Thứ tư 15/04/2026 18:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo

Điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với cơ sở tôn giáo, từ đó, chỉ ra những bất cập liên quan và đưa ra một số kiến ​​nghị nhằm hoàn thiện cơ chế này trong thời gian tới.

Abstract: The article focuses on analyzing the conditions for compensation for land when the State recovers land for religious establishments, thereby pointing out related shortcomings and making some recommendations to improve this mechanism in the future.

1. Khái quát về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo

Dưới góc độ pháp lý, khoản 1 Điều 159 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Đất cơ sở tôn giáo gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động”. Bên cạnh đó, về hình thức giao đất, đối với đất tôn giáo, theo khoản 5 Điều 54 Luật Đất đai năm 2013 thì: “Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp”[1].

Các trường hợp Nhà nước thu hồi đất mà được bồi thường về đất được Luật Đất đai năm 2013 quy định dựa trên tiêu chí: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh và thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích chung của cộng đồng, các dự án mà Nhà nước thu hồi đất để thực hiện căn cứ vào ý nghĩa, tính chất quan trọng của dự án với việc phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, lợi ích chung của cộng đồng, không phân biệt dự án đó là của thành phần kinh tế nào[2]. Do đó, việc bồi thường về đất cho cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất chỉ được thực hiện khi Nhà nước thu hồi đất vì những mục đích trên.

Cho đến nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào giải thích cụ thể khái niệm bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo. Từ các khái niệm đã phân tích trên, suy cho cùng thì việc bồi thường về đất đối với các cơ sở tôn giáo được hiểu là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất gồm các cơ sở tôn giáo như chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động.

Cơ sở bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo bao gồm:

Thứ nhất, đối với việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của cơ sở tôn giáo cần lưu ý đến các yếu tố: Thời điểm sử dụng đất trước hay sau ngày 01/7/2004; đất nông nghiệp sử dụng có nguồn gốc do được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hay không. Ngoài ra, việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại để tính bồi thường thực hiện theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Nghị định số 47/2014/NĐ-CP)[3].

Để tính bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của cơ sở tôn giáo thì phải lưu ý đến các yếu tố: Thời điểm sử dụng đất là trước ngày 01/7/2004 hay từ ngày 01/7/2004 trở về sau; nguồn gốc giao đất, cho thuê đất. Trường hợp thu hồi toàn bộ hoặc một phần diện tích mà diện tích đất còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng, nếu cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo còn có nhu cầu sử dụng đất vào mục đích chung của cộng đồng, cơ sở tôn giáo thì được Nhà nước giao đất mới tại nơi khác; việc giao đất mới tại nơi khác phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt[4].

Thứ hai, cơ sở phát sinh việc bồi thường về đất bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng đất cho cơ sở tôn giáo khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất.

Thứ ba, phương thức bồi thường bằng đất hoặc bằng tiền. Điều này có nghĩa là, khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo, phương thức bồi thường có thể được chia làm hai nhóm: (i) Bồi thường về đất cho cơ sở tôn giáo; (ii) Bồi thường bằng tiền khi không còn đất có cùng mục đích sử dụng để bồi thường cho cơ sở tôn giáo. Trong đó, bồi thường về đất cho cơ sở tôn giáo khi Nhà nước thu hồi đất được coi là phương thức “đất đổi đất”, tức là khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo thì bồi thường bằng đất cho cơ sở tôn giáo có đất bị thu hồi. Đây là phương thức bồi thường mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng đất, mà ở đây là cơ sở tôn giáo.

Thứ tư, giá đất tính tiền bồi thường cho cơ sở tôn giáo là giá đất cụ thể tại thời điểm quyết định thu hồi đất. Có nghĩa là, khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo, giá đất để tính bồi thường theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

2. Thực trạng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện về điều kiện bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo

Điều kiện bồi thường về đất, theo tác giả, không chỉ đơn thuần trả lời cho câu hỏi đất này có được bồi thường hay không, mà điều kiện bồi thường về đất phải được xác định rộng cho cả điều kiện xác định mục đích sử dụng đất được bồi thường. Tức là, bồi thường về đất sẽ bao gồm hai vấn đề: Đất bị thu hồi được bồi thường không và đất được bồi thường theo mục đích nào? Không phải bất cứ cơ sở tôn giáo nào khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng cũng đều được bồi thường mà chỉ đối với những cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 mà chưa được cấp[5]. Xoay quanh vấn đề này, tác giả nhận thấy, cần làm rõ một số điểm như sau[6]:

Thứ nhất, Luật Đất đai năm 2013 còn nhiều bất cập và chưa thống nhất với nhau trong việc quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của cơ sở tôn giáo, cụ thể: Luật Đất đai hiện hành quy định Nhà nước chỉ giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này[7]. Theo đó, Nhà nước chỉ giao đất cho cơ sở tôn giáo là đất phi nông nghiệp với hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất. Điều này có nghĩa là, khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có). Tuy nhiên, khoản 3 Điều 78 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ”. Như vậy, trong cùng một văn bản pháp luật lại có hai quy định đối lập nhau, không thống nhất với nhau dẫn đến việc áp dụng trong công tác bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất cơ sở tôn giáo sẽ gặp khó khăn, vướng mắc.

Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 93 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định: “…tổ chức tôn giáo đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 90 của Luật này thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ”. Theo quy định này thì Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) so với Luật Đất đai năm 2013 chỉ có điểm khác biệt, đó là thay đổi “cơ sở tôn giáo” thành “tổ chức tôn giáo”.

Như vậy, từ vướng mắc nêu trên, theo tác giả, Luật Đất đai cần phải quy định rõ trường hợp Nhà nước giao đất nông nghiệp cho cơ sở tôn giáo có thu tiền sử dụng đất hay không thu tiền sử dụng đất, đây là cơ sở để xác định việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của cơ sở tôn giáo. Bên cạnh đó, Luật Đất đai cần quy định thêm trường hợp cơ sở tôn giáo sử dụng đất nông nghiệp thì cần bảo đảm những điều kiện nào thì mới được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Thứ hai, Luật Đất đai năm 2013 vẫn còn một số bất cập trong việc quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp của cơ sở tôn giáo, cụ thể: Luật Đất đai hiện hành quy định Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với “cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này”[8], theo đó, khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp của cơ sở tôn giáo thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có). Tuy nhiên, khoản 5 Điều 81 Luật Đất đai năm 2013 quy định “cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất phi nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ”. Như vậy, trong cùng một văn bản pháp luật lại có hai quy định đối lập nhau, không thống nhất với nhau dẫn đến việc áp dụng trong công tác bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất cơ sở tôn giáo sẽ gặp khó khăn, vướng mắc.

Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 96 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định: “…tổ chức tôn giáo đang sử dụng đất phi nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 90 của Luật này thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ”. Theo quy định này thì Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) so với Luật Đất đai năm 2013 chỉ có điểm khác biệt, đó là thay đổi “cơ sở tôn giáo” thành “tổ chức tôn giáo”.

Như vậy, từ vấn đề vướng mắc nêu trên, theo tác giả, Luật Đất đai cần phải quy định thống nhất, rõ ràng đối với việc Nhà nước giao đất phi nông nghiệp cho cơ sở tôn giáo không thu tiền sử dụng đất, khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo thì chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất (nếu có). Ngoài ra, Luật Đất đai cần bổ sung quy định trường hợp thu hồi toàn bộ hoặc một phần diện tích mà diện tích đất còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng, nếu cơ sở tôn giáo còn có nhu cầu sử dụng đất vào mục đích chung của cơ sở tôn giáo thì được Nhà nước giao đất mới tại nơi khác; việc giao đất mới tại nơi khác phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Có như vậy mới hạn chế được tình trạng cơ quan cấp dưới tự ý mở rộng phạm vi quyền hạn, đồng thời hạn chế được những bất cập khi áp dụng pháp luật đối với việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp của cơ sở tôn giáo.

Thứ ba, khi xét bồi thường về đất đối với cơ sở tôn giáo khi xác định đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, các vấn đề cần xác định gồm: Thời điểm sử dụng đất; tính ổn định trong quá trình sử dụng đất; nguồn gốc sử dụng đất. Tuy nhiên, còn vướng mắc khi xác định điều kiện bồi thường đối với trường hợp cơ sở tôn giáo có khó khăn trong quá trình triển khai như trên thực tế là sử dụng cho mục đích tín ngưỡng, tôn giáo (xây dựng chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường…) nhưng trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vẫn là đất của cá nhân, hộ gia đình và khi thu hồi lại muốn áp dụng quy định như đối với cơ sở tôn giáo (được giao đất mới tại nơi khác). Trên thực tế, nếu căn cứ theo thông tin trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì sẽ áp dụng quy định đối với hộ gia đình, cá nhân, khi đó, các tín đồ tôn giáo sẽ phản ứng tạo nên sự bất ổn trong việc giải phóng mặt bằng.

Bên cạnh đó, việc xác định nguồn gốc đất đối với trường hợp chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gặp nhiều khó khăn do đa phần việc tặng, cho đất cơ sở tôn giáo thực hiện trước ngày 01/7/2004 thực hiện bằng lời nói; ngoài ra, khi tổ chức lấy ý kiến dân cư về nguồn gốc đất, do cơ sở tôn giáo được hình thành lâu đời, nhiều người am hiểu nguồn gốc đất đã chết nên rất khó xác minh nguồn gốc. Do đó, để điều kiện bồi thường đối với đất của cơ sở tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động mà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được áp dụng hiệu quả và thuận lợi thì cần phải quy định rõ tình trạng sử dụng đất cho mục đích tín ngưỡng, tôn giáo (xây dựng chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo) và trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải là đất cơ sở tôn giáo để tạo thuận lợi cho công tác bồi thường và không gây phản ứng, bất ổn trong giải phóng mặt bằng. Bên cạnh đó, cũng cần quy định rõ việc xác định nguồn gốc đất đối với trường hợp chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong trường hợp việc tặng, cho đất cơ sở tôn giáo thực hiện trước ngày 01/7/2004 thực hiện bằng lời nói; trường hợp khi tổ chức lấy ý kiến dân cư về nguồn gốc đất, do cơ sở tôn giáo được hình thành lâu đời nên có nhiều người am hiểu nguồn gốc đất đã chết, để có cơ sở pháp lý rõ ràng, tạo thuận lợi trong việc áp dụng giải quyết bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của cơ sở tôn giáo.

Hồ Văn Nhân

Học viện Cao học, Trường Đại học Cần Thơ

[1]. Phạm Hữu Nghị, Hoàn thiện các quy định về đất tôn giáo, đất tín ngưỡng, Hội thảo cấp trường “Góp ý dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)”, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2022, tr. 50.

[2]. Huỳnh Nguyễn Thanh Tâm, Bồi thường về đất bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Luật Kinh tế, Trường Đại học Cần Thơ, năm 2021, tr. 27.

[3]. Phan Trung Hiền, Những điều cần biết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, năm 2021, tr. 203 - 204.

[4]. Phan Trung Hiền, Tldd, tr. 220.

[5]. Phan Trung Hiền (Chủ biên), Châu Hoàng Thân, Trần Vang Phủ, Pháp luật về quy hoạch và giải phóng mặt bằng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, năm 2019, tr. 255.

[6]. Phan Trung Hiền, Nguyễn Thành Phương, Hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 8 (2021), tr. 22.

[7]. Khoản 5 Điều 54 Luật Đất đai năm 2013.

[8]. Khoản 5 Điều 54 Luật Đất đai năm 2013.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: