Thứ ba 28/07/2026 07:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý về quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết phân tích một số khái niệm về quyền tài sản, trên cơ sở đó nhận diện các quyền tài sản là một dạng tài sản. Bên cạnh đó, bài viết tập trung phân tích các quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015, phân biệt quyền tài sản là một loại tài sản với quyền tài sản chỉ là một vật quyền, đặc biệt chỉ ra sự khác biệt giữa loại tài sản này và các quyền khác đối với tài sản.

Bài viết phân tích một số khái niệm về quyền tài sản, trên cơ sở đó nhận diện các quyền tài sản là một dạng tài sản. Bên cạnh đó, bài viết tập trung phân tích các quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015, phân biệt quyền tài sản là một loại tài sản với quyền tài sản chỉ là một vật quyền, đặc biệt chỉ ra sự khác biệt giữa loại tài sản này và các quyền khác đối với tài sản.

Quyền tài sản (QTS) là một khái niệm có nhiều quan điểm khác nhau, việc phân biệt QTS là một dạng tài sản với các quyền khác đối với tài sản nói chung theo nghĩa rộng (vật quyền) và với các quyền khác đối với tài sản theo luật thực định (được luật thực định ghi nhận cụ thể) không phải lúc nào cũng dễ dàng. Sự biểu hiện đa dạng của các vật quyền trên tài sản tạo ra ranh giới mong manh trong sự phân định QTS là một loại tài sản với các vật quyền khác không là đối tượng tài sản. Bên cạnh đó, trong xã hội công nghệ hiện đại, với sự xuất hiện ngày càng nhiều loại tài sản mới dưới dạng QTS đòi hỏi nhà làm luật cần có những quy định kịp thời để điều chỉnh các giao dịch liên quan đến các tài sản mới này. Do vậy, việc làm rõ các vấn đề nêu trên về QTS là rất cần thiết.

1. Nhận diện quyền tài sản là một loại tài sản

Xét về mặt khoa học pháp lý thì chưa có một khái niệm chính thống về QTS. Hiện nay đang tồn tại những quan điểm khác nhau về QTS.

Có quan điểm cho rằng, “quyền tài sản có thể được hiểu theo nghĩa rộng là tổng hợp các quyền và lợi ích của chủ thể trong việc chi phối, kiểm soát tài sản gồm chủ sở hữu và người có quyền khác với tài sản”[1]. Qua đây, có thể thấy, ý kiến này nhìn nhận QTS theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm quyền sở hữu mà bao gồm bất cứ quyền và lợi ích nào khác có giá trị kinh tế và thuộc về một chủ thể nhất định.

Theo Giáo trình của Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, “quyền tài sản là một dạng tài sản đặc thù, không tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình, là một loại quyền dân sự có nội dung kinh tế, có thể trị giá được bằng tiền, do chủ thể có quyền tự mình thực hiện hoặc yêu cầu người khác thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của người có quyền”[2]. Định nghĩa này đã khái quát dấu hiệu của QTS ở khía cạnh là một dạng tài sản, đó là quyền dân sự có tính chất vô hình và có thể trị giá được bằng tiền. Như vậy, dù không thể hiện tường minh, nhưng khi xem xét ở khía cạnh quyền, QTS theo định nghĩa chỉ bao gồm quyền sở hữu (do là một dạng tài sản) đối với những thứ vô hình, không bao hàm các quyền và lợi ích khác, tức những vật quyền chưa được xem là tài sản. Định nghĩa cũng nêu lên cách thức tác động của chủ thể có QTS là có thể tự mình thực hiện quyền (quyền đối vật) hoặc yêu cầu người khác thực hiện (quyền đối nhân).

Tại Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 105 đã khẳng định QTS là một loại tài sản và được cụ thể hóa tại Điều 115 như sau: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Định nghĩa đã không chỉ ra đầy đủ những đặc trưng để nhận diện tài sản ngoài dấu hiệu “trị giá được bằng tiền”, không giúp phân biệt được QTS là một loại tài sản và các quyền khác đối với tài sản. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã xây dựng các quy định về các quyền khác đối với tài sản bên cạnh quyền sở hữu đã cho thấy một bước tiến mới trong chế định tài sản nói chung, QTS nói riêng.

Một QTS như thế nào thì được xem là tài sản? Theo một định nghĩa về tài sản trong quyển Deluxe Black‘s Law Dictionary, “tài sản là một từ để chỉ mọi thứ là đối tượng của quyền sở hữu”[3]. Với quy định hiện hành ở Việt Nam, quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt[4]. Như vậy, một thứ là đối tượng của quyền sở hữu có nghĩa là thứ đó có thể được chiếm hữu, sử dụng, định đoạt bởi một chủ thể nào đó[5]. Ở nhiều nước trên thế giới, quyền sở hữu gồm quyền sử dụng và quyền định đoạt, việc chiếm hữu tài sản được pháp luật các nước quy định như là một tình trạng thực tế đối với tài sản[6]. Theo học thuyết của Harold Demsetz và thực tiễn đã cho thấy, một QTS có thể được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau. QTS có thể được nhiều người khác nhau thực hiện và trong những trường hợp cụ thể, “việc thực hiện các quyền trên không có ý nghĩa và thích hợp cho việc xác lập quyền sở hữu”[7]. Từ đó, với cách nhìn này cho phép chúng ta lý giải việc các quyền thế chấp, cầm cố, chuyển nhượng, ưu tiên thanh toán, truy đòi tài sản và các quyền khác ở mức độ nào đó có thể hiểu có giá trị kinh tế nhưng không được xem là tài sản.

Bên cạnh đó, việc xác định các quyền nào là đối tượng của quyền sở hữu còn phụ thuộc vào các nhà lập pháp của mỗi quốc gia. Chẳng hạn, theo pháp luật Việt Nam, quyền hưởng dụng không được coi là đối tượng của quyền sở hữu, đó là những quyền được xác lập trên tài sản của người khác, đó là một bộ phận trong các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản mà không được tách ra thành một tài sản độc lập với đầy đủ các quyền năng của chủ sở hữu; người có quyền hưởng dụng không được ghi nhận quyền được bán, cầm cố hoặc thế chấp quyền hưởng dụng[8] nên chủ thể không thể thực hiện quyền này[9]. Tuy nhiên, theo pháp luật Pháp, quyền hưởng dụng cũng là một quyền được xác lập trên tài sản của người khác, nhưng luật của Pháp đã khẳng định người có quyền hưởng dụng có thể bán quyền hưởng dụng, điều này cho thấy, quyền hưởng dụng bản thân nó cũng là đối tượng của quyền sở hữu, là một tài sản[10]. Hoặc theo pháp luật Việt Nam, quyền sử dụng đất là tài sản dưới dạng QTS, nhưng theo pháp luật của nhiều nước trên thế giới, quyền sử dụng đất là một quyền năng trong quyền sở hữu đất đai.

2. Quyền tài sản và các quyền khác đối với tài sản theo Bộ luật Dân sự năm 2015

Mặc dù Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định QTS là “quyền trị giá được bằng tiền” nhưng không phải bất cứ quyền nào trị giá được bằng tiền cũng được xem là đối tượng tài sản, nói cách khác là không xác lập cho chủ thể quyền được quyền sở hữu đối với QTS đó mà thuần túy chỉ là một vật quyền, là một bộ phận của quyền sở hữu. Điều 159 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận ba loại vật quyền gọi là “quyền khác đối với tài sản”, là những quyền của chủ thể được xác lập trên tài sản “thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác” gồm quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền đối với bất động sản liền kề. Đây là những quyền được tách ra từ quyền sở hữu để trở thành quyền độc lập[11]. Nổi bật là quyền hưởng dụng và quyền bề mặt là những quyền có thể định giá được thành tiền và có thể dễ dàng chuyển giao trong giao lưu dân sự[12].

Đối với quyền bề mặt, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận quyền của chủ thể có quyền bề mặt thông qua quy định nội dung của quyền bề mặt tại Điều 271, bên cạnh việc tự mình khai thác sử dụng bề mặt, cũng như có quyền sở hữu tài sản được tạo ra từ việc khai thác, sử dụng này, người có quyền bề mặt còn có thể chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền bề mặt. Như vậy, chủ thể của quyền bề mặt có thể chuyển quyền sở hữu tài sản và quyền khai thác mặt nước, mặt đất, lòng đất cho người khác thông qua các giao dịch như mua bán, tặng cho, thế chấp, trao đổi tài sản. Đối với quyền hưởng dụng, theo Điều 261 Bộ luật Dân sự năm chỉ cho phép người có quyền hưởng dụng cho thuê quyền hưởng dụng. Đồng thời, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng đã quy định chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi “trong phạm vi quyền được quy định” tại Bộ luật này, luật khác có liên quan. Trong khi đó, chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng “không được trái với quy định của luật”[13]. Điều này cũng đồng nghĩa người có quyền hưởng dụng không thể chuyển nhượng, chuyển đổi hay thế chấp quyền hưởng dụng do không được luật quy định. Quyền hưởng dụng có thể chuyển giao khá dễ dàng, cách thức xác lập quyền tương tự như quyền bề mặt nhưng luật không cho phép chuyển giao như quyền bề mặt. Khác với Việt Nam, theo pháp luật Pháp, quyền hưởng dụng cũng là một quyền được xác lập trên tài sản của người khác[14], nhưng luật của Pháp đã khẳng định mạnh mẽ quyền của người hưởng dụng không chỉ có thể cho thuê quyền hưởng dụng mà thậm chí có thể bán quyền hưởng dụng[15]. Thiết nghĩ, pháp luật Việt Nam cũng nên ghi nhận quyền định đoạt của chủ thể có quyền hưởng dụng như là chủ sở hữu một tài sản độc lập, tức có thể chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố quyền hưởng dụng.

Có thể thấy, đối với quyền hưởng dụng, quyền đối với bất động sản liền kề, luật quy định quyền của chủ thể khá hạn chế, ví dụ, chủ thể của quyền hưởng dụng có thể cho thuê quyền hưởng dụng và chỉ được hưởng dụng trong thời gian nhất định; hoặc quyền đối với bất động sản liền kề sẽ được chuyển giao cho người nhận chuyển nhượng bất động sản có quyền đó, chủ thể có quyền đối với bất động sản liền kề hoàn toàn không thể định đoạt quyền này một cách độc lập. Tuy nhiên, đối với quyền bề mặt, luật đã ghi nhận chủ thể quyền có thể chuyển giao quyền bề mặt, điều đó được hiểu chủ thể của quyền bề mặt có quyền định đoạt quyền bề mặt theo ý chí của mình[16]. Do đó, mặc dù được tách ra từ quyền sở hữu, nhưng với quyền năng của chủ thể mang quyền bề mặt, ở một mức độ nhất định, nhà làm luật đã xem quyền bề mặt là đối tượng của quyền sở hữu, là một loại tài sản dưới dạng QTS, mặc dù nó được tách ra từ một tài sản khác là quyền sử dụng đất. Hoặc cũng có thể hiểu nhà làm luật đã quy định quyền này như một ngoại lệ, đặc quyền của quyền khác đối với tài sản. Điểm khác biệt so với các chủ sở hữu khác là chủ thể của quyền bề mặt chỉ có quyền này trong một thời hạn nhất định.

3. Xác định phạm trù quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Như đã trình bày, QTS theo nghĩa rộng có thể bao gồm quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản (gọi ngắn gọn là quyền đối với tài sản hay vật quyền). Những thứ vô hình là đối tượng của quyền sở hữu với những đặc trưng nêu trên được gọi là tài sản dạng quyền tài sản, ở Việt Nam, quyền này quy định tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối với các vật quyền trên tài sản, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã lựa chọn ba loại vật quyền để điều chỉnh riêng biệt tại Điều 159 Bộ luật Dân sự năm 2015, gọi là các “quyền khác đối với tài sản”, được tách ra từ quyền sở hữu, ghi nhận song song, bên cạnh quyền sở hữu. Như vậy, có thể thấy, quyền đối với tài sản theo luật thực định Việt Nam bao gồm quyền sở hữu đối với những thứ vô hình (được hiểu là một loại tài sản), các quyền khác đối với tài sản theo Điều 159 Bộ luật Dân sự năm 2015 và những vật quyền khác. Các vật quyền này có thể chuyển hóa thành tài sản khi được pháp luật thừa nhận.

Theo Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Qua nghiên cứu chế định QTS, có thể liệt kê một số QTS là một dạng tài sản như sau: Quyền đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ, QTS phát sinh từ hợp đồng, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm[17]. Ngoài ra, khi Bộ luật Dân sự năm 2015 đã không buộc QTS phải là quyền có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự thì các quyền như quyền được cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, danh dự và các QTS khác là những quyền trị giá được thành tiền, dù không thể chuyển giao trong giao lưu dân sự cũng được xem là QTS.

“Các quyền tài sản khác” tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể liệt kê một số quyền như sau: Quyền đòi nợ[18], quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên[19], QTS phát sinh từ hợp đồng; quyền được nhận số tiền bảo hiểm, QTS đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp[20], quyền sử dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản[21], quyền được cấp dưỡng, quyền được bồi thường thiệt hại và các QTS khác được pháp luật quy định.

Trong Thông tư số 08/2018/TT-BTP ngày 20/6/2018 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm tại các trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp, thì bên cạnh liệt kê một số quyền chung còn liệt kê QTS trong một số trường hợp cụ thể, trong đó, các QTS phát sinh từ hợp đồng như quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán…; một số QTS phát sinh từ một số hợp đồng cụ thể liên quan đến tàu bay, tàu biển và QTS liên quan đến hợp đồng về nhà ở (điểm b, điểm c khoản 7 Điều 6). Thông tư này đã giúp xác định cụ thể hơn các tài sản là QTS theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Thông tư đã có một số quy định trùng lặp về quyền đòi nợ. Quyền đòi nợ có thể phát sinh từ hợp đồng vay, các loại hợp đồng khác hoặc phát sinh từ các căn cứ khác. Thông tư trên đã quy định quyền đòi nợ chung chung tại điểm a khoản 7 Điều 6 và liệt kê quyền đòi nợ là một dạng QTS phát sinh từ một số hợp đồng cụ thể tại điểm b, điểm c khoản 7 Điều 6 (không nhắc đến quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng vay). Có thể thấy, chưa có sự nhất quán và rõ ràng trong quy định này, vừa thừa lại vừa thiếu. QTS phát sinh từ hợp đồng không được ghi nhận theo hướng khái quát nhưng liệt kê thì không đầy đủ (ví dụ, không nhắc đến quyền được bồi thường thiệt hại không phát sinh từ hợp đồng). Thiết nghĩ, quy định QTS trong Thông tư này cần sắp xếp logic và đầy đủ hơn.

Có thể thấy, mặc dù QTS được xác định là “quyền trị giá được bằng tiền”, nhưng thực chất có những thứ trị giá được bằng tiền nhưng pháp luật Việt Nam chưa cho phép hoặc chưa có hành lang pháp lý điều chỉnh giao dịch liên quan đối tượng đấy. Đặc biệt, trong kỷ nguyên công nghệ số, những thứ “có thể trị giá được bằng tiền” ngày càng đa dạng và phong phú.

Huỳnh Anh
Đại học An Giang trực thuộc Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh


[1] Trích theo Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Công an nhân dân, tr. 228.

[2] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr. 40.

[3] Bryan A. Garner (1999), Black's Law Dictionary 7th edition, PUB. West Group, tr. 1232.

[4] Các nước theo truyền thống Civil Law quan niệm quyền sở hữu bao gồm quyền sử dụng, quyền hưởng hoa lợi và quyền định đoạt, còn quyền chiếm hữu là một quan hệ thực tế. Xem thêm Điều 206 Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Luật về quyền của Trung Quốc.

[5] Theo pháp luật dân sự Việt Nam, một mặt, xem quyền chiếm hữu là một quyền năng trong quyền sở hữu, mặt khác lại thiết kế chiếm hữu thành một nội dung riêng theo kiểu một hành vi thực tế.

[6] Nguyễn Văn Cừ, Trần Ngọc Huệ (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 303.

[7] SMH Law School Summarries I, Third Edition, SMH Inc, 1987, Real Property, Page 1.

[8] Xem Điều 261 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[9] Theo Điều 160 Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi “theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật”, nhưng chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi “trong phạm vi quyền được quy định” tại Bộ luật này, luật khác có liên quan.

[10] Điều 578 Bộ luật Dân sự năm Pháp 2005 (bản dịch): “Quyền hưởng hoa lợi, lợi tức là quyền hưởng dụng tài sản thuộc sở hữu của người khác…” và Điều 595: “Người hưởng hoa lợi, lợi tức có thể tự mình hưởng dụng tài sản, thậm chí có thể bán, chuyển giao không có đền bù quyền hưởng hoa lợi, lợi tức của mình”.

[11] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Điện: “Tách ra từ quyền sở hữu để trở thành một quyền độc lập, các vật quyền chính không phải là quyền sở hữu đều có tính tạm thời: Đến lúc nào đó các quyền này phải biến mất hoặc gia nhập trở lại vào quyền sở hữu”, xem Nguyễn Ngọc Điện (2016), Giáo trình luật dân sự, tập 1, Nxb. Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 175.

[12] Riêng quyền đối với bất động sản liền kề chỉ có ý nghĩa đối với chủ sở hữu các bất động sản liền kề đó, không có ý nghĩa đối với chủ thể khác nên quyền này không thể được chuyển giao độc lập cho một chủ thể khác mà không gắn với quyền sở hữu bất động sản liền kề.

[13] Xem Điều 160 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[14] Theo pháp luật Pháp, quyền này gọi là quyền hưởng hoa lợi, lợi tức, tại Điều 578 Bộ luật Dân sự năm 2005 của Pháp (bản dịch): “Quyền hưởng hoa lợi, lợi tức là quyền hưởng dụng tài sản thuộc sở hữu của người khác như chính chủ sở hữu, nhưng có trách nhiệm giữ nguyên tài sản đó”.

[15] Xem Điều 578, Điều 595 Bộ luật Dân sự năm 2005 của Pháp.

[16] Xem các Điều 261, Điều 247, Điều 217 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[17] Xem Điều 322 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[18] Quyền đòi nợ với ý nghĩa là một tài sản thuộc loại quyền tài sản có thể hiểu đó là một khoản tiền sẽ được thanh toán vào một thời gian nhất định.

[19] Cũng có sự trùng lặp như quy định đối với quyền đòi nợ.

[20] Bộ luật Dân sự năm 2015 không liệt kê các quyền tài sản, tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã từng liệt kê một số quyền tài sản là đối tượng của hợp đồng bảo đảm tại Điều 322. Các quyền này hiện nay cũng thỏa mãn theo định nghĩa quyền tài sản của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[21] Điểm a khoản 1 Điều 46 Luật Thủy sản năm 2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: