Thứ sáu 06/03/2026 07:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo

Điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với cơ sở tôn giáo, từ đó, chỉ ra những bất cập liên quan và đưa ra một số kiến ​​nghị nhằm hoàn thiện cơ chế này trong thời gian tới.

Abstract: The article focuses on analyzing the conditions for compensation for land when the State recovers land for religious establishments, thereby pointing out related shortcomings and making some recommendations to improve this mechanism in the future.

1. Khái quát về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo

Dưới góc độ pháp lý, khoản 1 Điều 159 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Đất cơ sở tôn giáo gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động”. Bên cạnh đó, về hình thức giao đất, đối với đất tôn giáo, theo khoản 5 Điều 54 Luật Đất đai năm 2013 thì: “Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp”[1].

Các trường hợp Nhà nước thu hồi đất mà được bồi thường về đất được Luật Đất đai năm 2013 quy định dựa trên tiêu chí: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh và thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích chung của cộng đồng, các dự án mà Nhà nước thu hồi đất để thực hiện căn cứ vào ý nghĩa, tính chất quan trọng của dự án với việc phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, lợi ích chung của cộng đồng, không phân biệt dự án đó là của thành phần kinh tế nào[2]. Do đó, việc bồi thường về đất cho cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất chỉ được thực hiện khi Nhà nước thu hồi đất vì những mục đích trên.

Cho đến nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào giải thích cụ thể khái niệm bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo. Từ các khái niệm đã phân tích trên, suy cho cùng thì việc bồi thường về đất đối với các cơ sở tôn giáo được hiểu là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất gồm các cơ sở tôn giáo như chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động.

Cơ sở bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo bao gồm:

Thứ nhất, đối với việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của cơ sở tôn giáo cần lưu ý đến các yếu tố: Thời điểm sử dụng đất trước hay sau ngày 01/7/2004; đất nông nghiệp sử dụng có nguồn gốc do được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hay không. Ngoài ra, việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại để tính bồi thường thực hiện theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Nghị định số 47/2014/NĐ-CP)[3].

Để tính bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của cơ sở tôn giáo thì phải lưu ý đến các yếu tố: Thời điểm sử dụng đất là trước ngày 01/7/2004 hay từ ngày 01/7/2004 trở về sau; nguồn gốc giao đất, cho thuê đất. Trường hợp thu hồi toàn bộ hoặc một phần diện tích mà diện tích đất còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng, nếu cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo còn có nhu cầu sử dụng đất vào mục đích chung của cộng đồng, cơ sở tôn giáo thì được Nhà nước giao đất mới tại nơi khác; việc giao đất mới tại nơi khác phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt[4].

Thứ hai, cơ sở phát sinh việc bồi thường về đất bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng đất cho cơ sở tôn giáo khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất.

Thứ ba, phương thức bồi thường bằng đất hoặc bằng tiền. Điều này có nghĩa là, khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo, phương thức bồi thường có thể được chia làm hai nhóm: (i) Bồi thường về đất cho cơ sở tôn giáo; (ii) Bồi thường bằng tiền khi không còn đất có cùng mục đích sử dụng để bồi thường cho cơ sở tôn giáo. Trong đó, bồi thường về đất cho cơ sở tôn giáo khi Nhà nước thu hồi đất được coi là phương thức “đất đổi đất”, tức là khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo thì bồi thường bằng đất cho cơ sở tôn giáo có đất bị thu hồi. Đây là phương thức bồi thường mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng đất, mà ở đây là cơ sở tôn giáo.

Thứ tư, giá đất tính tiền bồi thường cho cơ sở tôn giáo là giá đất cụ thể tại thời điểm quyết định thu hồi đất. Có nghĩa là, khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo, giá đất để tính bồi thường theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

2. Thực trạng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện về điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo

Điều kiện bồi thường về đất, theo tác giả, không chỉ đơn thuần trả lời cho câu hỏi đất này có được bồi thường hay không, mà điều kiện bồi thường về đất phải được xác định rộng cho cả điều kiện xác định mục đích sử dụng đất được bồi thường. Tức là, bồi thường về đất sẽ bao gồm hai vấn đề: Đất bị thu hồi được bồi thường không và đất được bồi thường theo mục đích nào? Không phải bất cứ cơ sở tôn giáo nào khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng cũng đều được bồi thường mà chỉ đối với những cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 mà chưa được cấp[5]. Xoay quanh vấn đề này, tác giả nhận thấy, cần làm rõ một số điểm như sau[6]:

Thứ nhất, Luật Đất đai năm 2013 còn nhiều bất cập và chưa thống nhất với nhau trong việc quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của cơ sở tôn giáo, cụ thể: Luật Đất đai hiện hành quy định Nhà nước chỉ giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này[7]. Theo đó, Nhà nước chỉ giao đất cho cơ sở tôn giáo là đất phi nông nghiệp với hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất. Điều này có nghĩa là, khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có). Tuy nhiên, khoản 3 Điều 78 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ”. Như vậy, trong cùng một văn bản pháp luật lại có hai quy định đối lập nhau, không thống nhất với nhau dẫn đến việc áp dụng trong công tác bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất cơ sở tôn giáo sẽ gặp khó khăn, vướng mắc.

Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 93 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định: “…tổ chức tôn giáo đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 90 của Luật này thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ”. Theo quy định này thì Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) so với Luật Đất đai năm 2013 chỉ có điểm khác biệt, đó là thay đổi “cơ sở tôn giáo” thành “tổ chức tôn giáo”.

Như vậy, từ vướng mắc nêu trên, theo tác giả, Luật Đất đai cần phải quy định rõ trường hợp Nhà nước giao đất nông nghiệp cho cơ sở tôn giáo có thu tiền sử dụng đất hay không thu tiền sử dụng đất, đây là cơ sở để xác định việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của cơ sở tôn giáo. Bên cạnh đó, Luật Đất đai cần quy định thêm trường hợp cơ sở tôn giáo sử dụng đất nông nghiệp thì cần bảo đảm những điều kiện nào thì mới được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Thứ hai, Luật Đất đai năm 2013 vẫn còn một số bất cập trong việc quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp của cơ sở tôn giáo, cụ thể: Luật Đất đai hiện hành quy định Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với “cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này”[8], theo đó, khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp của cơ sở tôn giáo thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có). Tuy nhiên, khoản 5 Điều 81 Luật Đất đai năm 2013 quy định “cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất phi nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ”. Như vậy, trong cùng một văn bản pháp luật lại có hai quy định đối lập nhau, không thống nhất với nhau dẫn đến việc áp dụng trong công tác bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất cơ sở tôn giáo sẽ gặp khó khăn, vướng mắc.

Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 96 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định: “…tổ chức tôn giáo đang sử dụng đất phi nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 90 của Luật này thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ”. Theo quy định này thì Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) so với Luật Đất đai năm 2013 chỉ có điểm khác biệt, đó là thay đổi “cơ sở tôn giáo” thành “tổ chức tôn giáo”.

Như vậy, từ vấn đề vướng mắc nêu trên, theo tác giả, Luật Đất đai cần phải quy định thống nhất, rõ ràng đối với việc Nhà nước giao đất phi nông nghiệp cho cơ sở tôn giáo không thu tiền sử dụng đất, khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo thì chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất (nếu có). Ngoài ra, Luật Đất đai cần bổ sung quy định trường hợp thu hồi toàn bộ hoặc một phần diện tích mà diện tích đất còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng, nếu cơ sở tôn giáo còn có nhu cầu sử dụng đất vào mục đích chung của cơ sở tôn giáo thì được Nhà nước giao đất mới tại nơi khác; việc giao đất mới tại nơi khác phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Có như vậy mới hạn chế được tình trạng cơ quan cấp dưới tự ý mở rộng phạm vi quyền hạn, đồng thời hạn chế được những bất cập khi áp dụng pháp luật đối với việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp của cơ sở tôn giáo.

Thứ ba, khi xét bồi thường về đất đối với cơ sở tôn giáo khi xác định đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, các vấn đề cần xác định gồm: Thời điểm sử dụng đất; tính ổn định trong quá trình sử dụng đất; nguồn gốc sử dụng đất. Tuy nhiên, còn vướng mắc khi xác định điều kiện bồi thường đối với trường hợp cơ sở tôn giáo có khó khăn trong quá trình triển khai như trên thực tế là sử dụng cho mục đích tín ngưỡng, tôn giáo (xây dựng chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường…) nhưng trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vẫn là đất của cá nhân, hộ gia đình và khi thu hồi lại muốn áp dụng quy định như đối với cơ sở tôn giáo (được giao đất mới tại nơi khác). Trên thực tế, nếu căn cứ theo thông tin trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì sẽ áp dụng quy định đối với hộ gia đình, cá nhân, khi đó, các tín đồ tôn giáo sẽ phản ứng tạo nên sự bất ổn trong việc giải phóng mặt bằng.

Bên cạnh đó, việc xác định nguồn gốc đất đối với trường hợp chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gặp nhiều khó khăn do đa phần việc tặng, cho đất cơ sở tôn giáo thực hiện trước ngày 01/7/2004 thực hiện bằng lời nói; ngoài ra, khi tổ chức lấy ý kiến dân cư về nguồn gốc đất, do cơ sở tôn giáo được hình thành lâu đời, nhiều người am hiểu nguồn gốc đất đã chết nên rất khó xác minh nguồn gốc. Do đó, để điều kiện bồi thường đối với đất của cơ sở tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động mà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được áp dụng hiệu quả và thuận lợi thì cần phải quy định rõ tình trạng sử dụng đất cho mục đích tín ngưỡng, tôn giáo (xây dựng chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo) và trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải là đất cơ sở tôn giáo để tạo thuận lợi cho công tác bồi thường và không gây phản ứng, bất ổn trong giải phóng mặt bằng. Bên cạnh đó, cũng cần quy định rõ việc xác định nguồn gốc đất đối với trường hợp chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong trường hợp việc tặng, cho đất cơ sở tôn giáo thực hiện trước ngày 01/7/2004 thực hiện bằng lời nói; trường hợp khi tổ chức lấy ý kiến dân cư về nguồn gốc đất, do cơ sở tôn giáo được hình thành lâu đời nên có nhiều người am hiểu nguồn gốc đất đã chết, để có cơ sở pháp lý rõ ràng, tạo thuận lợi trong việc áp dụng giải quyết bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo.

Hồ Văn Nhân

Học viện Cao học, Trường Đại học Cần Thơ

[1]. Phạm Hữu Nghị, Hoàn thiện các quy định về đất tôn giáo, đất tín ngưỡng, Hội thảo cấp trường “Góp ý dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)”, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2022, tr. 50.

[2]. Huỳnh Nguyễn Thanh Tâm, Bồi thường về đất bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Luật Kinh tế, Trường Đại học Cần Thơ, năm 2021, tr. 27.

[3]. Phan Trung Hiền, Những điều cần biết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, năm 2021, tr. 203 - 204.

[4]. Phan Trung Hiền, Tldd, tr. 220.

[5]. Phan Trung Hiền (Chủ biên), Châu Hoàng Thân, Trần Vang Phủ, Pháp luật về quy hoạch và giải phóng mặt bằng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, năm 2019, tr. 255.

[6]. Phan Trung Hiền, Nguyễn Thành Phương, Hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 8 (2021), tr. 22.

[7]. Khoản 5 Điều 54 Luật Đất đai năm 2013.

[8]. Khoản 5 Điều 54 Luật Đất đai năm 2013.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: