Thứ năm 05/03/2026 17:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức và đề xuất, kiến nghị

Bài viết chỉ ra những bất cập về nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức và từ đó, đề xuất kiến nghị giúp khắc phục bất cập trong công tác xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.

Đặt vấn đề

Pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức quy định hệ thống nguyên tắc xử lý kỷ luật làm cơ sở định hướng cho hoạt động thực thi. Các nguyên tắc này giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm tính thống nhất, khách quan và đúng định hướng chính trị trong công tác cán bộ. Các nguyên tắc về xử lý cán bộ, công chức, viên chức không những tạo khung pháp lý điều chỉnh chung mà còn góp phần định hướng tư duy lập pháp, hạn chế sự tùy nghi, cảm tính khi áp dụng chế tài kỷ luật. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn tồn tại những điểm bất cập trong nội dung và cấu trúc các nguyên tắc hiện hành gây khó khăn cho công tác áp dụng. Do đó, việc rà soát, phân tích và hoàn thiện hệ thống nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức là một yêu cầu cần thiết nhằm tăng cường hiệu quả quản lý công vụ, đồng thời thể hiện rõ tinh thần kỷ cương, minh bạch trong bộ máy nhà nước.

1. Khái quát về nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức

Trong khoa học pháp lý, nguyên tắc được hiểu là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo mang tính định hướng[1], làm cơ sở cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật thống nhất. Nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức đóng vai trò định hình phương pháp tiếp cận, bảo đảm việc xử lý được thực hiện theo tinh thần khách quan, công bằng, nghiêm minh và hiệu quả. Do đó, khác với các quy định cụ thể về xử lý kỷ luật, nguyên tắc xử lý kỷ luật được sử dụng như một quy định dẫn đường, vừa có ý nghĩa trong việc định hướng cho các quy định cụ thể, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, vừa có vai trò đặc biệt trong việc hiểu đủ, hiểu đúng việc áp dụng các quy định cụ thể.

Nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức có tính ứng dụng cao trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật vì có khả năng bù đắp những khoảng trống của quy định pháp luật. Trong trường hợp các quy định pháp luật chưa đáp ứng được nhu cầu hoặc tính kịp thời thì các nguyên tắc với những tư tưởng sẵn có sẽ hóa giải và giúp cho việc xử lý kỷ luật được thông suốt, khách quan. Đây là nhóm quy định song hành và bắt buộc đối với chế định pháp luật về trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm kỷ luật nói riêng. So với các quy định xử lý kỷ luật chi tiết, các nguyên tắc có tính bao quát hơn và luôn được vận dụng trong mọi trường hợp xử lý kỷ luật ở các mức độ khác nhau. Bất kể hoạt động xử lý kỷ luật nào không được “dẫn đường” từ các nguyên tắc đều có nguy cơ không bảo đảm khách quan, công bằng và nghiêm minh.

Nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức thuộc nhóm quy phạm có tính ổn định cao so với các quy định chi tiết nhưng dù việc xử lý kỷ luật có thể thay đổi như thế nào thì mục tiêu cuối cùng vẫn phải bảo đảm là tính khách quan, công bằng và nghiêm minh. Đó là tinh thần cốt lõi mà nguyên tắc xử lý kỷ luật hướng tới. Vì vậy, sự thay đổi của nguyên tắc xử lý kỷ luật chỉ có thể đặt ra khi có những thay đổi lớn trong chính sách xử lý kỷ luật, nhằm thực hiện một nhiệm vụ chính trị nhất định. Tuy nhiên, tinh thần khách quan, công bằng, nghiêm minh của nguyên tắc luôn phải được bảo đảm xuyên suốt. Do đó, sự cẩn trọng trong xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức bằng việc am hiểu và vận dụng đúng, kịp thời các nguyên tắc là một yêu cầu mang tính thực tiễn và thiết yếu.

2. Nội dung nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức trong pháp luật hiện hành

Nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức được quy định tại Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP ngày 20/9/2023 của Chính phủ (Nghị định số 112/2020/NĐ-CP). Bao gồm 11 nguyên tắc, có thể chia thành các nhóm theo tính chất và mục đích áp dụng như sau:

Thứ nhất, nhóm các nguyên tắc chung áp dụng xuyên suốt quá trình xử lý kỷ luật.

Đây là những nguyên tắc mang tính dẫn đường, đưa ra những quan điểm chung cần được quán triệt và bảo đảm trong suốt quá trình xử lý kỷ luật. Nhóm này được áp dụng xuyên suốt trong quá trình xử lý, trong mọi giai đoạn, mọi phương diện của cơ chế xử lý kỷ luật gồm các nguyên tắc sau: (i) bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh, chính xác, kịp thời; đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; (ii) xử lý kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, thái độ tiếp thu và sửa chữa; việc khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả; các trường hợp khác; (iii) nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, tinh thần, danh dự, nhân phẩm trong quá trình xử lý kỷ luật.

Thứ hai, nhóm các nguyên tắc về xác định hình thức kỷ luật.

Đây là nhóm các nguyên tắc có tính ứng dụng cao, được vận dụng trực tiếp trong việc xác định hình thức kỷ luật cụ thể trong từng trường hợp cụ thể các nguyên tắc sau: (i) mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trong cùng một thời điểm xem xét xử lý kỷ luật, nếu cán bộ, công chức, viên chức có từ 02 hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận về từng hành vi vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm. Đây là một trong những nguyên tắc có tính mới đặc trưng, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP. Điểm mới của nguyên tắc này tác động lớn đến kết quả xử lý kỷ luật so với quy định cũ. Cụ thể, cùng thuộc trường hợp “Trong cùng một thời điểm xem xét xử lý kỷ luật, nếu cán bộ, công chức, viên chức có từ 02 hành vi vi phạm trở lên” thì việc xử lý kỷ luật sẽ được thực hiện với từng hành vi, trong đó khi tổng hợp hình thức kỷ luật cuối cùng thì với quy định hiện hành, hình thức kỷ luật được tổng hợp là “hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm”. Trong khi đó, theo quy định cũ thì hình thức kỷ luật được tổng hợp sẽ là hình thức kỷ luật cao hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng với vi phạm nặng nhất; (ii) áp dụng hình thức kỷ luật nặng nhất trong số các hình thức kỷ luật nếu trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật tiếp tục có hành vi vi phạm mới; (iii) không áp dụng hình thức xử phạt hành chính hoặc hình thức kỷ luật Đảng thay cho hình thức kỷ luật hành chính; xử lý kỷ luật hành chính không thay cho truy cứu trách nhiệm hình sự nếu vi phạm đến mức bị xử lý hình sự; (iv) hình thức kỷ luật hành chính phải bảo đảm tương xứng với kỷ luật về Đảng. Hình thức kỷ luật Đảng thay đổi thì hình thức kỷ luật hành chính cũng phải thay đổi tương ứng; (v) áp dụng tình tiết tái phạm nếu người vi phạm có cùng hành vi vi phạm trong khoản thời gian 24 tháng kể từ ngày có quyết định xử lý kỷ luật lần đầu.

Thứ ba, nhóm các nguyên tắc xác định thẩm quyền xử lý kỷ luật, thành viên hội đồng xử lý kỷ luật.

Nhóm nguyên tắc này mang tính kỹ thuật tổ chức, ứng dụng trong việc xác định chủ thể và thành phần Hội đồng kỷ luật bảo đảm hợp lý, khách quan gồm các nguyên tắc sau: (i) cơ quan, đơn vị mới xử lý kỷ luật trong trường hợp cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm trong thời gian công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị cũ khi chuyển sang cơ quan, tổ chức, đơn vị mới mới phát hiện hành vi vi phạm; (ii) thành viên hội đồng kỷ luật hoặc người chủ trì cuộc họp kiểm điểm không được là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ; cha, mẹ (vợ hoặc chồng), cha nuôi, mẹ nuôi; con đẻ, con nuôi; anh, chị, em ruột; cô, dì, chú, bác, cậu ruột; anh, chị, em ruột của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng của anh, chị, em ruột hoặc người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến hành vi vi phạm bị xem xét xử lý kỷ luật.

Thứ tư, nhóm các nguyên tắc về xác định hiệu lực, giá trị hiệu lực của quyết định xử lý kỷ luật riêng lẻ và trong mối quan hệ với quyết định xử lý kỷ luật Đảng.

Đây là nhóm nguyên tắc quan trọng, có giá trị đặc biệt trong việc bảo đảm hiệu lực pháp lý và hiệu lực thi hành của quyết định kỷ luật, đồng thời bảo đảm tương thích với nguyên tắc “kỷ luật hành chính phải tương xứng với kỷ luật Đảng” gồm các nguyên tắc sau: (i) quyết định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức có hiệu lực 12 tháng kể từ ngày có hiệu lực thi hành; (ii) hiệu lực của quyết định xử lý kỷ luật hành chính được tính từ ngày quyết định kỷ luật Đảng có hiệu lực trong trường hợp đã có quyết định kỷ luật về Đảng; (iii) hủy bỏ quyết định kỷ luật hành chính khi cấp có thẩm quyền xóa bỏ quyết định xử lý kỷ luật về Đảng.

3. Một số vướng mắc, bất cập của nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức trong pháp luật hiện hành

Các nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức đã thể hiện vị trí, vai trò trong công tác xử lý kỷ luật, bảo đảm việc xử lý đúng quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước. Các nội dung của nguyên tắc có sự tương thích, đồng bộ với các quy định pháp luật cụ thể, được triển khai áp dụng trong quá trình xử lý kỷ luật. Với các nhóm nguyên tắc trên, việc xử lý kỷ luật sẽ nhanh chóng, hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học pháp lý thì nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình nhận thức và áp dụng. Những hạn chế này có thể dẫn đến việc các nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức chưa phát huy được tối đa vai trò là tư tưởng chỉ đạo trong công tác xử lý kỷ luật, thậm chí có thể tạo nên những “điểm nghẽn” trong quá trình xử lý nếu việc hiểu và vận dụng mang tính cơ học, máy móc. Cụ thể:

Thứ nhất, một số nguyên tắc được quy định không đúng tính chất của nguyên tắc. Nguyên tắc vốn là những quy định mang tính định hướng, dẫn đường, hàm chứa quan điểm chung, để việc vận dụng được linh hoạt trong quá trình xử lý kỷ luật. Tuy nhiên, các nguyên tắc xử lý kỷ luật hiện hành lại mang tính cụ thể, chi tiết như một quy định điều chỉnh trực tiếp và ứng dụng cụ thể. Ví dụ: nguyên tắc được quy định tại các khoản 6, 9, 10, 11 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP là những quy định mang tính cụ thể phù hợp với vai trò là quy định triển khai hơn vai trò nguyên tắc. Có những nguyên tắc được quy định như là sự giải thích từ ngữ như nguyên tắc xác định tái phạm tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP. Xét về hệ quả thực tiễn, việc quy định về nguyên tắc nhưng không có tính nguyên tắc mà hàm chứa hành vi xử sự cụ thể có thể không làm cho việc xử lý kỷ luật kém hiệu quả, nhưng về kỹ thuật lập pháp và tính lâu dài, sự chồng chéo giữa nguyên tắc và quy định cụ thể sẽ làm "lu mờ" vai trò của nguyên tắc.

Thứ hai, một số quy định về nguyên tắc tuy phù hợp nhưng còn gặp vướng mắc khi triển khai. Các quy định pháp luật xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức bị chi phối sâu sắc bởi nguyên tắc chung “kỷ luật nhà nước phải tương xứng với kỷ luật Đảng”. Có thể thấy, để bảo đảm sự “tương xứng” này, các nguyên tắc về xử lý kỷ luật nhà nước trong mối liên hệ với kỷ luật Đảng đã có những thay đổi lớn, phụ thuộc và bị chi phối trực tiếp bởi kỷ luật Đảng. Theo đó, từ phía cơ quan nhà nước, sự đồng bộ này được lý giải là vì: “Sự khác nhau giữa trách nhiệm kỷ luật nhà nước và kỷ luật Đảng dẫn tới thực tế phát sinh một số trường hợp đã bị kỷ luật Đảng nhưng khi xem xét kỷ luật hành chính thì các cơ quan kiến nghị không xử lý do đã hết thời hiệu theo quy định của luật. Điều này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm”[2].

Sự “tương xứng” được đặt ra ở đây với mục đích là xử lý triệt để đối với các cán bộ, công chức, viên chức đồng thời là đảng viên nhằm đề cao sự gương mẫu của các đảng viên trong việc thực thi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Xem xét toàn diện thì quy định này hàm chứa sự hợp lý nhất định trong bối cảnh tăng cường trách nhiệm kỷ luật nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả công việc từ các đối tượng cán bộ, công chức, viên chức đồng thời là đảng viên. Điều này đồng thời cũng làm tăng uy tín của Đảng đối với Nhân dân thông qua việc xử lý nghiêm minh các đảng viên, đề cao tính kỷ luật, tinh thần chiến đấu của Đảng[3].

Liên quan đến sự đồng bộ trách nhiệm kỷ luật nhà nước với trách nhiệm chính trị, đoàn thể, bản thân nguyên tắc này còn hàm chứa những vấn đề bất cập trong thực tiễn áp dụng. Cụ thể:

Một là, khó xác định thời hạn xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức khi đã có quyết định về kỷ luật Đảng. Khoản 6 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP quy định: “cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật về Đảng thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật về Đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực hiện quy trình xử lý kỷ luật hành chính”. Xét trong tương quan với thủ tục xử lý kỷ luật thông thường thì đã vô hiệu hóa các quy định về thời hạn xử lý kỷ luật và cũng phát sinh nhiều vấn đề gây lúng lúng. Ví dụ: một cán bộ, công chức, viên chức đã bị xử lý kỷ luật Đảng, nhưng quá 30 ngày từ ngày kỷ luật Đảng mà quy trình xử lý kỷ luật hành chính vẫn chưa tiến hành thì có được xử lý kỷ luật hành chính tiếp tục không? Đây là vấn đề cần được dự liệu trong thực tiễn triển khai. Do đó, mặc dù pháp luật có quy định thời hạn phải tiến hành xem xét xử lý kỷ luật nhà nước nhưng quy định không rõ ràng cũng là một bất cập, gây khó khăn trong vận dụng pháp luật để xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.

Hai là, nguyên tắc xác định hình thức kỷ luật nhà nước trường hợp bị xử lý kỷ luật về Đảng bằng hình thức cao nhất có khả năng mâu thuẫn với nguyên tắc tương xứng trong xử lý kỷ luật nhà nước với kỷ luật đảng. Khoản 6 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP quy định trường hợp bị kỷ luật về Đảng bằng hình thức cao nhất (khai trừ Đảng) thì xem xét áp dụng hình thức kỷ luật hành chính cao nhất. Tuy nhiên, phải thuộc một trong các trường hợp được pháp luật quy định. Nếu pháp luật không quy định thì báo cáo cấp có thẩm quyền áp dụng các hình thức liền kề với hình thức kỷ luật nhà nước cao nhất (là hình thức cách chức đối với cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; hạ bậc lương đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc cảnh cáo đối với viên chức không có chức vụ lãnh đạo, quản lý). Quy định này chưa thống nhất với tính tương xứng, đồng bộ được phân tích phía trên vì nếu cán bộ, công chức, viên chức vi phạm kỷ luật hành chính không thuộc trường hợp ở mức cao nhất theo quy định pháp luật thì cũng không thể áp dụng hình thức kỷ luật hành chính cao nhất. Pháp luật còn dự liệu một khả năng có thể lựa chọn các hình thức kỷ luật khác mà không phải các hình thức kỷ luật có mức độ nặng liền kề với hình thức cao nhất. Điều này khiến cho quy định trở nên "lòng vòng", thiếu nhất quán và khó áp dụng. Bên cạnh đó, tạo nên tình huống áp dụng khác nhau ở các cơ quan, đơn vị xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức khác nhau, khiến cho việc áp dụng pháp luật không đồng bộ, không công bằng, thống nhất giữa các cơ quan, đơn vị trong phạm vi cả nước.

Ba là, một số nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức được quy định nhưng không được triển khai nội dung khiến nguyên tắc bị vô hiệu hóa, mang tính hình thức mà không có tính ứng dụng. Điển hình như nguyên tắc xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để cá biệt hóa từng hành vi trong từng hoàn cảnh khác nhau là quy định bắt buộc phải có và phải cụ thể để áp dụng cho từng trường hợp. Thực chất, trách nhiệm kỷ luật khác với các loại trách nhiệm pháp lý khác, mỗi hành vi đều được cá biệt hóa bởi một hình thức xử lý kỷ luật mà không quy định theo khung chế tài, không có khoảng giao động để cộng vào hoặc trừ ra những tình tiết có thể làm giảm hoặc tăng hình thức kỷ luật. Vì vậy, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong xử lý kỷ luật nếu có thì chỉ có thể áp dụng trong việc xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi, từ đó gián tiếp tác động đến việc xác định hình thức kỷ luật mà không có tác dụng thay đổi trực tiếp. Mặc dù vậy, việc quy định cụ thể các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ vẫn là điều cần thiết để đánh giá công bằng tính chất, mức độ, thái độ của chủ thể vi phạm.

Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về tình tiết nào là tăng nặng, tình tiết nào là giảm nhẹ[4] ngoài quy định tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP: “cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm lần đầu đã bị xử lý kỷ luật mà trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày quyết định xử lý kỷ luật có hiệu lực có cùng hành vi vi phạm thì bị coi là tái phạm; ngoài thời hạn 24 tháng thì hành vi vi phạm đó được coi là vi phạm lần đầu nhưng được tính là tình tiết tăng nặng khi xem xét xử lý kỷ luật”. Mặc dù, quy định này có xác định một tình tiết tăng nặng nhưng lại là sự bất cập lớn trong quá trình áp dụng. Bởi vì, về nguyên tắc một khi được xem là “vi phạm lần đầu” có nghĩa là những hành vi vi phạm hay tình tiết trước đó đã được “xóa”, không xem xét lại, lần vi phạm sau được coi là mới. Do đó, việc vừa xác định là vi phạm lần đầu lại vừa xác định là tình tiết tăng nặng sẽ tạo ra sự mâu thuẫn cả về lý luận và thực tiễn.

Bốn là, tổng thể nguyên tắc có tình trạng “vừa thừa, vừa thiếu”, chưa có sự hài hòa, cân đối trong quá trình vận dụng.

Mặc dù pháp luật quy định 11 nguyên tắc xử lý kỷ luật, tuy nhiên thực trạng pháp luật cho thấy có tình trạng "vừa thừa vừa thiếu" trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật. Thực trạng hiện nay, một người có thể giữ nhiều vai trò, chức vụ, chức danh khác nhau trong các cơ quan, đơn vị nhà nước nhưng chưa có nguyên tắc nào giải quyết rõ ràng khi họ vi phạm kỷ luật thì xử lý như thế nào, theo chức vụ, chức danh nào. Ví dụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân đồng thời là đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân đồng thời là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (Giám đốc Sở đồng thời là Ủy viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh)…

4. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức

Một là, đối với các nguyên tắc không chứa quan điểm, tư tưởng mang tính chất chỉ đạo tại các khoản 6, 9, 10, 11 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, nên chuyển thành các quy định về nội dung thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hiệu lực quyết định xử lý kỷ luật… Đồng thời, cần bổ sung một điều khoản về giải thích từ ngữ và chuyển nguyên tắc xác định tái phạm tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP thành một khoản giải thích về từ ngữ “tái phạm”.

Hai là, nguyên tắc đồng bộ trong kỷ luật Đảng với kỷ luật nhà nước cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng: (i) cần có sự quy định thống nhất các hành vi vi phạm kỷ luật Đảng với hành vi vi phạm kỷ luật nhà nước nhằm tạo căn cứ pháp lý cho việc áp dụng hình thức kỷ luật nhà nước; (ii) bổ sung quy định về trường hợp quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định kỷ luật về Đảng mà chưa tiến hành quy trình kỷ luật nhà nước thì cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền xử lý kỷ luật tiếp tục tiến hành kỷ luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi chậm trễ trong việc xem xét, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.

Ba là, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP cần bổ sung thêm quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cụ thể và quy định rõ về giá trị sử dụng của tình tiết trong việc xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi, khác với việc tác động trực tiếp đến hình thức trách nhiệm như các loại trách nhiệm pháp lý khác. Các tình tiết tăng nặng cụ thể cần được quy định thành điều khoản riêng và "bóc tách" khỏi nguyên tắc xử lý kỷ luật tại Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP. Đồng thời bỏ tình tiết tăng nặng tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP. Có thể quy định những tình tiết giảm nhẹ như: có thái độ thành khẩn trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật; chủ động chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; tích cực tham gia ngăn chặn hành vi vi phạm kỷ luật… Những tình tiết có thể quy định là tình tiết tăng nặng như: có hành vi cản trở, gây khó khăn trong quá trình xem xét, đánh giá chứng cứ vi phạm; không thành khẩn trong quá trình xử lý kỷ luật; tái phạm; biết mà không ngăn chặn hành vi vi phạm để xảy ra hậu quả nghiêm trọng… Các tình tiết này được xem xét khi đánh giá về mức độ nghiêm trọng của hành vi để xác định hình thức xử lý kỷ luật tương ứng.

Bốn là, cần bổ sung nguyên tắc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức kiêm nhiệm theo hướng cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý bị xử lý kỷ luật với hình thức cách chức thì đương nhiên thôi giữ các chức vụ, chức danh khác do bầu cử, bổ nhiệm, kiêm nhiệm. Việc chấm dứt các chức vụ, chức danh khác không được xem là một hình thức kỷ luật.

Kết luận

Các nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức có lịch sử tồn tại lâu dài song song với quy định nội dung về xử lý kỷ luật. Việc quy định các nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức là nội dung cần thiết trong cơ chế điều chỉnh của pháp luật về xử lý kỷ luật. Ở mức độ nhất định, các nguyên tắc này đã phát huy vai trò là quy định “dẫn đường”, định hướng cho sự thống nhất trong hoạt động xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, thực trạng pháp luật hiện hành và triển khai quy định còn tồn tại một số vướng mắc làm giảm hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc đối với hoạt động xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc xử lý kỷ luật nhằm khắc phục những khiếm khuyết hiện hành, tăng tính hiệu quả trong việc vận dụng nguyên tắc. Qua đó, tăng hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức, viên chức và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các đối tượng này./.

TS. Nguyễn Thị Thiện Trí & ThS. Mai Thị Lâm

Khoa Luật Hành chính - Nhà nước,

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

2. Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

3. Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP).

4. Thái Thị Tuyết Dung, Nguyên tắc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 03 (142)/2021.

5. Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb. Hồng Đức.

6. Nguyễn Nhật Khanh, Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trong xử lý kỷ luật công chức, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 02 (141)/2021.

7. Hoàng Thị Lan, Một số vướng mắc khi áp dụng xử lý kỷ luật đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 19/2020.

8. Trần Anh Tuấn, Những vướng mắc, bất cập và giải pháp tiếp tục hoàn thiện luật cán bộ, công chức, Tạp chí Tổ chức nhà nước số 3/2019.


[1] Nguyễn Cảnh Hợp, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr.89.

[2] VM, Xử lý kỷ luật hành chính đồng bộ với kỷ luật đảng, https://tapchitoaan.vn/xu-ly-ky-luat-hanh-chinh-dong-bo-voi-ky-luat-dang7357.html, truy cập ngày 10/6/2024.

[3] Trí Đức, Xử lý nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật đảng với xử lý kỷ luật hành chính và xử lý hình sự đối với các hành vi tham nhũng, tiêu cực, https://tcnn.vn/news/detail/57927/Xu-ly-nghiem-minh-dong-bo-giua-ky-luat-dang-voi-xu-ly-ky-luat-hanh-chinh-va-xu-ly-hinh-su-doi-voi-cac-hanh-vi-tham-nhung-tieu-cuc.html, truy cập ngày 20/9/2024.

[4] Nguyễn Nhật Khanh, Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trong xử lý kỷ luật công chức, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 02 (141)/2021, tr.19.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: