Chủ nhật 09/08/2026 21:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính tập trung xử lý những lĩnh vực mới phát sinh, đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn và đang có “khoảng trống” pháp lý

Đây là chia sẻ của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh tại phiên họp toàn thể tại Hội trường Quốc hội sáng ngày 25/6/2025 về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Với 435/435 đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100% đại biểu tham gia biểu quyết), Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn, với định hướng xuyên suốt là chỉ sửa đổi, bổ sung những quy định thực sự cấp bách, có tính chất kỹ thuật, nghiệp vụ, nhằm tháo gỡ các vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn, nhất là các vấn đề liên quan đến sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý vi phạm hành chính và đơn giản hóa trình tự, thủ tục hành chính. Những nội dung có thể làm ảnh hưởng, tác động lớn đến quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức hoặc thay đổi nguyên tắc đang được triển khai ổn định trên thực tiễn thì chưa điều chỉnh trong đợt sửa đổi lần này.

Chỉ tăng thời hiệu đối với mỗi loại vi phạm trong các lĩnh vực hiện hành thêm 01 năm

Trong quá trình thảo luận về dự thảo Luật, đa số đại biểu Quốc hội tán thành việc kéo dài thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp vi phạm trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tuy nhiên, một số ý kiến cũng đề nghị cân nhắc để bảo đảm quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức. Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính được chỉnh sửa theo hướng chỉ tăng thời hiệu đối với mỗi loại vi phạm trong các lĩnh vực hiện hành thêm 01 năm (từ 01 năm lên 02 năm; từ 02 năm lên 03 năm) trong trường hợp xử phạt đối với hồ sơ cơ quan do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến, thay vì quy định chung là 03 năm như dự thảo Luật trình Quốc hội ban đầu.

Theo đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp: Vi phạm hành chính về kế toán; hóa đơn; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước; khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

Vi phạm hành chính về thuế, kiểm toán độc lập thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, pháp luật về kiểm toán độc lập.

Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến thì thời hiệu xử phạt áp dụng theo quy định tại điểm a khoản này được kéo dài thêm 01 năm. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

Bổ sung nội dung xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính chỉnh lý theo hướng bổ sung yêu cầu khi xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử phải tuân thủ quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về giao dịch điện tử và pháp luật có liên quan. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình xử lý vi phạm hành chính được thực hiện nếu đáp ứng điều kiện kỹ thuật, hạ tầng, thông tin và có thể triển khai linh hoạt tùy thuộc vào điều kiện của từng ngành, địa phương.

Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã bổ sung Điều 18a vào sau Điều 18. Theo đó, việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử được thực hiện khi bảo đảm điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông tin. Việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: (i) Tuân thủ quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về giao dịch điện tử và pháp luật có liên quan; (ii) Việc thu thập, lưu trữ, khai thác, sử dụng dữ liệu phải bảo đảm tính toàn vẹn, xác thực, an toàn, đúng mục đích, phạm vi theo quy định của pháp luật; (iii) Kết nối hệ thống, chia sẻ dữ liệu, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời phục vụ quản lý nhà nước và giám sát của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

Các nội dung chi tiết như điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông tin… sẽ được Chính phủ cụ thể hóa tại Nghị định quy định chi tiết.

Các vấn đề như tổ chức đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ, phân bổ nguồn lực, bố trí nhân sự công nghệ thông tin, đầu tư hạ tầng kỹ thuật là những nội dung liên quan đến việc tổ chức thi hành và thuộc trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị khi tổ chức thi hành. Chính phủ sẽ chỉ đạo các bộ, ngành trong quá trình tổ chức triển khai thi hành, bảo đảm tính khả thi, hiệu lực và hiệu quả khi triển khai xử lý vi phạm hành chính bằng phương thức điện tử trên phạm vi toàn quốc.

Bổ sung thẩm quyền xử phạt cho Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân

Khi trao đổi về dự thảo Luật, một số đại biểu Quốc hội đề nghị quy định về thẩm quyền xử phạt cần bảo đảm rõ ràng, không chồng chéo, tránh trùng lặp; nghiên cứu quy định về thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn kiểm tra trong thời hạn thực hiện nhiệm vụ kiểm tra vì hiện nay chưa có cơ sở pháp lý đối với nội dung này; cần tiếp tục rà soát với các quy định tại dự thảo Luật Thanh tra (sửa đổi), dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một sổ điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; cần quy định cụ thể hơn về chức danh và thẩm quyền.

Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã bỏ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chức danh “Chánh Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ” do thuộc nhóm chức danh đã được quy định là “Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao chức năng, nhiệm vụ kiếm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ”; quy định rõ chức danh Trưởng đoàn kiểm tra của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thời hạn thực hiện nhiệm vụ kiểm tra có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, thay vì quy định chung trao thẩm quyền cho tất cả các Trưởng đoàn kiểm tra; rà soát, bổ sung nhóm chức danh là người thuộc Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền xử phạt để bảo đảm thống nhất với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.

Việc quy định về thẩm quyền xử phạt của trưởng đoàn kiểm tra: “Trưởng đoàn kiểm tra của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thời hạn kiểm tra”, nhằm bảo đảm thận trọng hơn trong bối cảnh khung pháp lý về hoạt động kiểm tra hiện nay chưa đầy đủ, rõ ràng; bảo đảm người có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt có đủ năng lực, điều kiện thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục và tổ chức thi hành quyết định xử phạt.

Bên cạnh đó, thay vì quy định thẩm quyền Trưởng đoàn kiểm tra của địa phương, Luật cũng bổ sung thẩm quyền xử phạt cho Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (Giám đốc sở) là chức danh có đầy đủ điều kiện để tổ chức thực hiện quyết định xử phạt, bảo đảm thống nhất, chặt chẽ và phù hợp với định hướng sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính và thanh tra hiện nay.

Chỉ nâng mức tiền tối đa áp dụng thủ tục xử phạt không lập biên bản lên gấp 01 lần để phù hợp với mức tăng lương tối thiểu

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã sửa đổi, bổ sung Điều 56 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, theo đó xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng đối với các trường hợp sau: (i) Xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000 đồng đối với cá nhân, 1.000.000 đồng đối với tổ chức; (ii) Hành vi vi phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến theo quy định tại khoản 1 Điều 63 của Luật này. Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản. Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, thì người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính được chỉnh sửa theo hướng chỉ nâng mức tiền tối đa áp dụng thủ tục xử phạt không lập biên bản lên gấp 01 lần để phù hợp với mức tăng lương tối thiểu là khoảng 2,5 lần (thời điểm hiện nay so với thời điểm năm 2012). Đồng thời, không thay đổi phương thức xác định theo “mức phạt tối đa của khung tiền phạt” (căn cứ theo quy định của khung tiền phạt). Việc điều chỉnh phương thức quy định sẽ được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá trong quá trình xây dựng đề xuất sửa đổi toàn diện Luật Xử lý vi phạm hành chính trong thời gian tới, tránh phát sinh cách hiểu và cách áp dụng khác nhau trong thực tiễn.

Bổ sung quy định việc chuyển tang vật, phương tiện vi phạm hành chính liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm được thực hiện

Khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính bổ sung quy định: “Việc chuyển tang vật, phương tiện vi phạm hành chính liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm được thực hiện theo quy định của Chính phủ” vào khoản 1 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính, bởi vì việc chuyển tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong các vụ việc có dấu hiệu tội phạm thường phức tạp, đặc biệt trong trường hợp một vụ việc đồng thời có cả hành vi vi phạm hành chính và hành vi có dấu hiệu tội phạm. Đây là nội dung mang tính chất nghiệp vụ, chuyên môn, cần hướng dẫn cụ thể, chi tiết để bảo đảm tính khả thi và thống nhất trong tổ chức thực hiện, do đó, việc giao Chính phủ quy định nội dung này là phù hợp.

Bên cạnh đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã quy định rõ chỉ được thực hiện các phương án xử lý sau thời hạn thực hiện đầy đủ quy trình thông báo. Đồng thời, Luật cũng quy định Chính phủ quy định chi tiết nội dung này.

Về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp, khoản 2 Điều 2 và khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính được chỉnh lý theo hướng quy định về nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính sẽ được thực hiện theo quy định tại nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước và nghị định quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

Vinh Nguyễn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn lực xã hội vào thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hoàn thiện cơ chế xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là yêu cầu đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nhằm huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW[I]. Trên cơ sở phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[II] (dự thảo Luật) và tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, nghiên cứu nhận diện những bất cập trong cơ chế xã hội hóa, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Đổi mới tư duy, xây dựng quy trình lập pháp, lập quy hiện đại, chuyên nghiệp

Đổi mới tư duy, xây dựng quy trình lập pháp, lập quy hiện đại, chuyên nghiệp

Sáng ngày 07/8, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo Luật về văn bản quy phạm pháp luật. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Nguyễn Quốc Hoàn.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Trong khuôn khổ Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 05/8, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) và Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Chiều ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng làm việc với Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý về Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới". Tham dự buổi làm việc có Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú; đại diện Lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Sáng ngày 06/8, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Tham dự cuộc họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: