Thứ hai 24/08/2026 13:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp ở Cộng hòa Pháp và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tại Cộng hòa Pháp, quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, gồm Thượng viện và Hạ viện nhưng “quyền lực, ảnh hưởng chính trị của Nghị viện hiện nay thực chất tập trung ở Hạ viện”[1], còn quyền hành pháp thuộc về nguyên thủ quốc gia (Tổng thống) và Chính phủ (đứng đầu là Thủ tướng).

1. Kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp ở Cộng hòa Pháp
Tuy nhiên, “Tổng thống Pháp (nguyên thủ quốc gia) mới là người nắm quyền hành pháp một cách thực chất”[2]. Sự kiểm soát của Nghị viện - lập pháp đối với Tổng thống và Chính phủ - hành pháp được thể hiện qua nhiều phương thức. Cụ thể:

Thứ nhất, lập pháp kiểm soát hành pháp thông qua cách hình thành hành pháp

Một trong những nội dung của việc kiểm soát hành pháp chính là kiểm soát về quy trình, cách thức hình thành nhân sự và cơ cấu tổ chức của hành pháp, vì việc kiểm soát được sự lựa chọn, hình thành bộ máy hành pháp, tạo cơ sở cho việc kiểm soát hoạt động của hành pháp. Theo đó, sự kiểm soát của lập pháp đối với cách hình thành hành pháp ở Cộng hòa Pháp được thể hiện như sau:

- Chính phủ Cộng hòa Pháp được thành lập trên cơ sở Nghị viện. Tức là, sau cuộc bầu cử Nghị viện, đảng nào chiếm đa số ghế đại biểu ở Nghị viện thì đảng đó sẽ đứng ra thành lập Chính phủ[3]. Bên cạnh đó, dù theo quy định của Hiến pháp năm 1958 của Pháp, Thủ tướng là do Tổng thống bổ nhiệm nhưng trên thực tế, Tổng thống Pháp “không thể bổ nhiệm một người nào đó khác hơn nếu như người đó không là thủ lĩnh của liên minh cầm quyền”[4]. Như vậy, Chính phủ Pháp được hình thành và hoạt động trên cơ sở tín nhiệm, ủng hộ của Nghị viện Pháp. Đây là lý do vì sao Nghị viện có quyền chất vấn, bỏ phiếu bất tín nhiệm và thậm chí là giải tán Chính phủ.

- Trong trường hợp khuyết Tổng thống thì Chủ tịch Thượng viện sẽ tạm thời thực hiện các nhiệm vụ của Tổng thống (Điều 7 Hiến pháp năm 1958). Quy định này cho thấy, khi chức danh Tổng thống bị khuyết thì vai trò của Nghị viện trong việc kiểm soát hoạt động của hành pháp là rất lớn, nhằm hạn chế tối đa việc trao toàn bộ quyền hành pháp cho Thủ tướng dù chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn từ 20 đến 35 ngày[5].

Thứ hai, lập pháp kiểm soát hành pháp thông qua chất vấn

Theo Điều 48 Hiến pháp năm 1958 của Pháp, mỗi tuần, Nghị viện Pháp phải dành ít nhất một buổi họp để các nghị sĩ chất vấn thành viên Chính phủ. Trên thực tế, việc chất vấn Chính phủ thường được tiến hành vào đầu giờ phiên họp buổi chiều ngày thứ tư[6].

Về hình thức, chất vấn bao gồm chất vấn bằng văn bản[7] và chất vấn miệng. Theo đó, đối với hình thức chất vấn bằng văn bản, sau khi nhận được câu hỏi bằng văn bản, các bộ trưởng sẽ trả lời bằng văn bản và câu trả lời này được đăng trên công báo trong thời hạn một tháng. Tuy nhiên, chỉ có “khoảng 85% đến 90% số câu hỏi nhận được câu trả lời, song có những vấn đề mặc dù có câu hỏi nhưng không bao giờ nhận được câu trả lời”[8]. Đối với hình thức chất vấn miệng, các câu hỏi và câu trả lời sẽ được tiến hành trong phiên chất vấn của buổi họp mỗi tuần. Câu hỏi chất vấn miệng thường gồm ba loại, đó là câu hỏi không kèm việc thảo luận, câu hỏi có kèm theo việc thảo luận và câu hỏi của đảng đoàn Nghị viện[9].

Về hậu quả pháp lý, sau khi kết thúc chất vấn, Nghị viện đưa ra nghị quyết để bày tỏ quan điểm ủng hộ hay phản đối hoạt động của Chính phủ. Trong trường hợp Nghị viện đưa ra nghị quyết bất tín nhiệm thì có thể dẫn đến sự từ chức của Chính phủ.

Thứ ba, lập pháp kiểm soát hành pháp thông qua bỏ phiếu bất tín nhiệm

Theo quy định tại Điều 49 Hiến pháp năm 1958 của Pháp, việc bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ chỉ được tiến hành khi có chữ ký của ít nhất 10% số thành viên Hạ viện. Tuy nhiên, sau khi có kiến nghị này thì việc bỏ phiếu bất tín nhiệm không được tiến hành ngay, vì theo Điều 49, việc bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ chỉ được tổ chức sau 48 giờ, kể từ lúc trình kiến nghị. Thiết nghĩ, quy định này một mặt tạo điều kiện cho Nghị viện và Chính phủ “tìm kiếm những thỏa hiệp cần thiết”[10], mặt khác, đảm bảo các hạ nghị sĩ có thời gian để cân nhắc về hậu quả của việc bất tín nhiệm Chính phủ, từ đó, đưa ra được những quyết định sáng suốt, thận trọng hơn.

Về điều kiện thông qua và hậu quả pháp lý, theo Điều 49 Hiến pháp năm 1958, việc bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ được thông qua khi đạt đa số phiếu của các hạ nghị sĩ. Theo Điều 50 Hiến pháp năm 1958, nếu Hạ viện thông qua việc bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ thì Thủ tướng phải đệ đơn từ chức của Chính phủ lên Tổng thống, vì hậu quả pháp lý này khá gay gắt nên Hiến pháp quy định một nghị sĩ không thể đứng tên đề xuất quá ba kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ trong một kỳ họp thường lệ của Hạ viện và không thể quá một kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ trong kỳ họp bất thường của Hạ viện (Điều 49).

Tuy nhiên, trên thực tế, Nghị viện Pháp rất ít khi thông qua nghị quyết bất tín nhiệm Chính phủ. Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ ảnh hưởng của đảng phái chính trị[11] cũng như sự thỏa hiệp cùng tồn tại giữa Nghị viện và Chính phủ[12]. Chính vì điều này, cho đến nay, nước Pháp chỉ có duy nhất một lần việc bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Chính phủ được Hạ viện thông qua. Đó là lần bỏ phiếu bất tín nhiệm vào năm 1962 đối với Chính phủ của Thủ tướng Georges Pompidou[13].

Thứ tư, lập pháp kiểm soát hành pháp thông qua hoạt động của các Ủy ban

Ở Pháp, các Ủy ban đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp, chẳng hạn như: Ủy ban Điều tra, Ủy ban Đối ngoại, Ủy ban Tài chính, Ủy ban Đánh giá và kiểm tra chính sách công…

- Về Ủy ban Điều tra: Hoạt động của Ủy ban điều tra có tính chất lâm thời bởi Ủy ban này sẽ giải tán sau sáu tháng điều tra hoặc sẽ phải ngừng hoạt động khi có văn bản khởi tố vụ việc mà Ủy ban điều tra đang xem xét. Nhiệm vụ của Ủy ban này là điều tra, thu thập các thông tin về những vấn đề mà Nghị viện quan tâm, liên quan đến hoạt động của Chính phủ[14]. Sau khi kết thúc hoạt động điều tra, Ủy ban này sẽ trình báo cáo điều tra lên Nghị viện với các nội dung mang tính chất khuyến nghị, chứ không có giá trị bắt buộc và quyết định.

- Về Ủy ban Đối ngoại: Vai trò của Ủy ban này trong việc giúp lập pháp kiểm soát hành pháp được thể hiện qua hoạt động thẩm định các dự luật phê chuẩn điều ước quốc tế, các dự chi ngân sách cho lĩnh vực đối ngoại và thông qua việc tiến hành các cuộc điều trần[15] với quyền triệu tập Thủ tướng, các bộ trưởng liên quan đến đối ngoại[16], các quan chức ngoại giao cấp cao, các chuyên gia.

- Về Ủy ban Tài chính: Vào đầu mỗi nhiệm kỳ, Ủy ban Tài chính chỉ định nghị sĩ phụ trách về ngân sách của bộ. Thông thường, nghị sĩ được chỉ định không là thành viên của Ủy ban tài chính, mà là thành viên của Ủy ban có thẩm quyền liên quan đến bộ do mình phụ trách. Mỗi nghị sĩ sẽ xem xét ngân sách của một bộ trong suốt nhiệm kỳ của mình. Tuy nhiên, “vai trò của các nghị sĩ này chỉ dừng lại ở mức độ là người tư vấn”[17], còn quyền quyết định vẫn thuộc về Nghị viện.

Thứ năm, lập pháp kiểm soát hành pháp thông qua xét xử

Xét xử là một trong những phương thức quan trọng để lập pháp kiểm soát hành pháp. Nếu như Nghị viện Pháp chỉ có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ, không thể bỏ phiếu bất tín nhiệm Tổng thống thì với phương thức này, Nghị viện Pháp có thể xét xử cả Tổng thống và các thành viên của Chính phủ. Theo đó, Tổng thống Pháp chỉ bị xét xử khi “phạm tội phản quốc hoặc âm mưu xâm hại an toàn của Nhà nước”[18]. Một trong hai viện sẽ tiến hành buộc tội và nếu việc buộc tội được thông qua thì Nghị viện thành lập một Tòa án đặc biệt để xét xử Tổng thống. Nếu có hai phần ba số thành viên của Tòa án này biểu quyết đồng ý cách chức Tổng thống thì Tòa án ra phán quyết cách chức Tổng thống. Phán quyết này có hiệu lực ngay lập tức[19].

Bên cạnh đó, các thành viên của Chính phủ cũng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội nghiêm trọng. Việc xét xử các thành viên của Chính phủ sẽ được tiến hành bởi Tòa án công lý của Cộng hòa Pháp. Tòa án này bao gồm 15 thành viên, trong đó, có 12 nghị sĩ và ba thẩm phán, một trong những người này sẽ làm chủ tọa. Theo đó, khi bất cứ một người nào bị thiệt hại do hành vi phạm tội của thành viên Chính phủ gây ra trong khi thi hành công vụ thì người đó có quyền gửi đơn kiện lên một Ủy ban giải quyết đơn thư khiếu nại. Ủy ban này có quyền quyết định đình chỉ vụ việc hoặc chuyển hồ sơ sang Viện trưởng Viện công tố để chuyển đến Toà án công lý Cộng hoà[20].

Ngoài việc sử dụng các phương thức cơ bản trên, việc kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp còn được đảm bảo khách quan, hiệu quả bởi nguyên tắc “bất khả kiêm nhiệm” (Điều 23 Hiến pháp năm 1958) và “bất khả xâm phạm nghị sĩ” (Điều 26 Hiến pháp năm 1958). Theo nguyên tắc “bất khả kiêm nhiệm”, thành viên của Chính phủ không được đồng thời kiêm nhiệm nghị sĩ. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo tính khách quan của sự kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp ở Cộng hòa Pháp. Còn theo nguyên tắc “bất khả xâm phạm nghị sĩ” thì nghị sĩ không thể bị truy tố, điều tra, bắt giữ, xét xử vì những ý kiến phát biểu khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo nghị sĩ có thể tự do phát biểu quan điểm của mình[21], đặc biệt là trong hoạt động chất vấn.

2. Kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua nghiên cứu về sự kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp ở Cộng hòa Pháp, có thể rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay, cụ thể:

Thứ nhất, về hậu quả pháp lý của chất vấn. Không chỉ có Pháp mà hầu hết ở các nước khác, sau khi kết thúc phiên chất vấn hành pháp, Nghị viện sẽ thể hiện thái độ ủng hộ, không ủng hộ, tín nhiệm hay không tín nhiệm đối với hành pháp thông qua sự biểu quyết của từng nghị sĩ. Tuy nhiên, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, mặc dù sau phiên chất vấn, Quốc hội ra nghị quyết về chất vấn, nhưng nghị quyết này vẫn chưa có nội dung thể hiện được thái độ ủng hộ hay không ủng hộ của Quốc hội đối với việc trả lời chất vấn của các thành viên Chính phủ. Đây là vấn đề mà nước ta cần tham khảo kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp khi quy định về hậu quả pháp lý của việc chất vấn, nhằm đảm bảo được mục đích của chất vấn.

Thứ hai, về quy định việc bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ chỉ được tổ chức sau 48 giờ kể từ lúc trình kiến nghị tại Điều 49 Hiến pháp năm 1958 của Cộng hòa Pháp. Như đã phân tích, quy định này có ý nghĩa trong việc tạo điều kiện cho Nghị viện và Chính phủ có những thỏa thuận cần thiết cũng như giúp các nghị sĩ suy nghĩ thận trọng hơn về những hậu quả có thể xảy ra khi việc bỏ phiếu bất tín nhiệm thành công, Chính phủ phải từ chức. Vì thế, đây là một kinh nghiệm mà nước ta có thể nghiên cứu để tiếp thu trong quá trình hoàn thiện chế định bỏ phiếu tín nhiệm.

Thứ ba, về vai trò của các Ủy ban. Từ thực tiễn của Cộng hòa Pháp có thể thấy, các Ủy ban đóng vai trò quan trọng trong việc giúp lập pháp kiểm soát hành pháp. Tham khảo kinh nghiệm này, nước ta cần nghiên cứu để nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ủy ban theo hướng trao cho Ủy ban đủ thẩm quyền để đảm bảo Ủy ban thực hiện đúng nhiệm vụ của mình cũng như thành lập các Ủy ban theo lĩnh vực chuyên sâu hơn.

Thứ tư, về nguyên tắc “bất khả kiêm nhiệm” ở Cộng hòa Pháp. Có thể thấy, một trong những yếu tố cơ bản để đảm bảo sự khách quan trong hoạt động kiểm soát là chủ thể kiểm soát và đối tượng kiểm soát phải có sự tách bạch. Tuy nhiên, thực tế nước ta hiện nay, hầu hết các thành viên của Chính phủ đều là đại biểu Quốc hội. Điều này đã làm giảm đi phần nào tính khách quan trong hoạt động kiểm soát của Quốc hội đối với Chính phủ. Vì thế, thiết nghĩ, trong thời gian tới, chúng ta nên tham khảo nguyên tắc trên ở Cộng hòa Pháp để hạn chế việc các thành viên của Chính phủ là đại biểu Quốc hội, nhằm đảm bảo tính khách quan trong sự kiểm soát của Quốc hội đối với Chính phủ.

Thứ năm, về nguyên tắc “bất khả xâm phạm nghị sĩ”. Có thể thấy, việc đại biểu Quốc hội được miễn trừ về những hậu quả pháp lý đối với phát biểu của mình là điều kiện cần thiết để Quốc hội thực hiện tốt sự kiểm soát đối với Chính phủ. Bởi lẽ, nếu đại biểu Quốc hội không thể tự do phát biểu về các vấn đề đang được thảo luận tại Quốc hội hay các chất vấn đối với Chính phủ thì đại biểu Quốc hội không thể truy cứu được “tới cùng” đối với trách nhiệm của Chính phủ, từ đó làm giảm hiệu quả kiểm soátChính phủ. Tuy nhiên, pháp luật nước ta hiện nay vẫn chưa quy định về quyền miễn trừ này của đại biểu Quốc hội. Vì thế, thiết nghĩ, trong thời gian tới, nước ta cần nghiên cứu để bổ sung các quy định về quyền miễn trừ của đại biểu Quốc hội đối với các phát biểu của đại biểu đó trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp cũng như các quốc gia khác trên thế giới.

Trương Thị Minh Thùy

Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh


[1] Nguyễn Văn Huyên (2007), Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ (Mô hình tổ chức và hoạt động), Nxb. Lý luận chính trị, tr. 157.

[2] Trần Quốc Việt (2015), “Hoạt động kiểm soát quyền hành pháp của Nghị viện các nước Anh, Pháp, Mỹ”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 3, tr. 57.

[3] Vũ Hồng Anh (2001), Tổ chức và hoạt động của Nghị viện ở một số nước trên thế giới, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 169.

[4] Nguyễn Đăng Dung (2009), Nhà nước là những con số cộng giản đơn, Nxb. Lao động, tr. 211.

[5] Vì khi Chủ tịch Thượng viện không thể thực hiện được thì Thủ tướng mới là người thay thế vị trí Tổng thống bị khuyết.

[6] Vũ Đình Nam, Hoạt động giám sát của Nghị viện một số nước trên thế giới, http://caicachhanhchinh.gov (truy cập ngày 08/6/2017).

[7] Hình thức chất vấn bằng văn bản được bổ sung từ năm 1910.

[8] Mai Xuân Bình (2000), “Giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ theo Hiến pháp năm 1958 của Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5, tr.81.

[9] Vũ Hồng Anh (2001), Tổ chức và hoạt động của Nghị viện ở một số nước trên thế giới, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 171.

[10] Trương Hồ Hải (2015), “Giám sát của Quốc hội đối với tổ chức bộ máy nhà nước trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 5, tr. 24.

[11] Ở Pháp, Chính phủ được thành lập và hoạt động dựa trên sự tín nhiệm, ủng hộ của đảng chiếm đa số ghế trong Nghị viện. Vì thế, không có lý do gì để các nghị sĩ là thành viên của đảng này lại bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ theo đề nghị của đảng khác.

[12] Khi Nghị viện bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ thì Nghị viện lại có nguy cơ bị giải tán bởi Tổng thống.

[13] Mai Xuân Bình (2000), “Giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ theo Hiến pháp năm 1958 của Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5, tr.83.

[14] Mai Xuân Bình (2000), “Giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ theo Hiến pháp năm 1958 của Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5, tr.81.

[15]Tuy nhiên, các buổi điều trần này chỉ có tính chất đối thoại giữa cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp, chứ không mở cửa cho công chúng tham dự.

[16] Các bộ trưởng liên quan đến đối ngoại như: Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng các vấn đề về EU, Bộ trưởng phụ trách Hợp tác và Pháp ngữ...

[17] Nguyễn Sĩ Dũng (2014), Tổ chức và hoạt động của Nghị viện các nước trên thế giới, Tài liệu lưu hành nội bộ, tr. 287.

[18] Nguyễn Thị Hồi (2005), Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước, Nxb. Tư pháp, tr. 204.

[19] Điều 68 Hiến pháp năm 1958: “The High Court shall be presided over by the President of the National Assembly. It shall give its ruling as to the removal from office of the President, by secret ballot, within one month. Its decision shall have immediate effect.Rulings given hereunder shall require a majority of two thirds of the members of the House involved or of the High Court”.

[20] Điều 68 Hiến pháp năm 1958: Members of Government “shall be tried by the Court of Justice of the Republic”. “The Court of Justice of the Republic shall consist of fifteen members: twelve Members of Parliament, elected in equal number from among their ranks by the National Assembly and the Senate after each general or partial renewal by election of these Houses, and three judges of the Cour de cassation, one of whom shall preside over the Court of Justice of the Republic.

Any person claiming to be a victim of a serious crime or other major offence committed by a member of the Government in the holding of his office may lodge a complaint with a petitions committee.This committee shall order the case to be either closed or forwarded to the Chief Public Prosecutor at the Cour de cassation for referral to the Court of Justice of the Republic.”.

[21] Nguyễn Văn Huyên (2007), Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ (Mô hình tổ chức và hoạt động), Nxb. Lý luận chính trị, tr. 160.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: