Chủ nhật 09/08/2026 20:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế chính sách đặc biệt cho công tác xây dựng pháp luật

Đây là một trong những nội dung được các đại biểu đồng tình, nhất trí cao tại phiên họp thẩm định dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong công tác xây dựng pháp luật do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 11/4/2025. Đồng chí Đặng Hoàng Oanh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ tịch Hội đồng thẩm định chủ trì phiên họp.

Toàn cảnh phiên họp thẩm định.

Tham dự phiên họp thẩm định gồm các thành viên đại diện cho các cơ quan: Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội; Văn phòng Chính phủ; Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Tài chính; Bộ Nội vụ; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Xây dựng; Bộ Y tế; Bộ Công thương; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Tại phiên họp thẩm định, đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo cho biết, Nghị quyết được xây dựng nhằm tạo cơ chế tài chính đặc thù, tương xứng cho công tác xây dựng pháp luật; thu hút, sử dụng hiệu quả và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xây dựng pháp luật; tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác xây dựng pháp luật bảo đảm yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo phát biểu tại phiên họp thẩm định.

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong công tác xây dựng pháp luật được xây dựng trên các quan điểm sau: (i) thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng về nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật để công tác xây dựng, thi hành pháp luật thực sự là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; (ii) xây dựng cơ chế chính sách vượt trội, bảo đảm nguồn lực tài chính tương xứng, nhân lực chất lượng, phát triển công nghệ hỗ trợ tích cực cho công tác xây dựng pháp luật; (iii) đầu tư cho công tác nghiên cứu xây dựng thể chế, pháp luật là đầu tư cho phát triển. Nhà nước bảo đảm và ưu tiên nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất, hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật, đẩy mạnh chuyển đổi số và có chế độ, chính sách đặc thù cho công tác nghiên cứu chiến lược, chính sách, xây dựng pháp luật và đội ngũ cán bộ thực hiện các nhiệm vụ này; (iv) các chính sách được quy định bảo đảm tháo gỡ khó khăn, bất cập trước mắt nhưng đồng thời có những giải pháp mang tầm nhìn chiến lược, đột phá để nâng tầm công tác xây dựng pháp luật ; (v) bảo đảm tính khả thi, hiệu quả của các chính sách đặc thù cho công tác xây dựng pháp luật.

Dự thảo Nghị quyết gồm 05 chương và 15 điều với một số nội dung cơ bản: (i) xác định phạm vi điều chỉnh bao gồm các hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật và một số hoạt động liên quan đến tổ chức thi hành pháp luật có tính chất đặc thù; đồng thời, đặt ra nguyên tắc thực hiện là phải đổi mới, linh hoạt, chiến lược và chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong quá trình triển khai nhiệm vụ; (ii) bảo đảm dành tối thiểu 0,5% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho công tác xây dựng pháp luật. Kinh phí được thực hiện theo hình thức khoán chi theo nhiệm vụ, sản phẩm, bảo đảm tính linh hoạt, hiệu quả. Bên cạnh đó, cơ quan được giao nhiệm vụ được quyền lựa chọn đối tác, ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân để thực hiện một phần nhiệm vụ. Dự thảo Nghị quyết đề xuất thành lập Quỹ hỗ trợ nghiên cứu chính sách, pháp luật do ngân sách nhà nước bảo đảm, hoạt động không vì lợi nhuận nhằm tăng cường năng lực hoạch định, tư vấn chính sách; (iii) quy định chế độ đãi ngộ vượt trội cho đội ngũ trực tiếp làm công tác xây dựng pháp luật, trong đó có phụ cấp đặc thù bằng 150% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng, cộng phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp chức vụ lãnh đạo (nếu có) và thu nhập có được từ hoạt động xây dựng pháp luật được miễn thuế thu nhập cá nhân và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước. Thẩm quyền quyết định về tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển do Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền thực hiện trên cơ sở đánh giá năng lực và kết quả công việc. Dự thảo Nghị quyết cũng đề xuất xây dựng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp trở thành cơ sở nghiên cứu trọng điểm quốc gia, có năng lực dẫn dắt các định hướng pháp lý chiến lược của đất nước và vươn tầm khu vực ASEAN; (iv) xác định rõ vai trò của hạ tầng công nghệ, dữ liệu lớn và chuyển đổi số trong công tác xây dựng pháp luật. Theo đó, các hoạt động như phát triển trợ lý ảo pháp lý, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật, pháp điển, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, cũng như phát triển các doanh nghiệp LegalTech sẽ được ưu tiên bố trí ngân sách và áp dụng cơ chế đặc thù.

Tại phiên họp thẩm định, các đại biểu đã tập trung trao đổi, thảo luật và có ý kiến góp ý trực tiếp đối với một số nội dung trong Tờ trình và dự thảo Nghị quyết như: (i) các thành viên Hội đồng thẩm định nhất trí về sự cần thiết ban hành Nghị quyết và đánh giá cao tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm được đề cao trong dự thảo Nghị quyết, phù hợp với chủ trương của Đảng. Việc ban hành Nghị quyết là cần thiết để khắc phục những bất cập, vướng mắc về nguồn lực, tổ chức, chính sách đã tồn tại nhiều năm qua trong công tác xây dựng pháp luật; (ii) về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng tại Điều 1 dự thảo Nghị quyết, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc bổ sung quy định làm rõ nội hàm của “công tác xây dựng pháp luật”, bao gồm: xây dựng chính sách, soạn thảo, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hướng dẫn thi hành và đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, cần giao Chính phủ quy định chi tiết đối tượng áp dụng để bảo đảm tính cụ thể, khả thi, tránh áp dụng dàn trải; (iii) mặc dù thống nhất về nội dung bảo đảm ngân sách, giao và phân bổ ngân sách tại Điều 3 dự thảo Nghị quyết quy định: “Ngân sách nhà nước bảo đảm chi cho công tác nghiên cứu chiến lược, chính sách, xây dựng pháp luật theo nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết này, không thấp hơn 0,5% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm và tăng dần theo yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển”, tuy nhiên, có một số ý kiến đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo không nên quy định cứng mức 0,5%, bởi con số này cần được tính toán kỹ lưỡng dựa trên thực tế cân đối ngân sách và mức độ ưu tiên trong từng thời kỳ. Bên cạnh đó, cần bổ sung nội dung chi cụ thể cho phù hợp với các khoản chi đã liệt kê tại các điều 10, 11, 12 dự thảo Nghị quyết; (iv) chính sách đãi ngộ người làm công tác xây dựng pháp luật tại Điều 7 dự thảo Nghị quyết được các đại biểu đồng tình, vì đây là ngành đặc thù, yêu cầu đòi hỏi cao về trí tuệ, trách nhiệm, nên cần có chính sách đãi ngộ xứng đáng để thu hút, giữ chân nhân tài; (v) đối với quy định tại Điều 5 dự thảo Nghị quyết về lựa chọn hình thức, đối tác trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính sách, pháp luật cần rà soát lại quy định liên quan đến việc hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài trong nghiên cứu, thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh đó, cần bổ sung nội dung bảo đảm an ninh quốc gia, quy trình phê duyệt và trách nhiệm của tổ chức chủ trì nhằm kiểm soát chặt chẽ hợp tác quốc tế.

Đồng chí Đặng Hoàng Oanh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp phát biểu kết luận phiên họp.

Kết luận phiên họp thẩm định, đồng chí Đặng Hoàng Oanh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh, công tác xây dựng pháp luật là một nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi trình độ chuyên môn và bản lĩnh chính trị cao. Trong bối cảnh hiện nay, công tác này ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi nhiều nỗ lực và nguồn lực. Để đáp ứng yêu cầu cải cách và phát triển, cần có những cơ chế, chính sách đặc thù cho công tác xây dựng pháp luật. Nhất trí với các quy định về cơ chế, chính sách đặc thù trong dự thảo, Thứ trưởng cho rằng, dự thảo Nghị quyết đã tạo đột phá trong công tác xây dựng pháp luật, trong đó, vấn đề tài chính là một trong những vấn đề then chốt cần được quan tâm. Thứ trưởng đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính sửa Luật Ngân sách nhà nước, bổ sung mục chi về hoạt động xây dựng pháp luật trong chi thường xuyên. Đối với nội dung tại khoản 2 Điều 5 dự thảo Nghị quyết quy định về việc thuê chuyên gia nước ngoài vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, Thứ trưởng khẳng định, việc thuê chuyên gia nước ngoài chỉ nên dừng ở mức độ cung cấp kinh nghiệm, không để nước ngoài tham gia vào công tác hoàn thiện thể chế. Đối với việc thành lập Quỹ hỗ trợ nghiên cứu chính sách, Thứ trưởng đề nghị cần xem xét, cân nhắc thêm về việc tổ chức, cá nhân có khoản đóng góp vào quỹ được giảm trừ thuế thu nhập cá nhân hoặc thuế thu nhập doanh nghiệp. Đồng thời, đề nghị cơ quan soạn thảo văn bản rà soát lại, bảo đảm quy định chặt chẽ đối với quỹ này./.

Hoàng Trung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Theo dõi chúng tôi trên: