Thứ sáu 05/06/2026 02:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức và đề xuất, kiến nghị

Bài viết chỉ ra những bất cập về nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức và từ đó, đề xuất kiến nghị giúp khắc phục bất cập trong công tác xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.

Đặt vấn đề

Pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức quy định hệ thống nguyên tắc xử lý kỷ luật làm cơ sở định hướng cho hoạt động thực thi. Các nguyên tắc này giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm tính thống nhất, khách quan và đúng định hướng chính trị trong công tác cán bộ. Các nguyên tắc về xử lý cán bộ, công chức, viên chức không những tạo khung pháp lý điều chỉnh chung mà còn góp phần định hướng tư duy lập pháp, hạn chế sự tùy nghi, cảm tính khi áp dụng chế tài kỷ luật. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn tồn tại những điểm bất cập trong nội dung và cấu trúc các nguyên tắc hiện hành gây khó khăn cho công tác áp dụng. Do đó, việc rà soát, phân tích và hoàn thiện hệ thống nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức là một yêu cầu cần thiết nhằm tăng cường hiệu quả quản lý công vụ, đồng thời thể hiện rõ tinh thần kỷ cương, minh bạch trong bộ máy nhà nước.

1. Khái quát về nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức

Trong khoa học pháp lý, nguyên tắc được hiểu là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo mang tính định hướng[1], làm cơ sở cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật thống nhất. Nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức đóng vai trò định hình phương pháp tiếp cận, bảo đảm việc xử lý được thực hiện theo tinh thần khách quan, công bằng, nghiêm minh và hiệu quả. Do đó, khác với các quy định cụ thể về xử lý kỷ luật, nguyên tắc xử lý kỷ luật được sử dụng như một quy định dẫn đường, vừa có ý nghĩa trong việc định hướng cho các quy định cụ thể, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, vừa có vai trò đặc biệt trong việc hiểu đủ, hiểu đúng việc áp dụng các quy định cụ thể.

Nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức có tính ứng dụng cao trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật vì có khả năng bù đắp những khoảng trống của quy định pháp luật. Trong trường hợp các quy định pháp luật chưa đáp ứng được nhu cầu hoặc tính kịp thời thì các nguyên tắc với những tư tưởng sẵn có sẽ hóa giải và giúp cho việc xử lý kỷ luật được thông suốt, khách quan. Đây là nhóm quy định song hành và bắt buộc đối với chế định pháp luật về trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm kỷ luật nói riêng. So với các quy định xử lý kỷ luật chi tiết, các nguyên tắc có tính bao quát hơn và luôn được vận dụng trong mọi trường hợp xử lý kỷ luật ở các mức độ khác nhau. Bất kể hoạt động xử lý kỷ luật nào không được “dẫn đường” từ các nguyên tắc đều có nguy cơ không bảo đảm khách quan, công bằng và nghiêm minh.

Nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức thuộc nhóm quy phạm có tính ổn định cao so với các quy định chi tiết nhưng dù việc xử lý kỷ luật có thể thay đổi như thế nào thì mục tiêu cuối cùng vẫn phải bảo đảm là tính khách quan, công bằng và nghiêm minh. Đó là tinh thần cốt lõi mà nguyên tắc xử lý kỷ luật hướng tới. Vì vậy, sự thay đổi của nguyên tắc xử lý kỷ luật chỉ có thể đặt ra khi có những thay đổi lớn trong chính sách xử lý kỷ luật, nhằm thực hiện một nhiệm vụ chính trị nhất định. Tuy nhiên, tinh thần khách quan, công bằng, nghiêm minh của nguyên tắc luôn phải được bảo đảm xuyên suốt. Do đó, sự cẩn trọng trong xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức bằng việc am hiểu và vận dụng đúng, kịp thời các nguyên tắc là một yêu cầu mang tính thực tiễn và thiết yếu.

2. Nội dung nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức trong pháp luật hiện hành

Nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức được quy định tại Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP ngày 20/9/2023 của Chính phủ (Nghị định số 112/2020/NĐ-CP). Bao gồm 11 nguyên tắc, có thể chia thành các nhóm theo tính chất và mục đích áp dụng như sau:

Thứ nhất, nhóm các nguyên tắc chung áp dụng xuyên suốt quá trình xử lý kỷ luật.

Đây là những nguyên tắc mang tính dẫn đường, đưa ra những quan điểm chung cần được quán triệt và bảo đảm trong suốt quá trình xử lý kỷ luật. Nhóm này được áp dụng xuyên suốt trong quá trình xử lý, trong mọi giai đoạn, mọi phương diện của cơ chế xử lý kỷ luật gồm các nguyên tắc sau: (i) bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh, chính xác, kịp thời; đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; (ii) xử lý kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, thái độ tiếp thu và sửa chữa; việc khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả; các trường hợp khác; (iii) nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, tinh thần, danh dự, nhân phẩm trong quá trình xử lý kỷ luật.

Thứ hai, nhóm các nguyên tắc về xác định hình thức kỷ luật.

Đây là nhóm các nguyên tắc có tính ứng dụng cao, được vận dụng trực tiếp trong việc xác định hình thức kỷ luật cụ thể trong từng trường hợp cụ thể các nguyên tắc sau: (i) mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trong cùng một thời điểm xem xét xử lý kỷ luật, nếu cán bộ, công chức, viên chức có từ 02 hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận về từng hành vi vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm. Đây là một trong những nguyên tắc có tính mới đặc trưng, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP. Điểm mới của nguyên tắc này tác động lớn đến kết quả xử lý kỷ luật so với quy định cũ. Cụ thể, cùng thuộc trường hợp “Trong cùng một thời điểm xem xét xử lý kỷ luật, nếu cán bộ, công chức, viên chức có từ 02 hành vi vi phạm trở lên” thì việc xử lý kỷ luật sẽ được thực hiện với từng hành vi, trong đó khi tổng hợp hình thức kỷ luật cuối cùng thì với quy định hiện hành, hình thức kỷ luật được tổng hợp là “hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm”. Trong khi đó, theo quy định cũ thì hình thức kỷ luật được tổng hợp sẽ là hình thức kỷ luật cao hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng với vi phạm nặng nhất; (ii) áp dụng hình thức kỷ luật nặng nhất trong số các hình thức kỷ luật nếu trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật tiếp tục có hành vi vi phạm mới; (iii) không áp dụng hình thức xử phạt hành chính hoặc hình thức kỷ luật Đảng thay cho hình thức kỷ luật hành chính; xử lý kỷ luật hành chính không thay cho truy cứu trách nhiệm hình sự nếu vi phạm đến mức bị xử lý hình sự; (iv) hình thức kỷ luật hành chính phải bảo đảm tương xứng với kỷ luật về Đảng. Hình thức kỷ luật Đảng thay đổi thì hình thức kỷ luật hành chính cũng phải thay đổi tương ứng; (v) áp dụng tình tiết tái phạm nếu người vi phạm có cùng hành vi vi phạm trong khoản thời gian 24 tháng kể từ ngày có quyết định xử lý kỷ luật lần đầu.

Thứ ba, nhóm các nguyên tắc xác định thẩm quyền xử lý kỷ luật, thành viên hội đồng xử lý kỷ luật.

Nhóm nguyên tắc này mang tính kỹ thuật tổ chức, ứng dụng trong việc xác định chủ thể và thành phần Hội đồng kỷ luật bảo đảm hợp lý, khách quan gồm các nguyên tắc sau: (i) cơ quan, đơn vị mới xử lý kỷ luật trong trường hợp cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm trong thời gian công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị cũ khi chuyển sang cơ quan, tổ chức, đơn vị mới mới phát hiện hành vi vi phạm; (ii) thành viên hội đồng kỷ luật hoặc người chủ trì cuộc họp kiểm điểm không được là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ; cha, mẹ (vợ hoặc chồng), cha nuôi, mẹ nuôi; con đẻ, con nuôi; anh, chị, em ruột; cô, dì, chú, bác, cậu ruột; anh, chị, em ruột của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng của anh, chị, em ruột hoặc người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến hành vi vi phạm bị xem xét xử lý kỷ luật.

Thứ tư, nhóm các nguyên tắc về xác định hiệu lực, giá trị hiệu lực của quyết định xử lý kỷ luật riêng lẻ và trong mối quan hệ với quyết định xử lý kỷ luật Đảng.

Đây là nhóm nguyên tắc quan trọng, có giá trị đặc biệt trong việc bảo đảm hiệu lực pháp lý và hiệu lực thi hành của quyết định kỷ luật, đồng thời bảo đảm tương thích với nguyên tắc “kỷ luật hành chính phải tương xứng với kỷ luật Đảng” gồm các nguyên tắc sau: (i) quyết định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức có hiệu lực 12 tháng kể từ ngày có hiệu lực thi hành; (ii) hiệu lực của quyết định xử lý kỷ luật hành chính được tính từ ngày quyết định kỷ luật Đảng có hiệu lực trong trường hợp đã có quyết định kỷ luật về Đảng; (iii) hủy bỏ quyết định kỷ luật hành chính khi cấp có thẩm quyền xóa bỏ quyết định xử lý kỷ luật về Đảng.

3. Một số vướng mắc, bất cập của nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức trong pháp luật hiện hành

Các nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức đã thể hiện vị trí, vai trò trong công tác xử lý kỷ luật, bảo đảm việc xử lý đúng quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước. Các nội dung của nguyên tắc có sự tương thích, đồng bộ với các quy định pháp luật cụ thể, được triển khai áp dụng trong quá trình xử lý kỷ luật. Với các nhóm nguyên tắc trên, việc xử lý kỷ luật sẽ nhanh chóng, hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học pháp lý thì nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình nhận thức và áp dụng. Những hạn chế này có thể dẫn đến việc các nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức chưa phát huy được tối đa vai trò là tư tưởng chỉ đạo trong công tác xử lý kỷ luật, thậm chí có thể tạo nên những “điểm nghẽn” trong quá trình xử lý nếu việc hiểu và vận dụng mang tính cơ học, máy móc. Cụ thể:

Thứ nhất, một số nguyên tắc được quy định không đúng tính chất của nguyên tắc. Nguyên tắc vốn là những quy định mang tính định hướng, dẫn đường, hàm chứa quan điểm chung, để việc vận dụng được linh hoạt trong quá trình xử lý kỷ luật. Tuy nhiên, các nguyên tắc xử lý kỷ luật hiện hành lại mang tính cụ thể, chi tiết như một quy định điều chỉnh trực tiếp và ứng dụng cụ thể. Ví dụ: nguyên tắc được quy định tại các khoản 6, 9, 10, 11 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP là những quy định mang tính cụ thể phù hợp với vai trò là quy định triển khai hơn vai trò nguyên tắc. Có những nguyên tắc được quy định như là sự giải thích từ ngữ như nguyên tắc xác định tái phạm tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP. Xét về hệ quả thực tiễn, việc quy định về nguyên tắc nhưng không có tính nguyên tắc mà hàm chứa hành vi xử sự cụ thể có thể không làm cho việc xử lý kỷ luật kém hiệu quả, nhưng về kỹ thuật lập pháp và tính lâu dài, sự chồng chéo giữa nguyên tắc và quy định cụ thể sẽ làm "lu mờ" vai trò của nguyên tắc.

Thứ hai, một số quy định về nguyên tắc tuy phù hợp nhưng còn gặp vướng mắc khi triển khai. Các quy định pháp luật xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức bị chi phối sâu sắc bởi nguyên tắc chung “kỷ luật nhà nước phải tương xứng với kỷ luật Đảng”. Có thể thấy, để bảo đảm sự “tương xứng” này, các nguyên tắc về xử lý kỷ luật nhà nước trong mối liên hệ với kỷ luật Đảng đã có những thay đổi lớn, phụ thuộc và bị chi phối trực tiếp bởi kỷ luật Đảng. Theo đó, từ phía cơ quan nhà nước, sự đồng bộ này được lý giải là vì: “Sự khác nhau giữa trách nhiệm kỷ luật nhà nước và kỷ luật Đảng dẫn tới thực tế phát sinh một số trường hợp đã bị kỷ luật Đảng nhưng khi xem xét kỷ luật hành chính thì các cơ quan kiến nghị không xử lý do đã hết thời hiệu theo quy định của luật. Điều này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm”[2].

Sự “tương xứng” được đặt ra ở đây với mục đích là xử lý triệt để đối với các cán bộ, công chức, viên chức đồng thời là đảng viên nhằm đề cao sự gương mẫu của các đảng viên trong việc thực thi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Xem xét toàn diện thì quy định này hàm chứa sự hợp lý nhất định trong bối cảnh tăng cường trách nhiệm kỷ luật nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả công việc từ các đối tượng cán bộ, công chức, viên chức đồng thời là đảng viên. Điều này đồng thời cũng làm tăng uy tín của Đảng đối với Nhân dân thông qua việc xử lý nghiêm minh các đảng viên, đề cao tính kỷ luật, tinh thần chiến đấu của Đảng[3].

Liên quan đến sự đồng bộ trách nhiệm kỷ luật nhà nước với trách nhiệm chính trị, đoàn thể, bản thân nguyên tắc này còn hàm chứa những vấn đề bất cập trong thực tiễn áp dụng. Cụ thể:

Một là, khó xác định thời hạn xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức khi đã có quyết định về kỷ luật Đảng. Khoản 6 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP quy định: “cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật về Đảng thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật về Đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực hiện quy trình xử lý kỷ luật hành chính”. Xét trong tương quan với thủ tục xử lý kỷ luật thông thường thì đã vô hiệu hóa các quy định về thời hạn xử lý kỷ luật và cũng phát sinh nhiều vấn đề gây lúng lúng. Ví dụ: một cán bộ, công chức, viên chức đã bị xử lý kỷ luật Đảng, nhưng quá 30 ngày từ ngày kỷ luật Đảng mà quy trình xử lý kỷ luật hành chính vẫn chưa tiến hành thì có được xử lý kỷ luật hành chính tiếp tục không? Đây là vấn đề cần được dự liệu trong thực tiễn triển khai. Do đó, mặc dù pháp luật có quy định thời hạn phải tiến hành xem xét xử lý kỷ luật nhà nước nhưng quy định không rõ ràng cũng là một bất cập, gây khó khăn trong vận dụng pháp luật để xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.

Hai là, nguyên tắc xác định hình thức kỷ luật nhà nước trường hợp bị xử lý kỷ luật về Đảng bằng hình thức cao nhất có khả năng mâu thuẫn với nguyên tắc tương xứng trong xử lý kỷ luật nhà nước với kỷ luật đảng. Khoản 6 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP quy định trường hợp bị kỷ luật về Đảng bằng hình thức cao nhất (khai trừ Đảng) thì xem xét áp dụng hình thức kỷ luật hành chính cao nhất. Tuy nhiên, phải thuộc một trong các trường hợp được pháp luật quy định. Nếu pháp luật không quy định thì báo cáo cấp có thẩm quyền áp dụng các hình thức liền kề với hình thức kỷ luật nhà nước cao nhất (là hình thức cách chức đối với cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; hạ bậc lương đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc cảnh cáo đối với viên chức không có chức vụ lãnh đạo, quản lý). Quy định này chưa thống nhất với tính tương xứng, đồng bộ được phân tích phía trên vì nếu cán bộ, công chức, viên chức vi phạm kỷ luật hành chính không thuộc trường hợp ở mức cao nhất theo quy định pháp luật thì cũng không thể áp dụng hình thức kỷ luật hành chính cao nhất. Pháp luật còn dự liệu một khả năng có thể lựa chọn các hình thức kỷ luật khác mà không phải các hình thức kỷ luật có mức độ nặng liền kề với hình thức cao nhất. Điều này khiến cho quy định trở nên "lòng vòng", thiếu nhất quán và khó áp dụng. Bên cạnh đó, tạo nên tình huống áp dụng khác nhau ở các cơ quan, đơn vị xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức khác nhau, khiến cho việc áp dụng pháp luật không đồng bộ, không công bằng, thống nhất giữa các cơ quan, đơn vị trong phạm vi cả nước.

Ba là, một số nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức được quy định nhưng không được triển khai nội dung khiến nguyên tắc bị vô hiệu hóa, mang tính hình thức mà không có tính ứng dụng. Điển hình như nguyên tắc xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để cá biệt hóa từng hành vi trong từng hoàn cảnh khác nhau là quy định bắt buộc phải có và phải cụ thể để áp dụng cho từng trường hợp. Thực chất, trách nhiệm kỷ luật khác với các loại trách nhiệm pháp lý khác, mỗi hành vi đều được cá biệt hóa bởi một hình thức xử lý kỷ luật mà không quy định theo khung chế tài, không có khoảng giao động để cộng vào hoặc trừ ra những tình tiết có thể làm giảm hoặc tăng hình thức kỷ luật. Vì vậy, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong xử lý kỷ luật nếu có thì chỉ có thể áp dụng trong việc xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi, từ đó gián tiếp tác động đến việc xác định hình thức kỷ luật mà không có tác dụng thay đổi trực tiếp. Mặc dù vậy, việc quy định cụ thể các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ vẫn là điều cần thiết để đánh giá công bằng tính chất, mức độ, thái độ của chủ thể vi phạm.

Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về tình tiết nào là tăng nặng, tình tiết nào là giảm nhẹ[4] ngoài quy định tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP: “cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm lần đầu đã bị xử lý kỷ luật mà trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày quyết định xử lý kỷ luật có hiệu lực có cùng hành vi vi phạm thì bị coi là tái phạm; ngoài thời hạn 24 tháng thì hành vi vi phạm đó được coi là vi phạm lần đầu nhưng được tính là tình tiết tăng nặng khi xem xét xử lý kỷ luật”. Mặc dù, quy định này có xác định một tình tiết tăng nặng nhưng lại là sự bất cập lớn trong quá trình áp dụng. Bởi vì, về nguyên tắc một khi được xem là “vi phạm lần đầu” có nghĩa là những hành vi vi phạm hay tình tiết trước đó đã được “xóa”, không xem xét lại, lần vi phạm sau được coi là mới. Do đó, việc vừa xác định là vi phạm lần đầu lại vừa xác định là tình tiết tăng nặng sẽ tạo ra sự mâu thuẫn cả về lý luận và thực tiễn.

Bốn là, tổng thể nguyên tắc có tình trạng “vừa thừa, vừa thiếu”, chưa có sự hài hòa, cân đối trong quá trình vận dụng.

Mặc dù pháp luật quy định 11 nguyên tắc xử lý kỷ luật, tuy nhiên thực trạng pháp luật cho thấy có tình trạng "vừa thừa vừa thiếu" trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật. Thực trạng hiện nay, một người có thể giữ nhiều vai trò, chức vụ, chức danh khác nhau trong các cơ quan, đơn vị nhà nước nhưng chưa có nguyên tắc nào giải quyết rõ ràng khi họ vi phạm kỷ luật thì xử lý như thế nào, theo chức vụ, chức danh nào. Ví dụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân đồng thời là đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân đồng thời là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (Giám đốc Sở đồng thời là Ủy viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh)…

4. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức

Một là, đối với các nguyên tắc không chứa quan điểm, tư tưởng mang tính chất chỉ đạo tại các khoản 6, 9, 10, 11 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, nên chuyển thành các quy định về nội dung thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hiệu lực quyết định xử lý kỷ luật… Đồng thời, cần bổ sung một điều khoản về giải thích từ ngữ và chuyển nguyên tắc xác định tái phạm tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP thành một khoản giải thích về từ ngữ “tái phạm”.

Hai là, nguyên tắc đồng bộ trong kỷ luật Đảng với kỷ luật nhà nước cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng: (i) cần có sự quy định thống nhất các hành vi vi phạm kỷ luật Đảng với hành vi vi phạm kỷ luật nhà nước nhằm tạo căn cứ pháp lý cho việc áp dụng hình thức kỷ luật nhà nước; (ii) bổ sung quy định về trường hợp quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định kỷ luật về Đảng mà chưa tiến hành quy trình kỷ luật nhà nước thì cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền xử lý kỷ luật tiếp tục tiến hành kỷ luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi chậm trễ trong việc xem xét, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.

Ba là, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP cần bổ sung thêm quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cụ thể và quy định rõ về giá trị sử dụng của tình tiết trong việc xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi, khác với việc tác động trực tiếp đến hình thức trách nhiệm như các loại trách nhiệm pháp lý khác. Các tình tiết tăng nặng cụ thể cần được quy định thành điều khoản riêng và "bóc tách" khỏi nguyên tắc xử lý kỷ luật tại Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP. Đồng thời bỏ tình tiết tăng nặng tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP. Có thể quy định những tình tiết giảm nhẹ như: có thái độ thành khẩn trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật; chủ động chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; tích cực tham gia ngăn chặn hành vi vi phạm kỷ luật… Những tình tiết có thể quy định là tình tiết tăng nặng như: có hành vi cản trở, gây khó khăn trong quá trình xem xét, đánh giá chứng cứ vi phạm; không thành khẩn trong quá trình xử lý kỷ luật; tái phạm; biết mà không ngăn chặn hành vi vi phạm để xảy ra hậu quả nghiêm trọng… Các tình tiết này được xem xét khi đánh giá về mức độ nghiêm trọng của hành vi để xác định hình thức xử lý kỷ luật tương ứng.

Bốn là, cần bổ sung nguyên tắc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức kiêm nhiệm theo hướng cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý bị xử lý kỷ luật với hình thức cách chức thì đương nhiên thôi giữ các chức vụ, chức danh khác do bầu cử, bổ nhiệm, kiêm nhiệm. Việc chấm dứt các chức vụ, chức danh khác không được xem là một hình thức kỷ luật.

Kết luận

Các nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức có lịch sử tồn tại lâu dài song song với quy định nội dung về xử lý kỷ luật. Việc quy định các nguyên tắc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức là nội dung cần thiết trong cơ chế điều chỉnh của pháp luật về xử lý kỷ luật. Ở mức độ nhất định, các nguyên tắc này đã phát huy vai trò là quy định “dẫn đường”, định hướng cho sự thống nhất trong hoạt động xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, thực trạng pháp luật hiện hành và triển khai quy định còn tồn tại một số vướng mắc làm giảm hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc đối với hoạt động xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc xử lý kỷ luật nhằm khắc phục những khiếm khuyết hiện hành, tăng tính hiệu quả trong việc vận dụng nguyên tắc. Qua đó, tăng hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức, viên chức và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các đối tượng này./.

TS. Nguyễn Thị Thiện Trí & ThS. Mai Thị Lâm

Khoa Luật Hành chính - Nhà nước,

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

2. Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

3. Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP).

4. Thái Thị Tuyết Dung, Nguyên tắc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 03 (142)/2021.

5. Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb. Hồng Đức.

6. Nguyễn Nhật Khanh, Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trong xử lý kỷ luật công chức, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 02 (141)/2021.

7. Hoàng Thị Lan, Một số vướng mắc khi áp dụng xử lý kỷ luật đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 19/2020.

8. Trần Anh Tuấn, Những vướng mắc, bất cập và giải pháp tiếp tục hoàn thiện luật cán bộ, công chức, Tạp chí Tổ chức nhà nước số 3/2019.


[1] Nguyễn Cảnh Hợp, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr.89.

[2] VM, Xử lý kỷ luật hành chính đồng bộ với kỷ luật đảng, https://tapchitoaan.vn/xu-ly-ky-luat-hanh-chinh-dong-bo-voi-ky-luat-dang7357.html, truy cập ngày 10/6/2024.

[3] Trí Đức, Xử lý nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật đảng với xử lý kỷ luật hành chính và xử lý hình sự đối với các hành vi tham nhũng, tiêu cực, https://tcnn.vn/news/detail/57927/Xu-ly-nghiem-minh-dong-bo-giua-ky-luat-dang-voi-xu-ly-ky-luat-hanh-chinh-va-xu-ly-hinh-su-doi-voi-cac-hanh-vi-tham-nhung-tieu-cuc.html, truy cập ngày 20/9/2024.

[4] Nguyễn Nhật Khanh, Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trong xử lý kỷ luật công chức, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 02 (141)/2021, tr.19.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: