Thứ hai 17/08/2026 08:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Bài viết phân tích quy định pháp luật về hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay, những hạn chế, bất cập trong quá trình thực thi pháp luật, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động này.

Tóm tắt: Bài viết phân tích quy định pháp luật về hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay, những hạn chế, bất cập trong quá trình thực thi pháp luật, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động này.

Abstract: The article analyzes the legal regulations on private bond issuance activities of enterprises in Vietnam today, limitations and inadequacies in the law implementation process, thereby proposing solutions to improve efficiency of law implementation on this activity.

1. Thực trạng pháp luật về hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại Việt Nam
1.1. Nội dung cơ bản của pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ
Hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay được quy định trong một số văn bản pháp luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Luật Các tổ chức tín dụng... và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong đó, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, hoạt động phát hành trái phiếu được ghi nhận là một trong những quyền của doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường. Cụ thể, khi có nhu cầu huy động vốn để thực hiện chiến lược phát triển kinh doanh, các doanh nghiệp được tự do: “Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn” (khoản 3 Điều 7). Đây là quy định thể hiện việc ghi nhận quyền tự chủ của doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn, đồng thời cũng là tiền đề khẳng định phương thức phát hành trái phiếu là một trong những công cụ huy động vốn hợp pháp trên thị trường mà thương nhân có cơ hội lựa chọn. Để cụ thể hóa quyền này của các chủ thể kinh doanh trên thị trường, trong chế định về công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần đều có quy định về quyền phát hành trái phiếu ngay trong định nghĩa của các loại hình doanh nghiệp này. Khoản 4 Điều 46 Luật Doanh nghiệp năm 2020 đề cập đến quyền phát hành trái phiếu của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên như sau: “Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được phát hành trái phiếu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; việc phát hành trái phiếu riêng lẻ phải tuân thủ quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Luật này”. Trong khi đó, đối với công ty cổ phần thì khoản 3 Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty”. Bên cạnh những quy định mang tính nguyên tắc về quyền phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp năm 2020 còn đề cập đến những nội dung cụ thể về các phương thức phát hành trái phiếu (công khai hay riêng lẻ), trình tự, thủ tục, điều kiện phát hành trái phiếu của doanh nghiệp. Những vấn đề này được cụ thể hóa trong chế định về công ty cổ phần - loại hình doanh nghiệp có ưu thế về huy động vốn khi được phát hành tất cả các loại chứng khoán ra thị trường.


Đối với hình thức phát hành trái phiếu riêng lẻ, các dấu hiệu để nhận diện hình thức chào bán này trên thị trường như sau: Về số lượng nhà đầu tư doanh nghiệp được chào bán (dưới 100 nhà đầu tư), về thành phần nhà đầu tư (phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc nhà đầu tư chiến lược), về hình thức chào bán (không qua các phương tiện thông tin đại chúng). Ngoài ra, nhằm mục đích hạn chế rủi ro và nâng cao ý thức trách nhiệm bảo đảm an toàn tài chính cho các nhà đầu tư, Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về điều kiện để các doanh nghiệp không phải công ty đại chúng phát hành trái phiếu riêng lẻ bao gồm: (i) Kết quả phát hành trái phiếu thành công của đợt phát hành trước đó (nếu có) hoặc đã thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn trong 03 năm liên tiếp trước năm dự định phát hành trái phiếu; (ii) Có báo cáo tài chính của năm trước liền kề năm phát hành đã được kiểm toán; (iii) Bảo đảm các tỷ lệ an toàn tài chính, bảo đảm an toàn trong hoạt động. Để thực hiện hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ trên thị trường, doanh nghiệp phải tiến hành công bố thông tin trước và sau khi kết thúc đợt chào bán cho nhà đầu tư và thông báo đợt chào bán cho Sở Giao dịch chứng khoán ít nhất 01 ngày làm việc trước ngày dự định tổ chức chào bán.


Với tư cách là văn bản pháp luật chuyên ngành điều tiết trực tiếp và cụ thể hoạt động, giao dịch liên quan đến chứng khoán trên thị trường, Luật Chứng khoán năm 2019 có quy định về việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ nhưng chỉ dừng lại ở những quy định mang tính nguyên tắc, bởi lẽ, Luật Chứng khoán năm 2019 điều tiết các loại chứng khoán nói chung trong đó trái phiếu chỉ là một loại chứng khoán trên thị trường tài chính. Chính vì vậy, quy định cụ thể về hoạt động huy động vốn đặc thù này được đề cập một cách chi tiết trong Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế (Nghị định số 153/2020/NĐ-CP). Ngoài ra, vấn đề xử lý hành vi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán nói chung và trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ nói riêng được quy định trong hai văn bản đó là Nghị định số 156/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 128/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ (Nghị định số 156/2020/NĐ-CP). Là văn bản trực tiếp điều chỉnh hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ, nội dung Nghị định số 153/2020/NĐ-CP có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định với những quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về vấn đề này. Cụ thể, Nghị định số 153/2020/NĐ-CP góp phần làm rõ các hình thức trái phiếu tồn tại trên thị trường hiện nay, quy định chi tiết về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, các điều kiện để chào bán trái phiếu riêng lẻ theo từng loại trái phiếu khác nhau, các phương thức phát hành trái phiếu và quy trình, thủ tục phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trên thị trường. Những quy định này tựu trung lại cũng nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, an toàn và hiệu quả đối với hoạt động phát hành trái phiếu không ra công chúng của doanh nghiệp. So với Luật Doanh nghiệp năm 2020, Nghị định số 153/2020/NĐ-CP đã quy định về điều kiện phát hành trái phiếu riêng lẻ một cách chặt chẽ hơn khi bổ sung hai điều kiện là có phương án phát hành trái phiếu được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận và khoảng cách thời gian giữa các đợt phát hành trái phiếu tối thiểu là 06 tháng. Bên cạnh đó, quy trình, thủ tục phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ cũng được quy định cụ thể, chi tiết hơn với các bước như sau: (i) Chuẩn bị hồ sơ phát hành; (ii) Công bố thông tin; (iii) Tổ chức phát hành; (iii) Lưu ký, đăng ký trái phiếu. Ngoài ra, nếu là phát hành trái phiếu kèm chứng quyền hoặc trái phiếu chuyển đổi của những công ty hoạt động chuyên nghiệp thì phải thêm hai bước là chấp thuận, phê duyệt hồ sơ và báo cáo kết quả phát hành cho cơ quan có thẩm quyền. Trong trường hợp khi thực hiện chào bán trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ có vi phạm các quy định về điều kiện, quy trình, thủ tục thì chủ thể vi phạm sẽ phải gánh chịu những chế tài theo quy định của Nghị định số 156/2020/NĐ-CP. Tùy vào loại hành vi vi phạm cũng như mức độ nghiêm trọng mà chủ thể vi phạm có thể phải nộp phạt với số tiền tối thiểu là năm mươi triệu đồng và tối đa lên đến một tỷ năm trăm triệu đồng. Ngoài ra, có thể phải áp dụng một số hình phạt bổ sung như tịch thu tang vật, buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả...


1.2. Những hạn chế, bất cập trong quá trình thực thi pháp luật


Thứ nhất, mặc dù đã có quy định về các tài liệu, giấy tờ nhằm chứng minh năng lực tài chính và khả năng thanh khoản của công ty dự định phát hành trái phiếu riêng lẻ trong Nghị định số 153/2020/NĐ-CP như báo cáo tài chính có kiểm toán, thanh toán đủ cả gốc và lãi của đợt phát hành trái phiếu trước đó hoặc thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn trong 03 năm liền kề trước đó để đủ điều kiện thực hiện việc phát hành trái phiếu nhưng trên thực tế, tình trạng không có khả năng thanh khoản khi đến hạn thanh toán của công ty phát hành vẫn xảy ra thường xuyên. Nguyên nhân của tình trạng này có thể xuất phát từ lý do chủ quan về phía doanh nghiệp như hiệu quả kinh doanh thấp, hiệu quả sử dụng vốn kém, khả năng quản trị rủi ro hạn chế... hoặc có thể từ lý do khách quan như quy định của pháp luật chưa thực sự hoàn thiện. Trong đó, những lý do chủ quan sẽ phụ thuộc vào năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, vì vậy, chỉ có thể cải thiện tình trạng này bằng biện pháp cải tiến quy định của pháp luật hiện hành. Pháp luật về hoạt động chào bán trái phiếu riêng lẻ tại Việt Nam hiện nay chưa đặt ra giới hạn về tỷ lệ an toàn giữa tài sản của doanh nghiệp và tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong từng thời điểm. Bên cạnh đó, cũng không tồn tại những quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu mà doanh nghiệp phát hành phải bảo đảm khi thực hiện hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ. Mặc dù việc thiếu vắng những quy định dạng này không phải là toàn bộ lý do của tình trạng vỡ nợ trái phiếu trên thực tế nhưng sự hiện diện của chúng cũng là công cụ góp phần bảo đảm tương đối an toàn tài chính cho doanh nghiệp phát hành và giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư.


Thứ hai, pháp luật hiện hành về hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ cũng không quy định các doanh nghiệp phải có tài sản bảo đảm để có thể đủ điều kiện thực hiện hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ trên thị trường. Ở góc độ của doanh nghiệp phát hành, việc không cần có tài sản bảo đảm sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp dễ dàng sử dụng công cụ trái phiếu khi cần. Tuy nhiên, ở góc độ của nhà đầu tư, không tồn tại tài sản bảo đảm cũng đồng nghĩa với việc nguy cơ không thu hồi được gốc và lãi trái phiếu khi đến hạn thanh toán sẽ tăng lên. Nhà đầu tư sẽ phải đối mặt với thiệt hại tài sản, thua lỗ trong đầu tư và từ đó nảy sinh tâm lý e dè, thận trọng khi tiến hành đầu tư thông qua kênh trái phiếu doanh nghiệp. Về bản chất, nhà đầu tư khi mua trái phiếu đã trở thành chủ nợ của doanh nghiệp phát hành, do đó, việc có tồn tại tài sản bảo đảm không sẽ do chủ nợ và con nợ thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên, hoạt động vay nợ thông qua phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp không hoàn toàn tương đồng với hoạt động vay nợ thông thường. Đây là hoạt động vay nợ với quy mô lớn, phạm vi chủ nợ rộng (dưới 100 nhà đầu tư) và quy trình, thủ tục thống nhất với tất cả các nhà đầu tư nên khả năng phát hành thành công sẽ cao hơn so với việc huy động vốn thông qua các hợp đồng vay cá nhân lẻ tẻ trong xã hội. Do đó, nếu đến thời điểm đáo hạn, doanh nghiệp phát hành không đủ khả năng thanh khoản sẽ gây thiệt hại trên phạm vi rộng hơn so với hoạt động vay nợ thông thường. Chính vì vậy, cần phải có quy định về tài sản bảo đảm như một nghĩa vụ của doanh nghiệp phát hành nhằm bảo đảm khả năng thu hồi cả gốc và lãi cho các nhà đầu tư.


Thứ ba, mặc dù đã có các chế tài xử lý hành vi vi phạm trong quá trình phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ được quy định trong Nghị định số 156/2020/NĐ-CP nhưng trên thực tế, hành vi vi phạm quy trình phát hành trái phiếu riêng lẻ vẫn liên tiếp diễn ra trên thị trường. Các doanh nghiệp phát hành trái phiếu riêng lẻ không nghiêm túc, không trung thực sẵn sàng bất chấp quy định của pháp luật, chấp nhận chịu phạt vì không thực hiện đúng quy trình, thủ tục để đạt được lợi ích kinh tế lớn hơn từ hoạt động phát hành trái phiếu bất hợp pháp. Sở dĩ họ sẵn sàng đánh đổi như vậy là bởi chế tài xử lý vi phạm hiện nay còn nhẹ, số tiền xử phạt đối với một số hành vi vi phạm chưa tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi nên chưa đạt được mục đích phòng ngừa và răn đe hành vi vi phạm trên thị trường trái phiếu nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung. Cụ thể, với hành vi không thực hiện công bố thông tin cho nhà đầu tư hoặc không thực hiện đăng ký, lưu ký chứng khoán hoặc thực hiện nhưng không đúng thời hạn sẽ bị phạt tiền tối thiểu năm mươi triệu đồng và tối đa là một trăm triệu đồng. Số tiền phạt như vậy không phải là lớn và nếu so sánh với giá trị số tiền vay doanh nghiệp có thể huy động được thông qua một đợt phát hành trái phiếu lên đến hàng tỷ đồng hoặc hàng chục tỷ đồng thì doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận chịu phạt để đạt được lợi ích kinh tế lớn gấp nhiều lần. Ngoài ra, quy định về chế tài xử lý hành vi vi phạm dưới dạng không đăng ký, lưu ký trái phiếu sau khi phát hành và hành vi đăng ký, lưu ký không đúng thời hạn cùng một mức từ bảy mươi đến một trăm triệu đồng tiền phạt là chưa hợp lý. Đây là hai hành vi vi phạm có mức độ nghiêm trọng và nguy hiểm không hoàn toàn giống nhau, hậu quả thiệt hại cho nhà đầu tư cũng khác nhau nhưng lại áp dụng cùng một mức xử phạt là chưa tương xứng với hành vi vi phạm.


Thứ tư, trong quy định của pháp luật hiện hành, chưa có quy định về vấn đề xếp hạng tín nhiệm đối với các doanh nghiệp và loại trái phiếu trên thị trường. Đây là một căn cứ rất quan trọng để nhà đầu tư có thêm thông tin đáng tin cậy, chính thống về doanh nghiệp họ dự định mua trái phiếu. Đặc biệt, trong bối cảnh nhà đầu tư Việt Nam rất hạn chế trong việc tiếp cận thông tin về doanh nghiệp phát hành trái phiếu, về năng lực tài chính, khả năng thanh khoản của doanh nghiệp phát hành thì quy định về xếp hạng tín nhiệm sẽ trở thành một công cụ hữu hiệu để cung cấp thông tin xác đáng cho nhà đầu tư. Quy định này có thể góp phần cải thiện ý thức pháp luật của doanh nghiệp phát hành và ý thức tự bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, yêu cầu công khai, minh bạch trong phát hành trái phiếu riêng lẻ nói riêng và trên thị trường trái phiếu nói chung cũng sẽ được bảo đảm.


Thứ năm, góp phần không nhỏ vào “mảng xám” của việc thực thi pháp luật về chào bán trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ là do ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia còn rất thấp. Đối với doanh nghiệp, vì lợi ích của mình, họ sẵn sàng “chà đạp” lên các quy định pháp luật để đạt bằng được mục tiêu huy động vốn. Doanh nghiệp không từ một thủ đoạn nào từ “hô biến” nhà đầu không chuyên thành chuyên nghiệp, cho đến việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy trình phát hành trái phiếu riêng lẻ theo luật định và đẩy rủi ro về phía các nhà đầu tư. Trong khi đó, nhà đầu tư lại thiếu kinh nghiệm, thiếu thông tin, hạn chế về năng lực và không có ý thức tự bảo vệ. Thậm chí quyết định mua trái phiếu của doanh nghiệp chỉ dựa vào lãi suất mà không quan tâm đến tình hình tài chính, sự minh bạch thông tin hay khả năng thanh toán của doanh nghiệp phát hành. Cộng hưởng những bất cập từ quy định của pháp luật và ý thức còn hạn chế của các chủ thể tham gia đã làm cho hoạt động phát hành trái phiếu luôn tiềm nguy cơ rủi ro rất cao cho nhà đầu tư, cho thị trường và cho nền kinh tế.


Thứ sáu, cơ chế thực thi pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại Việt Nam hiện nay cũng chưa thực sự hiệu quả. Qua hoạt động quản lý giám sát thị trường, đã phát hiện nhiều doanh nghiệp vốn chủ sở hữu nhỏ, khả năng thanh khoản thấp nhưng vẫn huy động được một lượng trái phiếu lớn từ các nhà đầu tư riêng lẻ. Điều đó cho thấy thủ tục nộp hồ sơ trước khi phát hành theo quy định của pháp luật chứng khoán không mang lại nhiều ý nghĩa trong quá trình quản lý nhà nước đối với hoạt động này. Mặc dù Nghị định số 153/2020/NĐ-CP đã quy định rất nhiều giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ phát hành trái phiếu của doanh nghiệp và cả thủ tục đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán nhưng tình trạng chênh lệch lớn giữa nguồn vốn chủ sở hữu và tổng giá trị trái phiếu phát hành vẫn xảy ra. Như vậy, hoạt động quản lý và kiểm soát trước khi phát hành của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thực sự hiệu quả, chưa phát huy được chức năng tiền kiểm của cơ quan nhà nước đối với kênh huy động vốn bằng trái phiếu trên thị trường.


2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ


Để góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trên thị trường tại Việt Nam hiện nay, cần bảo đảm thực hiện đồng bộ một số giải pháp như sau:


Một là, sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật về hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ nhằm tạo ra một khung khổ pháp lý lành mạnh, công bằng, an toàn và hiệu quả cho sự tồn tại và phát triển của công cụ huy động vốn đang được thị trường ưa chuộng này. Cụ thể: (i) Tăng nặng chế tài xử lý đối với những hành vi vi phạm quy trình, thủ tục phát hành trái phiếu riêng lẻ đã được luật quy định đến mức có thể bảo đảm sự tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm. Từ đó, bảo đảm tính phòng ngừa và răn đe hành vi vi phạm của pháp luật về trái phiếu trên thị trường. (ii) Cân nhắc, xem xét để bổ sung quy định về tỷ lệ an toàn giữa tài sản chủ sở hữu và tổng giá trị lượng trái phiếu phát hành nhằm góp phần bảo đảm khả năng thanh khoản công ty phát hành và giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, có thể bổ sung quy định về vốn pháp định như là một trong những điều kiện doanh nghiệp dự định phát hành phải bảo đảm để có thể được tiến hành huy động vốn bằng kênh trái phiếu riêng lẻ trên thị trường. (iii) Thiết kế quy định mang tính phân loại giữa hai hành vi vi phạm “không đăng ký, lưu ký chứng khoán” và “đăng ký, lưu ký chứng khoán không đúng thời gian theo quy định” với hai mức chế tài phù hợp với tính chất nghiêm trọng của mỗi hành vi. Từ đó, bảo đảm sự tương xứng giữa chế tài và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm, góp phần hạn chế hành vi vi phạm, bảo đảm sự an toàn, ổn định của thị trường trái phiếu nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung. (iv) Bổ sung các quy định về vấn đề xếp hạng tín nhiệm đối với doanh nghiệp phát hành và loại trái phiếu trên thị trường. Các quy định về vấn đề này có thể tồn tại dưới dạng xác định tiêu chí xếp hạng, quy trình, thủ tục xếp hạng, thẩm quyền xếp hạng, công bố kết quả đánh giá tín nhiệm... Các quy định này sẽ góp phần bảo đảm xây dựng một thị trường trái phiếu công khai, minh bạch, an toàn và hiệu quả. Qua đó, cũng củng cố niềm tin của nhà đầu tư vào kênh huy động vốn đặc thù này, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của thị trường trái phiếu.


Hai là, nâng cao ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tôn trọng lợi ích của nhà đầu tư, chấp nhận sự kiểm soát nhất định từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc phát hành trái phiếu riêng lẻ. Từ đó, nghiêm túc, tự nguyện thực hiện các quy định về thủ tục phát hành trái phiếu riêng lẻ nhằm bảo đảm cho nhà đầu tư được tiếp cận thông tin một cách công khai, cụ thể và xác đáng. Thông qua việc tăng nặng chế tài xử lý đối với những hành vi vi phạm và tổ chức các diễn đàn, sân chơi tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trái phiếu sẽ có thể cải thiện được ý thức pháp luật của doanh nghiệp. Mặt khác, tích cực tạo các sân chơi, diễn đàn phù hợp nhằm tuyên truyền, giải thích và phổ biến bản chất của hoạt động phát hành trái phiếu và pháp luật về kênh đầu tư này cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân. Song song với đó là áp dụng các biện pháp nhằm tăng khả năng hiểu biết về hoạt động đầu tư chứng khoán cho nhà đầu tư, giúp cho nhà đầu tư xác định được họ phải tự chịu trách nhiệm với quyết định đầu tư của mình. Vì thế, họ sẽ phải cân nhắc các tiêu chí về chế độ vốn chủ sở hữu, tính minh bạch, hiệu quả trong sử dụng đồng vốn, tình hình tài chính của doanh nghiệp phát hành trái phiếu để quyết định mua trái phiếu mà không chỉ căn cứ trên lãi suất huy động. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, để hoạt động đầu tư trái phiếu riêng lẻ trở nên an toàn và hiệu quả, phụ thuộc rất lớn vào ý thức, năng lực, trình độ của nhà đầu tư. Các nhà đầu tư phải trở thành chuyên gia đánh giá doanh nghiệp trước khi quyết định trở thành chủ nợ của doanh nghiệp thông qua việc sở hữu trái phiếu của doanh nghiệp đó.


Ba là, hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật về hoạt động phát hành trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp bằng một số giải pháp như sau: (i) Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp phát hành trái phiếu riêng lẻ để nhanh chóng phát hiện các hành vi vi phạm và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa rủi ro cho các nhà đầu tư, đồng thời, nâng cao ý thức, trách nhiệm tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp phát hành; (ii) Nâng cao năng lực của cán bộ trong cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán để có thể thực hiện tốt công tác tiền kiểm đối với những hồ sơ phát hành trái phiếu không bảo đảm an toàn, nguy cơ rủi ro cho nhà đầu tư; (iii) Triển khai một cách nghiêm túc, tích cực hoạt động kiểm toán nhằm xác định mức độ tín nhiệm đối với doanh nghiệp và một số loại trái phiếu cũng như phát hiện tỷ lệ thiếu an toàn giữa nguồn vốn chủ sở hữu và khối lượng trái phiếu được phát hành. Từ đó, có thể xây dựng được một thị trường trái phiếu lành mạnh, minh bạch và bền vững.

TS. Đỗ Phương Thảo
Trường Đại học Thương mại

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: