Thứ sáu 16/01/2026 00:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Đây là một trong những nội dung được các đại biểu quan tâm tại cuộc họp góp ý đối với Hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 12/4/2025. Đồng chí Lê Thị Vân Anh, Phó Vụ trưởng Vụ pháp luật hình sự - hành chính, Bộ tư pháp chủ trì cuộc họp.

Toàn cảnh buổi làm việc.

Tham dự cuộc họp có đại diện của các cơ quan: Văn phòng Chính phủ; Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Tài chính; Bộ Nội vụ và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Tại cuộc họp, đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo cho biết, việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của các Tòa án nhân dân, bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh gọn bộ máy.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân gồm 03 điều với một số nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, về mô hình tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân, dự thảo Luật đề xuất bãi bỏ mô hình Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án sơ thẩm chuyên biệt. Thay vào đó, hệ thống Tòa án sẽ được tổ chức theo ba cấp gồm: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Tòa án nhân dân khu vực. Đây là bước cải cách có tính chiến lược, góp phần tinh giản đầu mối, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tư pháp, đồng thời phù hợp với định hướng tổ chức chính quyền theo đơn vị hành chính mới.

Thứ hai, trên cơ sở mô hình tổ chức Tòa án theo ba cấp, dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung toàn diện các quy định liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng cấp Tòa án.

Đối với Tòa án nhân dân tối cao, dự thảo Luật giữ nguyên các chức năng quan trọng như giám đốc việc xét xử của toàn hệ thống Tòa án; tổng kết thực tiễn xét xử; bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật và phát triển án lệ. Đồng thời, Tòa án nhân dân tối cao sẽ trực tiếp thực hiện việc giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và thực hiện nhiệm vụ phúc thẩm đối với các vụ án hình sự mà bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị.

Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao được thiết kế gồm: Hội đồng Thẩm phán, 03 Tòa Phúc thẩm đặt tại Thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh; 04 Vụ Giám đốc kiểm tra; các cục, vụ chuyên môn, Học viện Tòa án và các cơ quan báo chí.

Đặc biệt, dự thảo đề xuất tăng số lượng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao từ mức hiện hành từ 13 người đến 17 người lên thành 23 người đến 27 người nhằm đáp ứng yêu cầu xử lý khối lượng công việc ngày càng tăng, đặc biệt, trong bối cảnh các vụ việc giám đốc thẩm, tái thẩm từ Tòa án cấp cao được chuyển giao về.

Đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nhiệm vụ và quyền hạn được mở rộng bao gồm: thực hiện giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khu vực; phúc thẩm các bản án sơ thẩm của Tòa án khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; đồng thời, thực hiện sơ thẩm đối với các vụ án hình sự nghiêm trọng có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 20 năm tù, tù chung thân đến tử hình và các vụ án phức tạp khác. Cơ cấu tổ chức gồm: Ủy ban Thẩm phán, các Tòa chuyên trách và bộ máy giúp việc.

Đối với Tòa án nhân dân khu vực, dự thảo Luật quy định việc cơ cấu lại các Tòa án nhân dân cấp huyện hiện hành thành các Tòa án khu vực nhằm phù hợp với định hướng tổ chức đơn vị hành chính mới. Các Tòa án này sẽ được đặt tên theo địa danh hành chính nơi đặt trụ sở, kèm số thứ tự để thuận tiện cho người dân nhận biết. Tòa án nhân dân khu vực có nhiệm vụ xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự với khung hình phạt tối đa đến 20 năm tù; xét xử sơ thẩm tất cả các vụ án hành chính, dân sự và các vụ việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án. Đặc biệt, thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ việc phá sản, sở hữu trí tuệ sẽ được giao cho một số Tòa án nhân dân khu vực lớn tại các trung tâm kinh tế, tài chính lớn trên cả nước. Về tổ chức, Tòa án khu vực bao gồm các Tòa chuyên trách và bộ máy giúp việc.

Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo phát biểu tại buổi làm việc.

Tại cuộc họp, các đại biểu đã tập trung trao đổi, thảo luật và có ý kiến góp ý trực tiếp đối với một số nội dung trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân như: (i) tại khoản 13 Điều 1 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 60 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc không nên quy định cứng về cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân khu vực mà nên giữ nguyên theo luật hiện hành; (ii) về quy định chuyển tiếp, cơ quan chủ trì soạn thảo cần phải rà soát kỹ lưỡng để tránh trùng lặp và xung đột với các quy định tố tụng hiện hành đang được thiết kế để giải quyết việc chuyển giao vụ việc giữa các cấp Tòa án, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc nên đưa các điều khoản chuyển tiếp vào các luật chuyên ngành tương ứng thay vì tập trung tất cả vào Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; (iii) về thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo bảo đảm sự phù hợp với các luật có liên quan như Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2022), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); (iv) cân nhắc loại bỏ nội dung liên quan đến Luật Giá ra khỏi dự thảo Luật vì đây chỉ là viện dẫn và không trực tiếp điều chỉnh vấn đề tổ chức Tòa án nhân dân, đồng thời, cần rà soát tổng thể và thống nhất, tránh tình trạng mỗi luật về tổ chức lại cố gắng sửa đổi các nội dung liên quan đến mình trong bối cảnh nhiều luật khác cũng đang được sửa đổi để phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp. Đối với các luật khác có liên quan, đề xuất sử dụng nghị quyết của Quốc hội để quy định các điều khoản chuyển tiếp, tạo điều kiện vận hành sớm, sau đó sẽ tiến hành sửa đổi từng luật một cách kỹ lưỡng; (v) về nguyên tắc chuyển giao tài sản và tài chính của các Tòa án, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nên có quy định mang tính nguyên tắc, viện dẫn Luật Ngân sách nhà nước và Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; (vi) về việc đặt các Tòa án chuyên trách ở cấp Tòa án khu vực, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc việc đặt Tòa án chuyên trách tại cấp xã là không hợp lý vì Tòa án chuyên trách đòi hỏi có yêu cầu trình độ chuyên môn cao và xử lý các vụ việc phức tạp, vì vậy, chỉ nên đặt Tòa án chuyên trách tại cấp tỉnh; (vii) về vấn đề phân bổ số lượng thẩm phán, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình cụ thể, chi tiết về căn cứ sửa đổi để bảo đảm sự phù hợp và không làm thay đổi tổng số lượng.

Kết luận cuộc họp, đồng chí Lê Thị Vân Anh, Phó Vụ trưởng Vụ pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo đảm tính thống nhất giữa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân với Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cũng đang được sửa đổi và các luật tố tụng khác. Đồng chí Lê Thị Vân Anh đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần rà soát kỹ lưỡng các điều khoản trong các luật khác bị ảnh hưởng bởi việc tổ chức lại Tòa án để có phương án sửa đổi tổng thể, thống nhất, tránh việc sửa đổi rời rạc.

Về phạm vi sửa đổi của dự thảo Luật, đồng chí Lê Thị Vân Anh cho biết, việc mở rộng phạm vi sửa đổi để sửa đổi các luật khác không thuộc chức năng trực tiếp của Tòa án có thể dẫn đến sự thiếu toàn diện và không thuộc thẩm quyền thẩm định của Bộ Tư pháp đối với các luật do cơ quan khác chủ trì, vì vậy cơ quan chỉ trì soạn thảo nên lập một phụ lục liệt kê các điều khoản trong các luật khác bị ảnh hưởng và có phương án xử lý thống nhất sau. Bên cạnh đó, các quy định về chuyển tiếp nên mang tính nguyên tắc chung thay vì quy định quá cụ thể có thể không bao quát hết các tình huống hoặc không thống nhất với các luật tố tụng đang được sửa đổi.

Về Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia, đồng chí Lê Thị Vân Anh cho rằng thành phần của hội đồng này cần cân nhắc có thể nên giữ nguyên như quy định hiện hành với sự tham gia của Chánh án các Tòa án cấp cao.

Về Tòa án chuyên trách, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo quy định rõ ràng hơn việc thành lập các Tòa án chuyên trách tại Tòa án nhân dân khu vực, có thể quy định cứng một số Tòa cơ bản và các Tòa khác thành lập theo nhu cầu thực tế và quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Đồng thời, đồng chí Lê Thị Vân Anh cũng đề nghị Tờ trình dự án Luật cần được soạn thảo đầy đủ, tuân thủ các quy định mới về ban hành văn bản quy phạm pháp luật và cần phải nêu rõ nội dung sửa đổi, bổ sung, lược bỏ./.

Hoàng Trung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: