Thứ năm 16/04/2026 01:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp ở Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tại Cộng hòa Pháp, quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, gồm Thượng viện và Hạ viện nhưng “quyền lực, ảnh hưởng chính trị của Nghị viện hiện nay thực chất tập trung ở Hạ viện”[1], còn quyền hành pháp thuộc về nguyên thủ quốc gia (Tổng thống) và Chính phủ (đứng đầu là Thủ tướng).

1. Kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp ở Cộng hòa Pháp
Tuy nhiên, “Tổng thống Pháp (nguyên thủ quốc gia) mới là người nắm quyền hành pháp một cách thực chất”[2]. Sự kiểm soát của Nghị viện - lập pháp đối với Tổng thống và Chính phủ - hành pháp được thể hiện qua nhiều phương thức. Cụ thể:

Thứ nhất, lập pháp kiểm soát hành pháp thông qua cách hình thành hành pháp

Một trong những nội dung của việc kiểm soát hành pháp chính là kiểm soát về quy trình, cách thức hình thành nhân sự và cơ cấu tổ chức của hành pháp, vì việc kiểm soát được sự lựa chọn, hình thành bộ máy hành pháp, tạo cơ sở cho việc kiểm soát hoạt động của hành pháp. Theo đó, sự kiểm soát của lập pháp đối với cách hình thành hành pháp ở Cộng hòa Pháp được thể hiện như sau:

- Chính phủ Cộng hòa Pháp được thành lập trên cơ sở Nghị viện. Tức là, sau cuộc bầu cử Nghị viện, đảng nào chiếm đa số ghế đại biểu ở Nghị viện thì đảng đó sẽ đứng ra thành lập Chính phủ[3]. Bên cạnh đó, dù theo quy định của Hiến pháp năm 1958 của Pháp, Thủ tướng là do Tổng thống bổ nhiệm nhưng trên thực tế, Tổng thống Pháp “không thể bổ nhiệm một người nào đó khác hơn nếu như người đó không là thủ lĩnh của liên minh cầm quyền”[4]. Như vậy, Chính phủ Pháp được hình thành và hoạt động trên cơ sở tín nhiệm, ủng hộ của Nghị viện Pháp. Đây là lý do vì sao Nghị viện có quyền chất vấn, bỏ phiếu bất tín nhiệm và thậm chí là giải tán Chính phủ.

- Trong trường hợp khuyết Tổng thống thì Chủ tịch Thượng viện sẽ tạm thời thực hiện các nhiệm vụ của Tổng thống (Điều 7 Hiến pháp năm 1958). Quy định này cho thấy, khi chức danh Tổng thống bị khuyết thì vai trò của Nghị viện trong việc kiểm soát hoạt động của hành pháp là rất lớn, nhằm hạn chế tối đa việc trao toàn bộ quyền hành pháp cho Thủ tướng dù chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn từ 20 đến 35 ngày[5].

Thứ hai, lập pháp kiểm soát hành pháp thông qua chất vấn

Theo Điều 48 Hiến pháp năm 1958 của Pháp, mỗi tuần, Nghị viện Pháp phải dành ít nhất một buổi họp để các nghị sĩ chất vấn thành viên Chính phủ. Trên thực tế, việc chất vấn Chính phủ thường được tiến hành vào đầu giờ phiên họp buổi chiều ngày thứ tư[6].

Về hình thức, chất vấn bao gồm chất vấn bằng văn bản[7] và chất vấn miệng. Theo đó, đối với hình thức chất vấn bằng văn bản, sau khi nhận được câu hỏi bằng văn bản, các bộ trưởng sẽ trả lời bằng văn bản và câu trả lời này được đăng trên công báo trong thời hạn một tháng. Tuy nhiên, chỉ có “khoảng 85% đến 90% số câu hỏi nhận được câu trả lời, song có những vấn đề mặc dù có câu hỏi nhưng không bao giờ nhận được câu trả lời”[8]. Đối với hình thức chất vấn miệng, các câu hỏi và câu trả lời sẽ được tiến hành trong phiên chất vấn của buổi họp mỗi tuần. Câu hỏi chất vấn miệng thường gồm ba loại, đó là câu hỏi không kèm việc thảo luận, câu hỏi có kèm theo việc thảo luận và câu hỏi của đảng đoàn Nghị viện[9].

Về hậu quả pháp lý, sau khi kết thúc chất vấn, Nghị viện đưa ra nghị quyết để bày tỏ quan điểm ủng hộ hay phản đối hoạt động của Chính phủ. Trong trường hợp Nghị viện đưa ra nghị quyết bất tín nhiệm thì có thể dẫn đến sự từ chức của Chính phủ.

Thứ ba, lập pháp kiểm soát hành pháp thông qua bỏ phiếu bất tín nhiệm

Theo quy định tại Điều 49 Hiến pháp năm 1958 của Pháp, việc bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ chỉ được tiến hành khi có chữ ký của ít nhất 10% số thành viên Hạ viện. Tuy nhiên, sau khi có kiến nghị này thì việc bỏ phiếu bất tín nhiệm không được tiến hành ngay, vì theo Điều 49, việc bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ chỉ được tổ chức sau 48 giờ, kể từ lúc trình kiến nghị. Thiết nghĩ, quy định này một mặt tạo điều kiện cho Nghị viện và Chính phủ “tìm kiếm những thỏa hiệp cần thiết”[10], mặt khác, đảm bảo các hạ nghị sĩ có thời gian để cân nhắc về hậu quả của việc bất tín nhiệm Chính phủ, từ đó, đưa ra được những quyết định sáng suốt, thận trọng hơn.

Về điều kiện thông qua và hậu quả pháp lý, theo Điều 49 Hiến pháp năm 1958, việc bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ được thông qua khi đạt đa số phiếu của các hạ nghị sĩ. Theo Điều 50 Hiến pháp năm 1958, nếu Hạ viện thông qua việc bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ thì Thủ tướng phải đệ đơn từ chức của Chính phủ lên Tổng thống, vì hậu quả pháp lý này khá gay gắt nên Hiến pháp quy định một nghị sĩ không thể đứng tên đề xuất quá ba kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ trong một kỳ họp thường lệ của Hạ viện và không thể quá một kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ trong kỳ họp bất thường của Hạ viện (Điều 49).

Tuy nhiên, trên thực tế, Nghị viện Pháp rất ít khi thông qua nghị quyết bất tín nhiệm Chính phủ. Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ ảnh hưởng của đảng phái chính trị[11] cũng như sự thỏa hiệp cùng tồn tại giữa Nghị viện và Chính phủ[12]. Chính vì điều này, cho đến nay, nước Pháp chỉ có duy nhất một lần việc bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Chính phủ được Hạ viện thông qua. Đó là lần bỏ phiếu bất tín nhiệm vào năm 1962 đối với Chính phủ của Thủ tướng Georges Pompidou[13].

Thứ tư, lập pháp kiểm soát hành pháp thông qua hoạt động của các Ủy ban

Ở Pháp, các Ủy ban đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp, chẳng hạn như: Ủy ban Điều tra, Ủy ban Đối ngoại, Ủy ban Tài chính, Ủy ban Đánh giá và kiểm tra chính sách công…

- Về Ủy ban Điều tra: Hoạt động của Ủy ban điều tra có tính chất lâm thời bởi Ủy ban này sẽ giải tán sau sáu tháng điều tra hoặc sẽ phải ngừng hoạt động khi có văn bản khởi tố vụ việc mà Ủy ban điều tra đang xem xét. Nhiệm vụ của Ủy ban này là điều tra, thu thập các thông tin về những vấn đề mà Nghị viện quan tâm, liên quan đến hoạt động của Chính phủ[14]. Sau khi kết thúc hoạt động điều tra, Ủy ban này sẽ trình báo cáo điều tra lên Nghị viện với các nội dung mang tính chất khuyến nghị, chứ không có giá trị bắt buộc và quyết định.

- Về Ủy ban Đối ngoại: Vai trò của Ủy ban này trong việc giúp lập pháp kiểm soát hành pháp được thể hiện qua hoạt động thẩm định các dự luật phê chuẩn điều ước quốc tế, các dự chi ngân sách cho lĩnh vực đối ngoại và thông qua việc tiến hành các cuộc điều trần[15] với quyền triệu tập Thủ tướng, các bộ trưởng liên quan đến đối ngoại[16], các quan chức ngoại giao cấp cao, các chuyên gia.

- Về Ủy ban Tài chính: Vào đầu mỗi nhiệm kỳ, Ủy ban Tài chính chỉ định nghị sĩ phụ trách về ngân sách của bộ. Thông thường, nghị sĩ được chỉ định không là thành viên của Ủy ban tài chính, mà là thành viên của Ủy ban có thẩm quyền liên quan đến bộ do mình phụ trách. Mỗi nghị sĩ sẽ xem xét ngân sách của một bộ trong suốt nhiệm kỳ của mình. Tuy nhiên, “vai trò của các nghị sĩ này chỉ dừng lại ở mức độ là người tư vấn”[17], còn quyền quyết định vẫn thuộc về Nghị viện.

Thứ năm, lập pháp kiểm soát hành pháp thông qua xét xử

Xét xử là một trong những phương thức quan trọng để lập pháp kiểm soát hành pháp. Nếu như Nghị viện Pháp chỉ có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ, không thể bỏ phiếu bất tín nhiệm Tổng thống thì với phương thức này, Nghị viện Pháp có thể xét xử cả Tổng thống và các thành viên của Chính phủ. Theo đó, Tổng thống Pháp chỉ bị xét xử khi “phạm tội phản quốc hoặc âm mưu xâm hại an toàn của Nhà nước”[18]. Một trong hai viện sẽ tiến hành buộc tội và nếu việc buộc tội được thông qua thì Nghị viện thành lập một Tòa án đặc biệt để xét xử Tổng thống. Nếu có hai phần ba số thành viên của Tòa án này biểu quyết đồng ý cách chức Tổng thống thì Tòa án ra phán quyết cách chức Tổng thống. Phán quyết này có hiệu lực ngay lập tức[19].

Bên cạnh đó, các thành viên của Chính phủ cũng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội nghiêm trọng. Việc xét xử các thành viên của Chính phủ sẽ được tiến hành bởi Tòa án công lý của Cộng hòa Pháp. Tòa án này bao gồm 15 thành viên, trong đó, có 12 nghị sĩ và ba thẩm phán, một trong những người này sẽ làm chủ tọa. Theo đó, khi bất cứ một người nào bị thiệt hại do hành vi phạm tội của thành viên Chính phủ gây ra trong khi thi hành công vụ thì người đó có quyền gửi đơn kiện lên một Ủy ban giải quyết đơn thư khiếu nại. Ủy ban này có quyền quyết định đình chỉ vụ việc hoặc chuyển hồ sơ sang Viện trưởng Viện công tố để chuyển đến Toà án công lý Cộng hoà[20].

Ngoài việc sử dụng các phương thức cơ bản trên, việc kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp còn được đảm bảo khách quan, hiệu quả bởi nguyên tắc “bất khả kiêm nhiệm” (Điều 23 Hiến pháp năm 1958) và “bất khả xâm phạm nghị sĩ” (Điều 26 Hiến pháp năm 1958). Theo nguyên tắc “bất khả kiêm nhiệm”, thành viên của Chính phủ không được đồng thời kiêm nhiệm nghị sĩ. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo tính khách quan của sự kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp ở Cộng hòa Pháp. Còn theo nguyên tắc “bất khả xâm phạm nghị sĩ” thì nghị sĩ không thể bị truy tố, điều tra, bắt giữ, xét xử vì những ý kiến phát biểu khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo nghị sĩ có thể tự do phát biểu quan điểm của mình[21], đặc biệt là trong hoạt động chất vấn.

2. Kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua nghiên cứu về sự kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp ở Cộng hòa Pháp, có thể rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay, cụ thể:

Thứ nhất, về hậu quả pháp lý của chất vấn. Không chỉ có Pháp mà hầu hết ở các nước khác, sau khi kết thúc phiên chất vấn hành pháp, Nghị viện sẽ thể hiện thái độ ủng hộ, không ủng hộ, tín nhiệm hay không tín nhiệm đối với hành pháp thông qua sự biểu quyết của từng nghị sĩ. Tuy nhiên, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, mặc dù sau phiên chất vấn, Quốc hội ra nghị quyết về chất vấn, nhưng nghị quyết này vẫn chưa có nội dung thể hiện được thái độ ủng hộ hay không ủng hộ của Quốc hội đối với việc trả lời chất vấn của các thành viên Chính phủ. Đây là vấn đề mà nước ta cần tham khảo kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp khi quy định về hậu quả pháp lý của việc chất vấn, nhằm đảm bảo được mục đích của chất vấn.

Thứ hai, về quy định việc bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ chỉ được tổ chức sau 48 giờ kể từ lúc trình kiến nghị tại Điều 49 Hiến pháp năm 1958 của Cộng hòa Pháp. Như đã phân tích, quy định này có ý nghĩa trong việc tạo điều kiện cho Nghị viện và Chính phủ có những thỏa thuận cần thiết cũng như giúp các nghị sĩ suy nghĩ thận trọng hơn về những hậu quả có thể xảy ra khi việc bỏ phiếu bất tín nhiệm thành công, Chính phủ phải từ chức. Vì thế, đây là một kinh nghiệm mà nước ta có thể nghiên cứu để tiếp thu trong quá trình hoàn thiện chế định bỏ phiếu tín nhiệm.

Thứ ba, về vai trò của các Ủy ban. Từ thực tiễn của Cộng hòa Pháp có thể thấy, các Ủy ban đóng vai trò quan trọng trong việc giúp lập pháp kiểm soát hành pháp. Tham khảo kinh nghiệm này, nước ta cần nghiên cứu để nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ủy ban theo hướng trao cho Ủy ban đủ thẩm quyền để đảm bảo Ủy ban thực hiện đúng nhiệm vụ của mình cũng như thành lập các Ủy ban theo lĩnh vực chuyên sâu hơn.

Thứ tư, về nguyên tắc “bất khả kiêm nhiệm” ở Cộng hòa Pháp. Có thể thấy, một trong những yếu tố cơ bản để đảm bảo sự khách quan trong hoạt động kiểm soát là chủ thể kiểm soát và đối tượng kiểm soát phải có sự tách bạch. Tuy nhiên, thực tế nước ta hiện nay, hầu hết các thành viên của Chính phủ đều là đại biểu Quốc hội. Điều này đã làm giảm đi phần nào tính khách quan trong hoạt động kiểm soát của Quốc hội đối với Chính phủ. Vì thế, thiết nghĩ, trong thời gian tới, chúng ta nên tham khảo nguyên tắc trên ở Cộng hòa Pháp để hạn chế việc các thành viên của Chính phủ là đại biểu Quốc hội, nhằm đảm bảo tính khách quan trong sự kiểm soát của Quốc hội đối với Chính phủ.

Thứ năm, về nguyên tắc “bất khả xâm phạm nghị sĩ”. Có thể thấy, việc đại biểu Quốc hội được miễn trừ về những hậu quả pháp lý đối với phát biểu của mình là điều kiện cần thiết để Quốc hội thực hiện tốt sự kiểm soát đối với Chính phủ. Bởi lẽ, nếu đại biểu Quốc hội không thể tự do phát biểu về các vấn đề đang được thảo luận tại Quốc hội hay các chất vấn đối với Chính phủ thì đại biểu Quốc hội không thể truy cứu được “tới cùng” đối với trách nhiệm của Chính phủ, từ đó làm giảm hiệu quả kiểm soátChính phủ. Tuy nhiên, pháp luật nước ta hiện nay vẫn chưa quy định về quyền miễn trừ này của đại biểu Quốc hội. Vì thế, thiết nghĩ, trong thời gian tới, nước ta cần nghiên cứu để bổ sung các quy định về quyền miễn trừ của đại biểu Quốc hội đối với các phát biểu của đại biểu đó trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp cũng như các quốc gia khác trên thế giới.

Trương Thị Minh Thùy

Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh


[1] Nguyễn Văn Huyên (2007), Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ (Mô hình tổ chức và hoạt động), Nxb. Lý luận chính trị, tr. 157.

[2] Trần Quốc Việt (2015), “Hoạt động kiểm soát quyền hành pháp của Nghị viện các nước Anh, Pháp, Mỹ”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 3, tr. 57.

[3] Vũ Hồng Anh (2001), Tổ chức và hoạt động của Nghị viện ở một số nước trên thế giới, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 169.

[4] Nguyễn Đăng Dung (2009), Nhà nước là những con số cộng giản đơn, Nxb. Lao động, tr. 211.

[5] Vì khi Chủ tịch Thượng viện không thể thực hiện được thì Thủ tướng mới là người thay thế vị trí Tổng thống bị khuyết.

[6] Vũ Đình Nam, Hoạt động giám sát của Nghị viện một số nước trên thế giới, http://caicachhanhchinh.gov (truy cập ngày 08/6/2017).

[7] Hình thức chất vấn bằng văn bản được bổ sung từ năm 1910.

[8] Mai Xuân Bình (2000), “Giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ theo Hiến pháp năm 1958 của Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5, tr.81.

[9] Vũ Hồng Anh (2001), Tổ chức và hoạt động của Nghị viện ở một số nước trên thế giới, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 171.

[10] Trương Hồ Hải (2015), “Giám sát của Quốc hội đối với tổ chức bộ máy nhà nước trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 5, tr. 24.

[11] Ở Pháp, Chính phủ được thành lập và hoạt động dựa trên sự tín nhiệm, ủng hộ của đảng chiếm đa số ghế trong Nghị viện. Vì thế, không có lý do gì để các nghị sĩ là thành viên của đảng này lại bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ theo đề nghị của đảng khác.

[12] Khi Nghị viện bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ thì Nghị viện lại có nguy cơ bị giải tán bởi Tổng thống.

[13] Mai Xuân Bình (2000), “Giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ theo Hiến pháp năm 1958 của Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5, tr.83.

[14] Mai Xuân Bình (2000), “Giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ theo Hiến pháp năm 1958 của Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5, tr.81.

[15]Tuy nhiên, các buổi điều trần này chỉ có tính chất đối thoại giữa cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp, chứ không mở cửa cho công chúng tham dự.

[16] Các bộ trưởng liên quan đến đối ngoại như: Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng các vấn đề về EU, Bộ trưởng phụ trách Hợp tác và Pháp ngữ...

[17] Nguyễn Sĩ Dũng (2014), Tổ chức và hoạt động của Nghị viện các nước trên thế giới, Tài liệu lưu hành nội bộ, tr. 287.

[18] Nguyễn Thị Hồi (2005), Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước, Nxb. Tư pháp, tr. 204.

[19] Điều 68 Hiến pháp năm 1958: “The High Court shall be presided over by the President of the National Assembly. It shall give its ruling as to the removal from office of the President, by secret ballot, within one month. Its decision shall have immediate effect.Rulings given hereunder shall require a majority of two thirds of the members of the House involved or of the High Court”.

[20] Điều 68 Hiến pháp năm 1958: Members of Government “shall be tried by the Court of Justice of the Republic”. “The Court of Justice of the Republic shall consist of fifteen members: twelve Members of Parliament, elected in equal number from among their ranks by the National Assembly and the Senate after each general or partial renewal by election of these Houses, and three judges of the Cour de cassation, one of whom shall preside over the Court of Justice of the Republic.

Any person claiming to be a victim of a serious crime or other major offence committed by a member of the Government in the holding of his office may lodge a complaint with a petitions committee.This committee shall order the case to be either closed or forwarded to the Chief Public Prosecutor at the Cour de cassation for referral to the Court of Justice of the Republic.”.

[21] Nguyễn Văn Huyên (2007), Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ (Mô hình tổ chức và hoạt động), Nxb. Lý luận chính trị, tr. 160.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: