăn có cơ hội cải thiện vị thế của mình.
Theo đại biểu, cần chú trọng tạo cơ hội tương đối bình đẳng giữa các nhóm xã hội, nhất là trong giáo dục, việc làm và cơ chế tuyển chọn nhân tài. Khi cơ hội được mở rộng, những cá nhân có năng lực có điều kiện dịch chuyển giữa các tầng lớp xã hội, qua đó hạn chế sự phân tầng cứng nhắc và tạo thêm động lực phát triển.
Một số đại biểu cũng đề nghị tiếp tục nghiên cứu xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật như một chuẩn mực trong toàn bộ vòng đời của chính sách, pháp luật, gắn đánh giá tác động trong quá trình xây dựng với hiệu quả tổ chức thi hành. Đồng thời, cần làm rõ nội hàm của mục tiêu hài hòa các quan hệ xã hội, có thể tiếp cận từ các khía cạnh hài hòa, cân bằng và tương xứng nhằm bảo đảm sự phù hợp giữa các nhóm lợi ích trong xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào công việc công
Từ góc độ quyền tham gia của người dân, GS.TS. Vũ Công Giao, Trường Đại học Luật Hà Nội nhấn mạnh, bảo đảm quyền tham gia vào công việc công góp phần hạn chế những tác động tiêu cực của phân tầng xã hội. Quyền này không chỉ là quyền bỏ phiếu mà còn bao gồm tham gia thảo luận, đối thoại và đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng, thực hiện chính sách công.
Theo ông, cần chuyển từ bình đẳng hình thức sang bình đẳng thực chất, trong đó Nhà nước có trách nhiệm tháo gỡ những rào cản về thông tin, thời gian, chi phí, ngôn ngữ và điều kiện tiếp cận để các nhóm xã hội có hoàn cảnh khác nhau có thể thực hiện quyền tham gia trên thực tế. Sự khác biệt về thu nhập, thời gian, trình độ học vấn, thông tin và các nguồn lực xã hội cũng có thể dẫn đến sự khác biệt về khả năng tham gia vào quá trình hoạch định chính sách.
GS.TS. Vũ Công Giao lưu ý cần hoàn thiện pháp luật về quyền tham gia của người dân, quy định rõ hơn về thông tin, thời hạn, đối tượng và phương thức tham vấn. Đối với những chính sách có tác động lớn đến xã hội, cần xác định sớm các nhóm chịu tác động, đánh giá lợi ích, chi phí và rủi ro, đồng thời có cơ chế tiếp nhận, phản hồi ý kiến cụ thể. Cùng với đó, cần có biện pháp hỗ trợ phù hợp đối với người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và những người gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin.
Kinh nghiệm quốc tế và vấn đề thu hẹp khoảng cách giáo dục
Từ kinh nghiệm quốc tế, TS. Phan Cao Nhật Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhận định, quá trình chuyển đổi số trong giáo dục tại Ấn Độ cho thấy công nghệ có thể góp phần thu hẹp khoảng cách về địa lý và cơ hội học tập giữa các nhóm xã hội. Thông qua phát triển hạ tầng số, mở rộng dịch vụ trực tuyến, xây dựng các nền tảng học tập miễn phí và hỗ trợ giáo viên, Ấn Độ từng bước tạo thêm điều kiện học tập cho người dân ở các khu vực và tầng lớp khác nhau. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đối mặt với những thách thức về chất lượng giáo dục, năng lực số của người học và giáo viên, tính thống nhất của học liệu và chênh lệch hạ tầng giữa các khu vực.
Từ kinh nghiệm trên, TS. Phan Cao Nhật Anh kiến nghị Việt Nam tiếp tục đầu tư hạ tầng kỹ thuật số, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ cho giáo viên, học sinh và người dân, đồng thời tăng cường quản lý, bảo mật dữ liệu số. Theo ông, số hóa giáo dục cần đi cùng các điều kiện bảo đảm về hạ tầng, kỹ năng và an toàn dữ liệu, qua đó thúc đẩy học tập suốt đời và thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các nhóm xã hội.
Một số hình ảnh đại biểu phát biểu tại Hội thảo:



