Thứ sáu 01/05/2026 23:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế

Tóm tắt: Chức năng quản lý văn hóa, giáo dục là chức năng rất quan trọng, có ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến hầu hết các hoạt động của Nhà nước Việt Nam và nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống văn hóa, xã hội. Mặt khác, văn hóa, giáo dục luôn là lĩnh vực nhạy cảm và phức tạp, vì vậy, hình thức và phương pháp thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hội nhập quốc tế luôn cần phải có sự xem xét để điều chỉnh kịp thời.

Abstract: Cultural, educational management function is a very important function which directly affects and impacts on most of the activities of the Vietnamese State and different fields of the life, culture and society. On the other hand, the culture, education have been always sensitive and complicated fields. Therefore, the form and method of implementation of management function of culture, education in the phase of international integration, should always be reviewed for timely adjustment.

Trong giai đoạn bùng nổ của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, dưới tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ của các nền văn hóa, giáo dục đến từ các quốc gia khác nhau, chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Việt Nam đang gặp những khó khăn, thách thức. Để quản lý nền văn hóa, giáo dục của Việt Nam phù hợp và thích ứng với các biến động của xu thế hội nhập, đòi hỏi chức năng quản lý văn hóa, giáo dục phải đổi mới về hình thức và cả phương pháp thực hiện. Tuy nhiên, hình thức và phương pháp thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay như thế nào, hiệu quả mang lại trên thực tế ra sao là những vấn đề rất cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu. Trên cơ sở này, tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế.

1. Các hình thức chủ yếu thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế

Hình thức thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế bao gồm hai nội dung chính đó là: Hình thức mang tính pháp lý và hình thức không mang tính pháp lý.

1.1. Về hình thức pháp lý

Thứ nhất, Nhà nước xây dựng chính sách pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hội nhập quốc tế

Về cơ bản, đây là cả một quá trình hoạt động rất rộng bao gồm tất cả các khâu từ việc nghiên cứu, đánh giá các nhu cầu phát triển của văn hóa, giáo dục, thực trạng của văn hóa, giáo dục, xác định các giải pháp, chủ trương, chính sách, cơ chế tổ chức hoạt động của các thiết chế văn hóa, giáo dục đến việc xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ liên quan đến văn hóa, giáo dục. Tất cả các công việc trên sẽ được Nhà nước tổng hợp lại, từ đó mới có thể ban hành ra hệ thống văn bản pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục. Tuy nhiên, trong giai đoạn hội nhập quốc tế, việc ban hành chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục còn bị chi phối và ảnh hưởng bởi các yếu tố hội nhập. Các nền văn hóa, giáo dục từ nước ngoài được du nhập vào Việt Nam, đã tác động và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa, tinh thần và hệ thống giáo dục, đào tạo của Việt Nam. Vì vậy, trong giai đoạn hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục luôn được xây dựng theo hướng sẵn sàng chủ động đối phó với những tác động tiêu cực của hội nhập quốc tế. Đồng thời, phát huy, giữ gìn bản sắc, truyền thống văn hóa lâu đời và bảo vệ hệ thống giáo dục đào tạo của Việt Nam.

Thứ hai, Nhà nước tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hội nhập quốc tế

Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục là hoạt động tổ chức mang tính bắt buộc của Nhà nước. Bên cạnh Nhà nước là người trực tiếp thực hiện, còn có sự trợ giúp của cả xã hội nhằm đưa các quy phạm pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục vào thực tiễn đời sống xã hội. Các công việc chủ yếu của nội dung hoạt động tổ chức này gồm: Tuyên truyền, phổ biến, giải thích, giáo dục chính sách, pháp luật về văn hóa, giáo dục; tạo mọi điều kiện cần thiết để thi hành chính sách, pháp luật về văn hóa, giáo dục[1]...

Thứ ba, Nhà nước bảo vệ chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hội nhập quốc tế

Hoạt động này bao gồm hai nội dung chính, đó là kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục và công tác xử lý các vi phạm chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục. Đối với từng công tác đều có những yêu cầu và nhiệm vụ riêng: - Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục và bảo vệ chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục là những hình thức hoạt động đặc trưng của Nhà nước. Hoạt động này được tiến hành nhằm đảm bảo cho việc thực hiện chính sách, pháp luật về văn hóa, giáo dục được đúng với tinh thần và mục tiêu do Nhà nước đề ra. Mục đích của hoạt động này là nhằm phát hiện nhanh chóng các sai lầm, thiếu sót để kịp thời khắc phục, xử lý[2]. - Công tác xử lý các vi phạm chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục cũng đang được tiến hành khẩn trương, liên tục. Trên thực tế, đã phát hiện nhiều vi phạm như hành vi ăn cắp bản quyền tác giả trong nhiều lĩnh vực âm nhạc, điện ảnh, nghệ thuật… Về cơ bản, chúng ta đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn và áp dụng những chế tài xử lý thích đáng nhằm xử lý những hành vi này. Mặc dù vậy, trên thực tế, tình trạng vi phạm pháp luật vẫn có xu hướng gia tăng.

Thứ tư, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hội nhập quốc tế

Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng thì văn hóa, giáo dục là hai lĩnh vực nhạy cảm và phức tạp. Chúng thường xuyên biến đổi về nội dung và hình thức trước sự tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ từ bên ngoài. Ngoài ra, do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội thì việc điều chỉnh chính sách pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục lại càng cấp bách hơn trước. Trước tình hình đó, Nhà nước luôn có sự thay đổi nội dung, hình thức và phương pháp quản lý nhà nước đối với văn hóa, giáo dục. Đối với công tác tổ chức, quản lý, xây dựng và ban hành các chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục thì Nhà nước luôn là chủ thể chủ yếu. Vì thế, Nhà nước phải có trách nhiệm thường xuyên hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục để điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh liên quan đến văn hóa, giáo dục.

1.2. Về hình thức không mang tính pháp lý

Bên cạnh việc áp dụng chính thức các hình thức pháp lý thì Nhà nước cũng luôn tiến hành song song các hình thức không mang tính pháp lý khác. Các hình thức không mang tính pháp lý này bao gồm tổ chức hội thảo khoa học về văn hóa, giáo dục; hội nghị thi đua ngành văn hóa, giáo dục; hội nghị triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về văn hóa, giáo dục; hay hội nghị tổng kết hoạt động các phong trào văn hóa, giáo dục… Nhìn chung, các hình thức này rất cần thiết để có thể nhanh chóng đưa các chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục vào đời sống và cũng có thể thông qua những buổi hội thảo hay phong trào này, từ đó, rút ra những sáng kiến kinh nghiệm quý giá, để có thể hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục.

2. Các phương pháp chung thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế

Các chức năng của Nhà nước được thực hiện thông qua các phương pháp hoạt động nhất định của bộ máy nhà nước[3]. Phương pháp thực hiện chức năng của Nhà nước là những biện pháp, cách thức mà Nhà nước tiến hành các hoạt động quản lý các lĩnh vực quan hệ xã hội. Phương pháp thực hiện chức năng do yêu cầu, mục tiêu chức năng của Nhà nước quyết định. Nói cách khác, tùy theo yêu cầu, mục tiêu, nội dung chức năng của Nhà nước mà có những cách thức thực hiện phù hợp. Trong lĩnh vực quản lý văn hóa, giáo dục, Nhà nước thường sử dụng phương pháp giáo dục - thuyết phục và phương pháp cưỡng chế. Hai phương pháp này luôn được Nhà nước sử dụng và kết hợp chặt chẽ với nhau.

2.1. Phương pháp giáo dục - thuyết phục

Trong thời đại thông tin, truyền thông phát triển rộng rãi và bao quát khắp nơi như hiện nay thì vấn đề giáo dục - thuyết phục ý thức, tư tưởng cho người dân là một vấn đề rất quan trọng đối với Nhà nước. Nhờ những phương tiện, thiết bị khoa học hiện đại trên, Nhà nước có thể dễ dàng giáo dục, quản lý xã hội để thông qua đó, đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả tính giáo dục và tính thuyết phục được người dân. Phương pháp giáo dục - thuyết phục luôn được xem là phương pháp chủ đạo của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Lĩnh vực văn hóa, giáo dục là các lĩnh vực rất nhạy cảm. So với các lĩnh vực khác của xã hội thì hoạt động văn hóa, giáo dục luôn có những điểm đặc thù riêng, vì nó liên quan trực tiếp đến đời sống văn hóa, tinh thần, nhân cách cao đẹp hay lối sống của từng con người. Tuy nhiên, trong thời đại hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay thì vấn đề này càng trở nên khó quản lý và điều chỉnh. Vì thế, phương pháp giáo dục - thuyết phục trong việc thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước cũng phải tính đến đặc điểm đó, để đạt được hiệu quả và mục đích đề ra. Ngoài ra, phương pháp giáo dục - thuyết phục cần phải được triển khai ở tất cả các hoạt động quản lý văn hóa, giáo dục, từ khâu hình thành cơ chế, chính sách, ban hành luật pháp đến tổ chức triển khai thi hành và kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm. Song song với việc giáo dục ý thức chính trị, chính sách, pháp luật thì công việc giáo dục đạo đức cũng cần phải được coi là giáo dục có tính nền tảng vô cùng quan trọng và phải tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi, đạo đức là gốc, là nền tảng của từng con người nên việc giáo dục đạo đức ngay từ khi còn nhỏ sẽ khiến con người có ý thức nhận biết và tự giác hành xử theo các yêu cầu, chuẩn mực của pháp luật. Không giáo dục tốt về mặt đạo đức thì việc sử dụng các phương pháp để quản lý văn hóa, giáo dục cũng sẽ rất khó khăn khi triển khai.

2.2. Phương pháp cưỡng chế

Trong nhà nước dân chủ thì phương pháp cưỡng chế vốn không được xem là phương pháp đặc trưng. Tuy nhiên, hiện nay, do ảnh hưởng của hội nhập quốc tế nên xã hội Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng du nhập văn hóa lai căng, hay từ những sản phẩm độc hại cho tâm hồn và nhân cách con người hoặc những biểu hiện lạc hậu, bất cập, xa rời thực tế của hệ thống giáo dục đào tạo. Bên cạnh đó, trong lĩnh vực quản lý văn hóa, giáo dục còn tồn tại khá nhiều chủ thể thường xuyên tìm cách vượt rào, trốn tránh sự quản lý của Nhà nước với âm mưu, thủ đoạn và cách thức tinh vi hơn trước. Bởi vậy, để có thể quản lý lĩnh vực văn hóa, giáo dục thì tùy từng trường hợp, Nhà nước sẽ phải sử dụng cả phương pháp cưỡng chế. Mặc dù vậy, Nhà nước và cả xã hội cùng cố gắng sử dụng sức mạnh của mình nhằm duy trì các hoạt động quản lý văn hóa, giáo dục sao cho các hoạt động này không vượt ra khỏi hành lang của cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì đó cũng có thể được quan niệm là sự cưỡng chế. Nói cách khác, cưỡng chế không nhất thiết phải là trừng trị, loại bỏ đối tượng. Đây thật sự là một cuộc “đấu tranh” đầy thử thách nhằm thiết lập, duy trì trật tự trên các lĩnh vực xã hội nói chung và hoạt động quản lý văn hóa, giáo dục nói riêng. Duy trì trật tự xã hội để cân bằng các xu hướng hoạt động và nhiều loại lợi ích khác nhau, đảm bảo lợi ích chung (lợi ích mà các cá nhân, nhóm xã hội chấp nhận) đó cũng chính là cưỡng chế của Nhà nước4. Một trong những đặc trưng của phương pháp cưỡng chế nhà nước đối với lĩnh vực quản lý văn hóa, giáo dục là thường xuyên quy định những hành vi nhất định bị cấm đoán. Đây là biểu hiện đặc trưng của việc sử dụng phương pháp cưỡng chế nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tại Việt Nam hiện nay. Do sự tác động của hội nhập quốc tế và biến đổi của xã hội, phương pháp cưỡng chế cũng có sự thay đổi. Phương pháp cưỡng chế có thể áp dụng rộng rãi các hình thức chế tài “đánh” vào lợi ích vật chất của người vi phạm. Điều này thích hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường khi mà lợi ích kinh tế luôn được các chủ thể tham gia chú trọng. Đây cũng là sự mềm dẻo hơn trong việc quản lý văn hóa, giáo dục. Nhằm mục đích nâng cao hiệu quả công tác quản lý lĩnh vực văn hóa, giáo dục thì bên cạnh việc sử dụng chủ yếu phương pháp thuyết phục - giáo dục và phương pháp cưỡng chế, Nhà nước còn sử dụng thêm các phương pháp khác như: Phương pháp tổ chức trực tiếp, tham gia, can thiệp vào những hoạt động cụ thể nào đó để đảm bảo mục tiêu chung của Nhà nước. Nhà nước cũng có thể hỗ trợ trực tiếp, kích thích hay kiềm chế bằng các công cụ tài chính, tiền tệ để đảm bảo cho hoạt động nào đó được diễn ra bình thường nhằm đảm bảo ổn định nền kinh tế, xã hội[5]…

3. Một vài kiến nghị

Một trong những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài về phát triển văn hóa, giáo dục chính là: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước”[6]. Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu trên thì hình thức và phương pháp thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hội nhập quốc tế cần thiết phải được hoàn thiện theo hướng:

Thứ nhất, về hình thức thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hội nhập quốc tế

Thực tế cho thấy, hình thức thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước còn khá nhiều bất cập. Trước hết, hệ thống pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục của Việt Nam hiện nay, được hình thành và kế thừa từ các giai đoạn phát triển trước đây. Bởi vậy, phần lớn văn bản quy phạm pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục của Việt Nam hiện nay đã trở nên lỗi thời, lạc hậu và không phù hợp với sự phát triển của môi trường văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hội nhập quốc tế. Mặt khác, việc sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục còn khá chậm chạp và chưa phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn xã hội. Chính vì vậy, để hình thức thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục có thể hoạt động hiệu quả hơn thì Nhà nước nên nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục từ các quốc gia có nền văn hóa, giáo dục và khoa học pháp lý tiên tiến, hiện đại. Trong đó, nên chú trọng nghiên cứu, tìm hiểu các quốc gia có điều kiện khá tương đồng với Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, Sin-ga-po. Mặt khác, cần phải chú trọng việc nghiên cứu truyền thống, bản sắc văn hóa lâu đời tại Việt Nam, để từ đó có phương hướng tiếp tục bảo tồn, phát huy những di sản văn hóa quan trọng này. Trong suốt quá trình xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục cần có sự tham gia góp ý của các chuyên gia văn hóa, giáo dục và chuyên gia pháp lý trong và ngoài nước. Đối với dự thảo các văn bản pháp luật có quy mô lớn về quản lý văn hóa, giáo dục thì trước và trong suốt quá trình xây dựng, Nhà nước nên tổ chức trưng cầu dân ý để lấy ý kiến góp ý từ tất cả tầng lớp nhân dân. Có như vậy, hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý văn hóa, giáo dục của Việt Nam mới thực sự đổi mới và phù hợp với các điều kiện và hoàn cảnh của giai đoạn hội nhập quốc tế.

Thứ hai, về phương pháp thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục trong giai đoạn hội nhập quốc tế

Để có thể đạt hiệu quả tốt trong việc thực hiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục thì đòi hỏi Nhà nước phải kết hợp sử dụng hợp lý, khoa học giữa phương pháp giáo dục - thuyết phục và phương pháp cưỡng chế. Tuy nhiên, theo tác giả, sẽ là hiệu quả tốt hơn khi Nhà nước chú trọng khai thác sử dụng nhiều hơn phương pháp cưỡng chế. Theo đó, phương pháp cưỡng chế nên xây dựng theo hướng tăng cường mạnh mẽ chế tài xử lý các vi phạm trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục. Chúng ta có thể kết hợp các chế tài xử phạt kinh tế với chế tài hình sự để trừng trị nghiêm khắc những chủ thể cố tình vi phạm. Sở dĩ như vậy là vì không thể chỉ dựa vào việc động viên, thuyết phục hay sử dụng lợi ích để tác động đến các chủ thể cố tình chống đối, cản trở hoặc bất hợp tác với cơ quan nhà nước. Trên thực tế, tình trạng “nhờn” luật đang diễn ra khá phổ biến. Chính vì thế, cần phải nghiêm khắc trừng phạt các chủ thể vi phạm, để qua đó còn làm gương cho các chủ thể khác. Về lâu dài, khi ý thức tuân thủ pháp luật của người dân tốt hơn thì mới có thể giảm dần phương pháp này. Hiện nay, dưới tác động của hội nhập văn hóa, giáo dục và khi đời sống ngày càng được cải thiện thì các vấn đề văn hóa, giáo dục càng được đông đảo các tầng lớp nhân dân quan tâm. Bởi, đây đều là các nhu cầu cấp thiết của xã hội hiện đại. Vì thế, chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước cũng cần có sự đổi mới về tư duy quản lý để kịp thời điều tiết nền văn hóa, giáo dục phát triển tiên tiến, hiện đại nhưng vẫn đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

TS. Nguyễn Vinh Hưng

Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Vinh Hưng (2011), Chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 28.

[2]. Nguyễn Vinh Hưng (2011), Chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, sđd, tr. 29.

[3]. Nguyễn Văn Động (2010), Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, tr. 44.

[4]. Nguyễn Văn Động (chủ biên), Chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, Đề tài khoa học cấp trường Đại học Luật Hà Nội năm 2008, tr. 88.

[5]. Nguyễn Vinh Hưng (2011), Chức năng văn hóa - giáo dục của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, sđd, tr. 32 - 33.

[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Hà Nội, tr. 21 - 22.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: