Thứ tư 21/01/2026 12:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp - Thách thức từ chính sách thuế mới và giải pháp

Khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi sang doanh nghiệp là chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, góp phần thực hiện mục tiêu phấn đấu có 02 triệu doanh nghiệp đến năm 2030 và 03 triệu doanh nghiệp đến năm 2045. Để chính sách phát huy hiệu quả cũng cần có những giải pháp để khắc phục những khó khăn, thách thức. Đây là một trong những nội dung nhận được sự quan tâm của dư luận xã hội và được các đại biểu Quốc hội chất vấn tại Phiên chất vấn về nhóm vấn đề thứ nhất thuộc lĩnh vực tài chính diễn ra vào sáng ngày 19/6/2025.

Chủ trương, chính sách mới hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68-NQ/TW) đã khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân đối với nền kinh tế. Nghị quyết nêu rõ, sau gần 40 năm đổi mới, kinh tế tư nhân nước ta đã từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 05 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới.

Tuy nhiên, kinh tế tư nhân hiện vẫn đối mặt với nhiều rào cản kìm hãm sự phát triển... Vì vậy, cần có những giải pháp tổng thể, toàn diện, đột phá để phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của kinh tế tư nhân, củng cố niềm tin, tạo khí thế và xung lực mới cho phát triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia là cần thiết và cấp bách.

Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt ra mục tiêu phấn đấu nước ta có 02 triệu doanh nghiệp đến năm 2030, có ít nhất 03 triệu doanh nghiệp đến năm 2045. Để thực hiện mục tiêu, Bộ Chính trị cũng đề ra những giải pháp cụ thể, như “có cơ chế, chính sách đặc biệt hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa…; bãi bỏ lệ phí môn bài; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong 3 năm đầu thành lập”; “rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp lý về kinh doanh cá thể; thu hẹp tối đa sự chênh lệch, tạo mọi điều kiện thuận lợi về tổ chức quản trị và chế độ tài chính, kế toán để khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp. Đẩy mạnh số hóa, minh bạch hóa, đơn giản hóa, dễ tuân thủ, dễ thực hiện đối với chế độ kế toán, thuế, bảo hiểm... để khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Xóa bỏ hình thức thuế khoán đối với hộ kinh doanh chậm nhất trong năm 2026”; “cung cấp miễn phí các nền tảng số, phần mềm kế toán dùng chung, dịch vụ tư vấn pháp lý, đào tạo về quản trị doanh nghiệp, kế toán, thuế, nhân sự, pháp luật cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh”.

Cụ thể hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 17/5/2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 198/2025/QH15). Trong đó, Điều 10 về hỗ trợ thuế, phí, lệ phí quy định: Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu; hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không áp dụng phương pháp khoán thuế từ ngày 01/01/2026; chấm dứt việc thu, nộp lệ phí môn bài từ ngày 01/01/2026. Để giảm gánh nặng chi phí, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi số, khoản 3 Điều 12 Nghị quyết số 198/2025/QH15 quy định: “3. Nhà nước bố trí kinh phí để cung cấp miễn phí các nền tảng số, phần mềm kế toán dùng chung cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh theo quy định của Chính phủ”.

Bỏ thuế khoán - bước chuyển cần thiết cho nền kinh tế hiện đại

Để thực hiện mục tiêu nước ta có 02 triệu doanh nghiệp đến năm 2030 và có ít nhất 03 triệu doanh nghiệp đến năm 2045, một trong những giải pháp trọng yếu được xác định là hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp. Nhằm thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, bỏ khoán thuế là một trong những giải pháp cần tập trung thực hiện[1].

Theo các quy định tại Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, có thể hiểu, thuế khoán là loại thuế tính theo tỷ lệ trên doanh thu khoán do cơ quan thuế xác định, áp dụng đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán[2], hay loại thuế trọn gói áp dụng đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh do có mức thuế thấp và khó xác định rõ ràng nên cơ quan thuế có thẩm quyền định mức một khoản thuế trên cơ sở hồ sơ tự khai của người nộp thuế, ý kiến tư vấn Hội đồng tư vấn thuế cấp xã và cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế[3]. Như vậy, cơ quan thuế sẽ ấn định mức doanh thu cho cả năm và hộ kinh doanh nộp thuế dựa trên mức khoán này.

Trong nhiều năm, thuế khoán từng là giải pháp tình thế giúp quản lý số lượng lớn hộ kinh doanh nhỏ lẻ trong điều kiện hạ tầng công nghệ và lực lượng quản lý thuế còn hạn chế. Thuế khoán có thủ tục đơn giản, thuận tiện, chỉ áp dụng một lần trong năm, phù hợp với trình độ quản lý còn hạn chế và đến nay đã trở thành thói quen của rất nhiều hộ kinh doanh. Tuy nhiên, thực hiện thuế khoán chỉ phù hợp trong giai đoạn nhất định, nếu tiếp tục áp dụng thuế khoán sẽ gây ra nhiều hạn chế, bất cập như: Đi ngược với xu thế phát triển chuyển đổi số; thiếu minh bạch[4], dễ lạm dụng; khó quản lý, kiểm soát doanh thu, gây thất thu thuế; ảnh hưởng đến tính tuân thủ, nghiêm minh của pháp luật; gây bất bình đẳng giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp, giữa các hộ kinh doanh với nhau (bởi có thể có những hộ kinh doanh có doanh thu thực tế cao hơn nhiều so với mức khoán, nhưng vẫn nộp thuế ít hơn so với những hộ kinh doanh có doanh thu thực tế thấp hơn, nhưng bị ấn định mức khoán cao); không tạo được động lực cho hộ kinh doanh phát triển thành doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Chính vì vậy, tại Nghị quyết số 68-NQ/TW, Bộ Chính trị yêu cầu thực hiện xóa bỏ hình thức thuế khoán đối với hộ kinh doanh chậm nhất trong năm 2026. Đồng thời, Nghị quyết số 198/2025/QH15 quy định, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không áp dụng phương pháp khoán thuế từ ngày 01/01/2026. Việc bãi bỏ thuế khoán từ năm 2026 là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, là bước đi căn cơ và cần thiết để minh bạch hóa hoạt động của các hộ kinh doanh, tạo sự bình đẳng giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp và mở rộng khu vực kinh tế chính thức là tất yếu của nền kinh tế số, kinh tế hiện đại.

Những khó khăn, thách thức

Thực hiện lộ trình bỏ thuế khoán, ngày 20/3/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 70/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ (Nghị định số 70/2025/NĐ-CP). Theo đó, Nghị định này sửa đổi Điều 11 với quy định: Kể từ ngày 01/6/2025, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo quy định tại khoản 1 Điều 51[5] có mức doanh thu hằng năm từ 01 tỷ đồng trở lên, khoản 2 Điều 90[6], khoản 3 Điều 91[7] Luật Quản lý thuế năm 2019 phải sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế.

Hóa đơn điện tử là xu hướng tất yếu trong thời đại số, mang lại lợi ích lâu dài cho cả hộ kinh doanh, Nhà nước và người tiêu dùng. Đây không chỉ thay đổi cách thu, mà còn thay đổi tư duy quản lý và tư duy tuân thủ pháp luật của người dân. Mỗi hộ kinh doanh sẽ dần tiếp cận với các quy chuẩn vận hành như doanh nghiệp nhỏ. Việc bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử và chế độ kế toán đơn giản sẽ là một “cú hích” mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và tạo tiền đề để các hộ kinh doanh làm quen với việc quản trị tài chính bài bản. Điều này cũng từng bước phát triển thành doanh nghiệp và tiếp cận các chính sách hỗ trợ lớn hơn, ví dụ như các chính sách hỗ trợ kinh doanh theo Nghị quyết số 198/2025/QH15[8].

Tuy nhiên, khó khăn, thách thức đặt ra, quá trình chuyển đổi áp dụng hóa đơn điện tử tiến tới bỏ thuế khoán có thể tạo ra một "khoảng trống" pháp lý nhất định trong giai đoạn các hộ kinh doanh tập huấn và làm quen với quy định mới. Việc chuyển đổi có thể gây khó khăn cho những mô hình kinh doanh siêu nhỏ như các quầy tạp hóa trong hẻm, quán cà phê vỉa hè, người bán hàng online, đặc biệt là các hộ kinh doanh do phụ nữ, người dân tộc thiểu số hoặc người lớn tuổi làm chủ, với trình độ công nghệ còn hạn chế. Điều đó có thể dẫn đến nguy cơ một số hộ kinh doanh nhỏ phải ngừng hoạt động do không đáp ứng được các yêu cầu mới[9].

Bên cạnh đó, nhiều hộ kinh doanh, người dân đã hình thành thói quen nộp thuế khoán, trong khi đó lại phải chuyển từ cách làm dễ, đơn giản (hạn chế việc phải dùng sổ sách, xử lý hóa đơn, chỉ cần thực hiện một lần trong năm được ấn định sẵn) sang cách làm phức tạp, khó hơn, mất nhiều thời gian (cần phải quản lý, ghi sổ sách, kê khai chứng từ, hóa đơn đầy đủ, thực hiện mất nhiều thời gian, thực hiện định kỳ) nên nếu thực hiện thay đổi ngay không dễ nhận được sự đồng thuận, hợp tác của các hộ kinh doanh. Đồng thời là sự lo ngại về các yếu tố như: Cần phải đầu tư cơ sở vật chất (thiết bị như máy tính tiền, phần mềm, chữ ký số…), tăng chi phí tuân thủ, có thể tốn thêm chi phí thuê kế toán; cần phải học để biết cách sử dụng, thực hiện, tiếp cận với công nghệ; lo sợ chỉ cần thao tác kỹ thuật sai (như điền thiếu thông tin trên hóa đơn dù không cố ý) có thể khiến họ bị phạt nặng; ảnh hưởng đến lợi nhuận, thu nhập.

Chính vì vậy, thực tế triển khai thời gian qua có thực trạng nhiều hộ kinh doanh “phản ứng” tiêu cực với chính sách cải cách, cụ thể: Từ chối thanh toán qua chuyển khoản; hoạt động kinh doanh cầm chừng để “né tránh”; không phát hành hóa đơn, dù khách hàng yêu cầu; yêu cầu người mua chuyển khoản với nội dung mập mờ; chia nhỏ doanh thu bằng cách mở nhiều địa điểm hoặc tách hóa đơn; ghi sai nội dung chuyển khoản để làm mờ dòng tiền…[10].

Giải pháp tăng hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ, thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp

Trả lời đại biểu Quốc hội tại Phiên chất vấn nhóm vấn đề thứ nhất thuộc lĩnh vực tài chính diễn ra sáng ngày 19/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết, trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2017 đã có chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, nhưng sau hơn 07 năm, số lượng chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp không nhiều. Có 03 nguyên nhân dẫn đến tình trạng này: Chi phí tuân thủ pháp luật giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp chênh lệch lớn; hộ kinh doanh chưa nắm rõ quy định pháp luật, chưa quen quản lý sổ sách kế toán; hộ kinh doanh được áp dụng thuế khoán, áp dụng hóa đơn chứng từ đơn giản hơn doanh nghiệp. Do đó, để thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển sang doanh nghiệp, Bộ trưởng Bộ Tài chính nhấn mạnh cần nghiên cứu tập trung 04 giải pháp: (i) Rà soát hoàn thiện khung pháp lý của hộ kinh doanh để thu hẹp khoảng cách về tổ chức quản trị, chế độ kế toán tài chính giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp; (ii) Khẩn trương hoàn thiện quy định pháp lý, bãi bỏ thuế khoán. Đây là giải pháp căn cơ để minh bạch hóa hoạt động của hộ kinh doanh; (iii) Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 03 năm đầu tiên, miễn lệ phí môn bài… Khi chuyển đổi thành doanh nghiệp, các hộ kinh doanh sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi hơn so với mô hình hộ kinh doanh; (iv) Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức, năng lực quản trị để các hộ kinh doanh thực hiện chuyển đổi mô hình doanh nghiệp.

Để chính sách mới về hỗ trợ, thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp phát huy hiệu quả thực thi, rất cần sự chủ động, hợp tác từ Nhà nước và các hộ kinh doanh, người tiêu dùng; sự tham gia đồng bộ của ngành thuế, ngân hàng, các hiệp hội nghề nghiệp và các doanh nghiệp công nghệ.

Hiện nay, Bộ Tài chính đang chuẩn bị đồng bộ về pháp lý, công nghệ để hỗ trợ thực hiện bảo đảm thuận lợi và giảm gánh nặng về thủ tục, cũng như chi phí cho các hộ kinh doanh. Trong đó, rà soát, hoàn thiện chính sách thuế; đề xuất sửa Luật Quản lý thuế, Luật Thu nhập cá nhân hướng đến mô hình quản lý thuế mới và kê khai đơn giản, minh bạch và dễ thực hiện; đơn giản hóa các sổ sách, hóa đơn chứng từ để bảo đảm hộ kinh doanh sẽ không bị áp lực khi chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp[11]. Triển khai chính sách bãi bỏ thuế khoán là việc quan trọng trong hoàn thiện khung pháp lý để thu hẹp chênh lệch giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp về quản trị, tài chính, kế toán. Việc bỏ thuế khoán đã được Bộ Tài chính triển khai ở một số địa bàn và đã chứng minh được tính hiệu quả.

Để tạo thuận lợi cho việc sử dụng hóa đơn điện tử, chuyển dần từ thuế khoán sang phương pháp kê khai thuế, Bộ Tài chính thực hiện cung cấp miễn phí hệ thống khai thuế, nộp thuế điện tử, phần mềm hóa đơn điện tử, phần mềm kế toán, đặc biệt là hỗ trợ cho các hộ kinh doanh còn khó khăn trong giai đoạn đầu[12]. Để triển khai hóa đơn điện tử từ máy tính tiền đối với các hộ kinh doanh theo Nghị định số 70/2025/NĐ-CP, cơ quan thuế đã bố trí cán bộ hỗ trợ người nộp thuế xuyên suốt kể cả ngoài giờ hành chính, đồng thời phối hợp với các nhà cung cấp giải pháp phần mềm giúp hộ kinh doanh sử dụng thành thạo hóa đơn điện tử theo đúng quy định[13]. Các ngân hàng cũng đã vào cuộc, triển khai ứng dụng hỗ trợ hộ kinh doanh hoàn toàn miễn phí, cho phép quản lý doanh thu, xuất hóa đơn điện tử ngay trên điện thoại thông minh. Nhờ đó, người kinh doanh có thể tuân thủ đầy đủ các quy định của Nghị định số 70/2025/NĐ-CP nhanh chóng, dễ dàng và tiết kiệm chi phí mà không cần đầu tư thiết bị đắt tiền hay thuê kế toán[14].

Nhằm giảm gánh nặng tài chính, Nhà nước thực hiện hỗ trợ ưu đãi thuế, cụ thể là miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 03 năm đầu thành lập, miễn lệ phí môn bài. Điều này sẽ tạo sự “hấp dẫn” đối với hộ kinh doanh chuyển đổi sang doanh nghiệp.

Một vấn đề cần được lưu ý là việc thay đổi thói quen thuế khoán của hộ kinh doanh cần thực hiện theo lộ trình. Trước khi bỏ hoàn toàn thuế khoán vào ngày 01/01/2026, Nhà nước đã quy định về áp dụng hóa đơn điện tử đối với hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỷ đồng/năm. Trong quá trình đó, để tạo sự hợp tác, đồng thuận của người dân, không nên thực hiện xử phạt ngay cần vận động, thuyết phục, hỗ trợ, hướng dẫn để hộ kinh doanh thích nghi, làm quen với cách làm mới.

Để người dân, doanh nghiệp hiểu rõ, hiểu đúng về vấn đề này, việc đẩy mạnh truyền thông là giải pháp hết sức quan trọng. Cần tuyên truyền sâu rộng, phù hợp nhằm nâng cao nhận thức của người dân, hộ kinh doanh về ý nghĩa, sự cần thiết, lợi ích của chính sách bỏ thuế khoán, hỗ trợ chuyển đổi thành doanh nghiệp và trước mắt là áp dụng hóa đơn điện tử, sử dụng máy tính tiền kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế. Khi người dân nhận thấy được lợi ích lâu dài của những chính sách đó, đồng thời quy trình thực hiện được thuận lợi chắc chắn sẽ đồng tình ủng hộ, chủ động thực hiện.

Uyên Nhi

Ảnh: Internet


  1. Theo trả lời chất vấn đại biểu Quốc Hội của Bộ trưởng Bộ Tài chính tại Phiên chất vấn nhóm vấn đề thứ nhất thuộc lĩnh vực tài chính diễn ra sáng ngày 19/6/2025.
  2. Tham khảo: https://thuvienphapluat.vn/chinh-sach-phap-luat-moi/vn/ho-tro-phap-luat/tu-van-phap-luat/44010/thue-khoan-la-gi-doi-tuong-ap-dung-thue-khoan.
  3. Tham khảo: https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/ho-tro-phap-luat/thue-khoan-la-gi-phuong-phap-khoan-duoc-ap-dung-doi-voi-ho-kinh-doanh-ca-nhan-kinh-doanh-nao-nhung--31297.html.
  4. Bộ trưởng Bộ Tài chính trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội tại Phiên chất vấn nhóm vấn đề thứ nhất thuộc lĩnh vực tài chính diễn ra sáng ngày 19/6/2025: hệ thống thuế của chúng ta đã được các cơ quan quốc tế đánh giá cơ bản tiếp cận thông quốc tế, nhưng tính minh bạch trong một số loại thuế đang thu thủ công là rào cản rất lớn dẫn đến không minh bạch trong quản lý thuế.
  5. Khoản 1, khoản 5 Điều 51 Luật Quản lý thuế năm 2019 quy định: “1. Cơ quan thuế xác định số tiền thuế phải nộp theo phương pháp khoán thuế (sau đây gọi là mức thuế khoán) đối với trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này”; “5. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có quy mô về doanh thu, lao động đáp ứng từ mức cao nhất về tiêu chí của doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thực hiện chế độ kế toán và nộp thuế theo phương pháp kê khai”.
  6. Khoản 2 Điều 90 Luật Quản lý thuế năm 2019 quy định: “2. Trường hợp người bán có sử dụng máy tính tiền thì người bán đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử được khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế”.
  7. Khoản 3 Điều 91 Luật Quản lý thuế năm 2019 về áp dụng hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ quy định: “3. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 51 của Luật này và các trường hợp xác định được doanh thu khi bán hàng hóa, dịch vụ sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ”.
  8. Thảo Thu, Bộ Tài chính: Hộ kinh doanh nhỏ nguy cơ dừng hoạt động vì quy định thuế mới, https://dantri.com.vn/kinh-doanh/bo-tai-chinh-ho-kinh-doanh-nho-nguy-co-dung-hoat-dong-vi-quy-dinh-thue-moi-20250616012238512.htm.
  9. Thảo Thu, Bộ Tài chính: Hộ kinh doanh nhỏ nguy cơ dừng hoạt động vì quy định thuế mới, https://dantri.com.vn/kinh-doanh/bo-tai-chinh-ho-kinh-doanh-nho-nguy-co-dung-hoat-dong-vi-quy-dinh-thue-moi-20250616012238512.htm.
  10. Minh Phương, Bỏ thuế khoán: Cải cách chỉ thành công khi đi đến cùng và loại bỏ thói quen cũ, https://nhandan.vn/bo-thue-khoan-cai-cach-chi-thanh-cong-khi-di-den-cung-va-loai-bo-thoi-quen-cu-post885342.html.
  11. Lan Hương - Vũ Hiếu - Thế Anh - Cao Hoàng, Tư lệnh ngành Tài chính trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội về những e ngại của hộ kinh doanh đối với cách tính thuế mới, https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=94663.
  12. Lan Hương - Vũ Hiếu - Thế Anh - Cao Hoàng, Tư lệnh ngành Tài chính trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội về những e ngại của hộ kinh doanh đối với cách tính thuế mới, https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=94663.
  13. [22] Tô Hà, Quỳnh Trang, Tháo gỡ vướng mắc trong triển khai hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, https://nhandan.vn/thao-go-vuong-mac-trong-trien-khai-hoa-don-dien-tu-khoi-tao-tu-may-tinh-tien-post884707.html.
  14. [23] Trần Nam, Hộ kinh doanh được hỗ trợ xuất hóa đơn trên điện thoại, https://hanoionline.vn/ho-kinh-doanh-duoc-ho-tro-xuat-hoa-don-tren-dien-thoai-341800.htm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: