Thứ sáu 20/03/2026 10:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam với nhiều quy định “mở”, góp phần thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đóng góp vào sự phát triển của đất nước

Sáng 24/6/2025, với 416/416 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100% đại biểu có mặt), Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung, trong đó, “nới lỏng” các quy định nhập quốc tịch Việt Nam, không quy định “cứng” phải có tên bằng tiếng Việt, quy định những người chỉ được có một quốc tịch Việt Nam…

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam “nới lỏng” các quy định nhập quốc tịch Việt Nam

Luật Quốc tịch năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Quốc tịch) quy định người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải đáp ứng nhiều điều kiện chặt chẽ tại Điều 19, theo đó, công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện: (i) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam; (ii) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam; (iii) Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam; (iv) Đã thường trú ở Việt Nam từ 05 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam; (v) Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam. Người xin nhập quốc tịch Việt Nam có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải có các điều kiện quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này, nếu thuộc một trong những trường hợp: (i) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam; (ii) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; (iii) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Người nhập quốc tịch Việt Nam phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người quy định tại khoản 2 Điều 19 (là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam; có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép.

Chính phủ quy định cụ thể các điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam (đã được quy định cụ thể tại Nghị định số 16/2020/NĐ-CP ngày 02/2/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam).

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung quy định này tại Điều 19 theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, nhà khoa học, chuyên gia nước ngoài… được nhập quốc tịch Việt Nam với điều kiện thông thoáng nhằm thu hút nguồn lực chất lượng cao. Theo đó, người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi xin nhập quốc tịch Việt Nam được miễn các điều kiện quy định tại điểm c, d, đ, e khoản 1 Điều 19 (biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam; đang thường trú ở Việt Nam; thời gian thường trú ở Việt Nam từ 05 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam; có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam). Đồng thời, các trường hợp này được giữ quốc tịch nước ngoài nếu đáp ứng 02 điều kiện tương tự trường hợp có người thân thích là công dân Việt Nam (việc xin giữ quốc tịch nước ngoài của người đó khi nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam là phù hợp với pháp luật của nước ngoài đó; không sử dụng quốc tịch nước ngoài để gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân; xâm hại an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và được Chủ tịch nước cho phép. Các trường hợp này được nộp hồ sơ tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nếu cư trú ở nước ngoài.

Ngoài ra, bên cạnh việc kế thừa các quy định tại Nghị định 16/2020/NĐ-CP, Chính phủ sẽ tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa “cơ chế đặc biệt về nhập quốc tịch” nêu trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia để phù hợp tình hình mới tại nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam.

Để áp dụng thống nhất pháp luật đối với công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 5 Luật Quốc tịch theo hướng luật hóa quy định tại Điều 5 Nghị định số 16/2020/NĐ-CP. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc mà pháp luật quốc tịch của hầu hết các nước đều quy định. Quy định này nhằm khẳng định rõ ràng hơn nguyên tắc một quốc tịch trong pháp luật quốc tịch Việt Nam. Quy định này cũng bảo đảm phù hợp với các quy định có liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.

Đồng thời, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam đã có quy định giao các bộ, ngành và cơ quan có liên quan rà soát; sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong thời hạn 02 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Quy định 04 nhóm là người chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và phải thường trú tại Việt Nam

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 5 Luật Quốc tịch theo hướng quy định nguyên tắc “phải là người chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và phải thường trú tại Việt Nam” đối với 04 nhóm và chỉ quy định ngoại lệ đối với nhóm công chức, viên chức (trừ công chức, viên chức công tác trong lực lượng vũ trang) nhằm thu hút các trường hợp có tài năng vượt trội có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đồng thời, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam đã quy định cụ thể nguyên tắc áp dụng pháp luật trong trường hợp luật khác có quy định về quốc tịch khác với quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều này. Theo đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung nội dung này như sau:

“5. Người ứng cử, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, chỉ định giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, địa phương; người làm việc trong tổ chức cơ yếu; người tham gia lực lượng vũ trang của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và phải thường trú tại Việt Nam.

6. Công chức, viên chức không thuộc quy định tại khoản 5 Điều này phải là người chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam và phải thường trú tại Việt Nam. Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

7. Trường hợp luật khác ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành có quy định về quốc tịch khác với quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều này thì áp dụng quy định của Luật này; trường hợp luật khác ban hành sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà có quy định về quốc tịch khác với quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều này thì phải xác định cụ thể nội dung thực hiện hoặc không thực hiện quy định này, nội dung thực hiện theo quy định của luật khác đó”.

Quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam liên quan đến quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này không bị khiếu nại, khiếu kiện

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam đã bổ sung quy định tại khoản 8 Điều 5 Luật Quốc tịch: “Quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam liên quan đến quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này không bị khiếu nại, khiếu kiện”.

Thực tiễn giải quyết hồ sơ trong thời gian qua, có một số trường hợp mặc dù đã được cơ quan tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn bổ sung hoàn thiện nhưng tại thời điểm Bộ Tư pháp kiểm tra lại hồ sơ vẫn không đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định hoặc người xin nhập/xin trở lại quốc tịch Việt Nam không bổ sung được giấy chứng nhận đã thôi quốc tịch nước ngoài; một số trường hợp Bộ Tư pháp nhận được văn bản của các cơ quan có liên quan đề nghị chưa giải quyết hoặc không giải quyết vì lý do an ninh.

Việc bổ sung quy định tại khoản 8 Điều 5 Luật Quốc tịch để bảo đảm không khiếu nại, khiếu kiện khi cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ra quyết định từ chối giải quyết hồ sơ quốc tịch trong các trường hợp nêu trên, thể hiện rõ quyền chủ quyền quốc gia ngay tại thời điểm cơ quan của Chính phủ xem xét hồ sơ trước khi trình Chủ tịch nước. Những kiến nghị, đề nghị liên quan đến giải quyết các việc về quốc tịch vẫn được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định.

Người xin giữ quốc tịch nước ngoài thì có thể lựa chọn tên ghép giữa tên Việt Nam và tên nước ngoài

Khoản 4 Điều 19 Luật Quốc tịch quy định người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có tên gọi Việt Nam. Tên gọi này do người xin nhập quốc tịch Việt Nam lựa chọn và được ghi rõ trong Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam.

Khoản 4 Điều 23 Luật Quốc tịch quy định người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải lấy lại tên gọi Việt Nam trước đây, tên gọi này phải được ghi rõ trong Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam chỉnh lý quy định tại khoản 4 Điều 19 và khoản 4 Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam theo hướng người xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài thì có thể lựa chọn tên ghép giữa tên Việt Nam và tên nước ngoài nhằm bảo đảm tạo thuận lợi cho họ khi sinh sống và làm việc tại các quốc gia mà người đó có quốc tịch. Theo đó, người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải lấy lại tên gọi Việt Nam trước đây. Trường hợp người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài thì có thể lựa chọn tên ghép giữa tên Việt Nam và tên nước ngoài. Tên gọi này phải được ghi rõ trong quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam.

Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam được giữ quốc tịch nước ngoài việc giữ quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật của nước đó; không sử dụng quốc tịch nước ngoài để gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm hại an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được Chủ tịch nước cho phép.

Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ số theo lộ trình

Để đáp ứng yêu cầu ứng dụng công nghệ số, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung khoản 2 và bổ sung khoản 7 vào sau khoản 6 Điều 39. Theo đó, đàm phán, ký điều ước quốc tế hoặc trình Chủ tịch nước quyết định việc đàm phán, ký điều ước quốc tế về quốc tịch theo quy định của Luật này và Luật Điều ước quốc tế. Đồng thời quy định, căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu và khả năng thực hiện trong từng thời kỳ, Chính phủ quy định về việc thực hiện giải quyết hồ sơ quốc tịch trên môi trường điện tử.

Thủ tục giải quyết các việc quốc tịch (đặc biệt là thủ tục xin nhập/xin trở lại/xin thôi quốc tịch Việt Nam) không chỉ là thủ tục hành chính thông thường mà còn là vấn đề thuộc quyền chủ quyền quốc gia, quy trình giải quyết có thể bao gồm cả thông tin mật, tối mật. Vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật của Quốc tịch Việt Nam quy định việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ số cần có lộ trình, phù hợp với tình hình thực tiễn.

Bên cạnh đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến trình tự, thủ tục (khoản 1 Điều 20, khoản 2 và khoản 3 Điều 21, khoản 1 Điều 24, khoản 4 Điều 25, khoản 5 Điều 29, Điều 41); sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam theo hướng: Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện xác nhận có quốc tịch Việt Nam thay vì xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp Hộ chiếu Việt Nam và giao Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục xác nhận có quốc tịch Việt Nam. Việc cấp Hộ chiếu Việt Nam được thực hiện theo quy định của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.

Chính phủ sẽ tiếp tục nghiên cứu ứng dụng công nghệ số vào một số bước trong quy trình giải quyết hồ sơ quốc tịch trong quá trình sửa đổi toàn diện Luật này và quá trình xây dựng nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam.

Vinh Nguyễn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

5 điểm nổi bật về công tác pháp luật trong kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật tại Phiên họp quý I/2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo

5 điểm nổi bật về công tác pháp luật trong kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật tại Phiên họp quý I/2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu 5 điểm nổi bật về công tác pháp luật trong kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật tại Phiên họp quý I/2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo
Tư duy "vượt khung" trong xây dựng pháp luật: Lời giải để tháo gỡ "điểm nghẽn của điểm nghẽn"

Tư duy "vượt khung" trong xây dựng pháp luật: Lời giải để tháo gỡ "điểm nghẽn của điểm nghẽn"

Tại Hội nghị Sơ kết công tác tham mưu triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW và quán triệt Kết luận số 09-KL/TW, từ thực tiễn xây dựng Nghị quyết số 206/2025/QH15, Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Nguyễn Quốc Hoàn chỉ ra 5 bài học cốt lõi nhằm chuyển đổi tư duy lập pháp theo hướng chủ động, linh hoạt, qua đó khơi thông các điểm nghẽn thể chế và tạo động lực cho phát triển.
Hoàn thiện thể chế trong kỷ nguyên mới: Nhìn lại 1 năm công tác tham mưu Nghị quyết số 66-NQ/TW

Hoàn thiện thể chế trong kỷ nguyên mới: Nhìn lại 1 năm công tác tham mưu Nghị quyết số 66-NQ/TW

Sáng 19/3, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị Sơ kết công tác tham mưu triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW và quán triệt kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về ký kết các thỏa thuận quốc tế

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về ký kết các thỏa thuận quốc tế

Các chính sách Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi) được xây dựng nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đối ngoại và hội nhập quốc tế trong tình hình mới; tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi trong việc ký kết các thỏa thuận quốc tế, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và các đối tác quốc tế.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Bảo đảm hoạt động của cơ quan, đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước hoạt động hiệu quả sau sắp xếp tổ chức bộ máy

Bảo đảm hoạt động của cơ quan, đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước hoạt động hiệu quả sau sắp xếp tổ chức bộ máy

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Phòng, chống rửa tiền gồm 03 điều, tập trung sửa đổi, bổ sung các nội dung của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 và Luật Phòng, chống rửa tiền số 14/2022/QH15 nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.
Đổi mới tổ chức, hoạt động của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đáp ứng sự phát triển của đất nước, Bộ, ngành Tư pháp

Đổi mới tổ chức, hoạt động của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đáp ứng sự phát triển của đất nước, Bộ, ngành Tư pháp

Ngày 11/3/2026, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tổ chức Hội nghị gặp mặt đầu Xuân Bính Ngọ và lấy ý kiến vào Đề án “Đổi mới tổ chức, hoạt động của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2040” theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Tăng cường cải cách hành chính, phân cấp thẩm quyền trong lĩnh vực y tế

Tăng cường cải cách hành chính, phân cấp thẩm quyền trong lĩnh vực y tế

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số luật thuộc lĩnh vực y tế được xây dựng nhằm triển khai thực hiện quy định của Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và tăng cường cải cách hành chính, phân cấp thẩm quyền trong lĩnh vực y tế; đồng thời giải quyết những nội dung còn vướng mắc trong quá trình thực hiện theo đề xuất, kiến nghị của các địa phương, đơn vị.
Tháo gỡ

Tháo gỡ 'nút thắt' trong việc viện dẫn văn bản quy phạm pháp luật

Chiều ngày 04/3/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh làm việc với Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật về dự án Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh hợp nhất văn bản (dự thảo Pháp lệnh).
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế quy định cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, việc hòa giải trong tranh chấp đầu tư quốc tế, tổ chức và hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết đầu tư quốc tế.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: