Thứ bảy 07/11/2026 10:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định về phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Tuy nhiên, việc phát hiện tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước chỉ được quy định ngắn gọn trong Điều 82 Luật này.

1. Đặt vấn đề
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định về phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước và trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Tuy nhiên, việc phát hiện tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước chỉ được quy định ngắn gọn trong Điều 82 Luật này. Cụ thể, Điều 82 quy định ba phương thức để phát hiện tham nhũng gồm: Hoạt động tự kiểm tra của doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước; hoạt động thanh tra của cơ quan thanh tra; hoạt động phản ánh, tố cáo, báo cáo của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khi phát hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Trong khi đó, việc phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước lại được Luật Phòng, chống tham nhũng quy định trong một chương riêng (Chương III). Điều này phần nào cho thấy vai trò quan trọng của việc phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước.
Theo Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội. Như vậy, đặc điểm chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước chính là việc kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất được Nhà nước cấp phát, đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước; việc tổ chức, hoạt động đều do Nhà nước quản lý. Chính vì thế, nguy cơ tham nhũng từ những cơ quan, tổ chức, đơn vị này là rất lớn. Nhận diện được nguy cơ này, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã quy định những phương thức để phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước. Theo đó, Chương III Luật này đã đưa ra ba phương thức cơ bản để phát hiện tham nhũng như sau: (i) Công tác kiểm tra và tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước; (ii) Hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm toán; (iii) Phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng.
2. Một số bất cập trong các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước
2.1. Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra và tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, kiểm tra và tự kiểm tra là hai công tác khác nhau. Theo đó, chủ thể tiến hành công tác tự kiểm tra là tất cả những người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước. Đối tượng của công tác tự kiểm tra là việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người có chức vụ, quyền hạn do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước quản lý mà thường xuyên, trực tiếp giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác. Mục đích của tự kiểm tra là nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý tham nhũng.
Còn công tác kiểm tra bao gồm: (i) Công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước và (ii) Kiểm tra hoạt động chống tham nhũng trong Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân. Đối với công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước, chủ thể tiến hành là người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước. Đối tượng của công tác này là việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước. Tương tự như công tác tự kiểm tra, mục đích công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước là nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý tham nhũng. Còn đối với kiểm tra hoạt động chống tham nhũng, mục đích của công tác này là nhằm ngăn chặn hành vi lạm quyền, nhũng nhiễu và các hành vi khác vi phạm pháp luật trong hoạt động chống tham nhũng. Như vậy, theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, công tác này không có mục đích phát hiện tham nhũng như công tác tự kiểm tra và công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng quy định rõ hai hình thức kiểm tra là: (i) Kiểm tra thường xuyên được tiến hành theo chương trình, kế hoạch và tập trung vào lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng; (ii) Kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng.
Tuy nhiên, có một số vấn đề được đặt ra như sau:
Thứ nhất, việc Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định đối tượng của công tác kiểm tra (cơ quan quản lý nhà nước) là “việc chấp hành pháp luật”. Tuy nhiên, cụm từ “chấp hành pháp luật” có nội hàm rất rộng, bao gồm việc chấp hành quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng, pháp luật hôn nhân gia đình, pháp luật an toàn giao thông đường bộ,… Vậy một vấn đề đặt ra là, trên thực tế, người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước có phải tiến hành kiểm tra việc chấp hành tất cả các quy định pháp luật trong mọi lĩnh vực của đối tượng được kiểm tra không? Trong khi đó, với quy định về hình thức kiểm tra có thể thấy, việc kiểm tra chủ yếu tập trung vào lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng.
Thứ hai, theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, chủ thể tiến hành công tác kiểm tra là người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay, trong khoa học pháp lý, việc xác định cơ quan quản lý nhà nước bao gồm những cơ quan nào vẫn còn là một vấn đề đang được tranh luận. Một số quan điểm cho rằng, cơ quan quản lý nhà nước không chỉ bao gồm Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp, mà còn bao gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, bởi vì, tất cả những cơ quan này đều có chức năng quản lý. Nhưng một số quan điểm khác lại cho rằng, cơ quan quản lý nhà nước chỉ bao gồm Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp, lý do là, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chỉ là bộ phận cấu thành, là một phần bên trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ, Ủy ban nhân dân. Nghiên cứu các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng thấy rằng, Luật chưa quy định rõ cơ quan quản lý nhà nước bao gồm những cơ quan nào. Như vậy, chỉ có người đứng đầu Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp mới phải tiến hành kiểm tra thường xuyên, đột xuất để phát hiện tham nhũng hay công tác này cũng là trách nhiệm của cả người đứng đầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân?
Thứ ba, đối với công tác kiểm tra, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định hai hình thức kiểm tra. Trong đó, kiểm tra thường xuyên được tiến hành theo chương trình, kế hoạch và tập trung vào lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng. Tuy nhiên, chương trình, kế hoạch kiểm tra này được xây dựng như thế nào, áp dụng trong thời gian bao lâu, do ai xây dựng… vẫn còn là vấn đề mà Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 “bỏ ngỏ”. Bên cạnh đó, đối với công tác tự kiểm tra, Luật này không quy định về các hình thức tự kiểm tra mà lại trao cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước quyền “chủ động tổ chức kiểm tra”. Cách quy định này có thể dẫn đến tình trạng họ “thờ ơ” hoặc tùy tiện trong việc tiến hành công tác tự kiểm tra. Đây có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém hiệu quả của phương thức tự kiểm tra trong việc phát hiện tham nhũng.
2.2. Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm toán
2.2.1. Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, một trong những phương thức để phát hiện tham nhũng là thông qua hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử. Theo đó, hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử bao gồm hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân. Tuy nhiên, theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, giám sát của Quốc hội bao gồm giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội. Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp, giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân. Như vậy, giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân đã bao gồm cả giám sát của các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Vì vậy, tên gọi Điều 59 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018: “Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử và xử lý đề nghị của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử” là chưa hợp lý. Giám sát của cơ quan dân cử (tức là giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân) đã bao gồm giám sát của đại biểu dân cử (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân). Bên cạnh đó, việc Luật này sử dụng thuật ngữ “cơ quan dân cử”, “đại biểu dân cử” cũng chưa bảo đảm tính minh bạch, thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật khác. Mặc dù trong khoa học pháp lý, “cơ quan dân cử”, “đại biểu dân cử” là những thuật ngữ được sử dụng để chỉ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Nhưng về mặt pháp lý, Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân đều không sử dụng thuật ngữ “cơ quan dân cử”, “đại biểu dân cử”. Các văn bản này đều sử dụng thuật ngữ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thay cho hai thuật ngữ trên.
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, thông qua hoạt động giám sát nếu phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng thì các chủ thể trên sẽ đề nghị Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân xử lý theo quy định của pháp luật. Khi nhận được đề nghị, Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phải xác minh, xử lý và thông báo kết quả cho cơ quan, đại biểu đã đề nghị. Như vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 không trao cho Quốc hội, Hội đồng nhân dân… quyền trực tiếp xử lý khi phát hiện tham nhũng. Họ chỉ có thể đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý. Các cơ quan này, sau khi nhận được đề nghị, có trách nhiệm xác minh, xử lý và thông báo kết quả cho chủ thể đã đề nghị. Tuy nhiên, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 vẫn chưa quy định rõ những vấn đề sau:
Một là, sau khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội… phải gửi đề nghị đến Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân trong thời hạn chậm nhất là bao lâu? Việc đề nghị này không chỉ là quyền, mà còn là trách nhiệm của các chủ thể này. Nếu họ phát hiện nhưng không đề nghị hoặc đề nghị chậm trễ thì có thể dẫn đến tình trạng “bỏ lọt” các vụ việc tham nhũng.
Hai là, Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân phải xác minh, xử lý và thông báo kết quả cho cơ quan, đại biểu chậm nhất trong thời gian bao lâu kể từ ngày nhận được đề nghị? Hình thức thông báo là gì (bắt buộc là thông báo bằng văn bản hay có thể thông báo bằng những hình thức khác)? Việc Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 không quy định rõ những vấn đề này có thể dẫn đến sự khó khăn cho các cơ quan dân cử, đại biểu dân cử trong việc yêu cầu các cơ quan trên xác minh, xử lý và thông báo kết quả xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng.
2.2.2. Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán có trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Đồng thời, Luật này cũng quy định thẩm quyền của Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước trong thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng tại Điều 61[1]. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng có thể xảy ra sự trùng lặp. Vì thế, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định Tổng Thanh tra Chính phủ, Tổng Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm phối hợp xử lý trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, nếu Tổng Thanh tra Chính phủ và Tổng Kiểm toán nhà nước không thống nhất ý kiến với nhau khi xử lý trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán thì sẽ giải quyết như thế nào? Đây là vấn đề mà Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 vẫn còn “bỏ ngỏ”.
Bên cạnh đó, Điều 62 Luật này cũng quy định về trách nhiệm xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng được phát hiện qua hoạt động thanh tra, kiểm toán. Theo đó, trong quá trình thanh tra, kiểm toán nếu phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng thì người ra quyết định thanh tra, người ra quyết định kiểm toán phải chỉ đạo xác minh, làm rõ vụ việc tham nhũng và xử lý như sau: (i) Trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì chuyển ngay hồ sơ vụ việc và kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét, khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cung cấp; (ii) Trường hợp vụ việc không có dấu hiệu tội phạm thì kiến nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi vi phạm. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý phải thông báo bằng văn bản về kết quả xử lý cho Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước đã kiến nghị. Tuy nhiên, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 lại không quy định thời hạn cụ thể mà người ra quyết định thanh tra, người ra quyết định kiểm toán phải thực hiện các công việc trên. Đồng thời, đối với trường hợp thứ hai, Luật này cũng không quy định rõ thời hạn cụ thể mà chủ thể có thẩm quyền xử lý phải xử lý vụ việc và thông báo kết quả xử lý.
2.3. Phát hiện tham nhũng thông qua phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, phản ánh, tố cáo, báo cáo là ba hoạt động khác nhau. Một là, về chủ thể thực hiện phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng: Chủ thể thực hiện phản ánh về hành vi tham nhũng là cá nhân, tổ chức. Nhưng chủ thể tố cáo hành vi tham nhũng chỉ có thể là cá nhân, không bao gồm tổ chức. Còn chủ thể báo cáo về hành vi tham nhũng lại là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Hai là, về chủ thể nhận phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng: Chủ thể nhận tố cáo, phản ánh là cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền theo pháp luật về tố cáo và pháp luật về tiếp công dân. Còn chủ thể nhận báo cáo về hành vi tham nhũng là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của người báo cáo hoặc là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý cán bộ (trong trường hợp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan đến hành vi tham nhũng). Ba là, về thủ tục: Việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo. Việc tiếp nhận, xử lý phản ánh về hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tiếp công dân. Việc báo cáo và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng được quy định tại Điều 66 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Theo đó, khi phát hiện hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình công tác thì chủ thể được giao trách nhiệm phải báo cáo ngay với người có thẩm quyền. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo về hành vi tham nhũng, người được báo cáo phải xử lý vụ việc theo thẩm quyền hoặc chuyển cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, xử lý và thông báo cho người báo cáo biết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày; trường hợp cần thiết thì người được báo cáo quyết định hoặc đề nghị người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng và bảo vệ người báo cáo. Tuy nhiên, việc quy định “khi phát hiện hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình công tác thì chủ thể được giao trách nhiệm phải báo cáo ngay với người có thẩm quyền” chưa thật sự rõ ràng. Bởi lẽ, “báo cáo ngay” theo quy định trên là báo cáo trong thời hạn chậm nhất là bao lâu kể từ khi phát hiện hành vi tham nhũng? Đồng thời, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng chưa quy định rõ những tiêu chí để xác định “vụ việc phức tạp”, “trường hợp cần thiết” trong quy định trên. Điều này có thể dẫn đến nguy cơ tuỳ tiện, lạm quyền của người được báo cáo khi xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng.
Về bảo vệ người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng, theo Điều 67 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo. Người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng được áp dụng các biện pháp bảo vệ như bảo vệ người tố cáo. Tuy nhiên, theo Luật Tố cáo năm 2018, việc bảo vệ người tố cáo không chỉ giới hạn trong việc bảo vệ đối với một mình cá nhân người tố cáo, mà còn bao gồm sự bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo. Điều này nhằm bảo đảm sự an toàn và yên tâm cho người tố cáo khi thực hiện tố cáo. Bởi khi thực hiện tố cáo, không chỉ bản thân người tố cáo, mà những người thân thích của họ cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro có thể xảy ra. Trên thực tế, có thể thấy rằng, khi thực hiện phản ánh hay báo cáo về hành vi tham nhũng, người thân thích của chủ thể phản ánh, báo cáo cũng có thể bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, vị trí công tác, việc làm hay bị trù dập, phân biệt đối xử. Do đó, họ cũng cần được bảo vệ. Tuy nhiên, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 lại quy định chủ thể được áp dụng các biện pháp bảo vệ trong phản ánh, báo cáo hành vi tham nhũng chỉ là người phản ánh, báo cáo, không bao gồm người thân thích của họ. Điều này chưa thật sự hợp lý.
3. Kiến nghị hoàn thiện
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã có những quy định khá đầy đủ về phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước. Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn tồn tại một số bất cập cũng như các “khoảng trống” cần được sửa đổi, bổ sung, giải thích, hướng dẫn cụ thể hơn. Để khắc phục điều này, theo tác giả cần thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, các chủ thể có thẩm quyền cần sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm làm rõ hơn các “khoảng trống” của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về công tác kiểm tra, tự kiểm tra. Theo đó, đối tượng của công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước cần được quy định rõ là “việc chấp hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng”. Chủ thể tiến hành công tác kiểm tra nên được quy định theo hướng mở rộng là người đứng đầu Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các cấp. Đồng thời, cần quy định rõ kế hoạch tự kiểm tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ yếu về tự kiểm tra của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước trong 01 năm do các chủ thể này xây dựng. Kế hoạch kiểm tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ yếu về kiểm tra của những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp trong 01 năm do các chủ thể này xây dựng.
Thứ hai, các chủ thể có thẩm quyền cần sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm làm rõ hơn các “khoảng trống” của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về thời hạn thực hiện một số hoạt động như: Thời hạn Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội… phải gửi đề nghị đến Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân khi phát hiện tham nhũng; thời hạn Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân phải xác minh, xử lý và thông báo kết quả cho cơ quan dân cử, đại biểu dân cử (theo Điều 59 Luật này); thời hạn thanh tra, kiểm toán chuyển hồ sơ vụ việc và kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét, khởi tố vụ án hình sự, thời hạn thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cung cấp; kiến nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi vi phạm; thời hạn cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý thông báo bằng văn bản về kết quả xử lý cho Cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước đã kiến nghị (theo Điều 62 Luật này); thời hạn báo cáo với chủ thể có thẩm quyền khi phát hiện hành vi tham nhũng (theo Điều 66 Luật này). Đồng thời, cần quy định rõ các tiêu chí để xác định “vụ việc phức tạp”, “trường hợp cần thiết” trong Điều 66 Luật này.
Thứ ba, nên nghiên cứu, sửa đổi một số quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 như: (i) Tên gọi của Điều 59 Luật này cần được sửa đổi thành “Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và xử lý đề nghị của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân”. (ii) Điều 67 Luật này cần sửa đổi quy định về bảo vệ người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng theo hướng việc bảo vệ người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

Trương Thị Minh Thùy
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Điều 61 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định: Cơ quan thanh tra, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng theo thẩm quyền như sau: (i) Thanh tra Chính phủ thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan ở trung ương thực hiện; người công tác tại Thanh tra Chính phủ thực hiện; (ii) Thanh tra Bộ thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này; (iii) Thanh tra tỉnh thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền địa phương thực hiện, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này. Các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng tại các cơ quan, tổ chức có quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công theo phân công của Tổng Kiểm toán nhà nước.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Tóm tắt: Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính là một trong những nội dung quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[I] và các văn bản quy định chi tiết. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính còn một số bất cập, gồm: thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật; thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay chưa được quy định đầy đủ; quy định về giao quyền xử phạt còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu phân tích những bất cập này, từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.
Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, thường gọi là “bỏ cọc”, đang được xử lý chủ yếu bằng cách tăng mức tiền đặt trước và áp dụng chế tài cấm tham gia đấu giá. Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án, nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của khoản tiền đặt trước; tiêu chí phân định tranh chấp dân sự và hành chính; căn cứ xem xét quyết định hủy quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá; yêu cầu kiểm soát tư pháp đối với quyết định cấm tham gia đấu giá và trách nhiệm tài sản của các bên. Trên cơ sở đánh giá dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (dự thảo Luật), nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án theo hướng chế tài được áp dụng thống nhất và chịu sự kiểm soát của Tòa án.
Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 lần đầu định danh hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất nhưng chưa thiết lập cơ chế điều chỉnh tương ứng. Nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của quan hệ này; từ đó, chỉ ra 04 hạn chế của pháp luật hiện hành: (i) quyền hợp tác chưa rõ ràng, minh bạch cho cá nhân sử dụng đất; (ii) chưa xác định rõ phạm vi quyền sử dụng đất được đưa vào hợp tác; (iii) chưa có điều kiện thực hiện riêng; (iv) chưa xác định đầy đủ hệ quả pháp lý. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) (dự thảo Luật) đã có một số điều chỉnh, nhưng chưa khắc phục triệt để những bất cập này. Nghiên cứu đề xuất ghi nhận hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất thành quyền độc lập kèm theo tiêu chí xác định quan hệ theo bản chất, xác định rõ nhóm người sử dụng đất được thực hiện quyền, bổ sung điều kiện thực hiện phù hợp với đặc điểm không làm chuyển dịch quyền sử dụng đất, thiết lập cơ chế đăng ký, công khai quan hệ hợp tác gắn với việc xác định hiệu lực đối với người thứ ba và nguyên tắc bảo vệ các quyền có liên quan.
Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Tóm tắt: Quyền bề mặt được Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận là quyền khác đối với tài sản, cho phép chủ thể khai thác mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của chủ thể khác. Đây là thiết chế có tiềm năng phân tách quyền khai thác không gian khỏi quyền sử dụng đất, huy động vốn đầu tư và phát triển bất động sản theo chiều cao, chiều sâu và đa công năng. Tuy nhiên, hiện, các quy định pháp luật chủ yếu dừng ở mức khái quát, chưa hình thành cơ chế pháp lý đồng bộ về xác lập, đăng ký, công khai hóa, hiệu lực đối kháng, giao dịch, thế chấp, định giá, bảo vệ quyền và xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt. Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn đã tạo nền tảng mới về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai, nhưng chưa trực tiếp thiết lập thủ tục đăng ký quyền bề mặt. Nghiên cứu phân tích bản chất và vai trò của quyền bề mặt, đánh giá những khoảng trống của pháp luật Việt Nam, tham chiếu kinh nghiệm của một số quốc gia và đề xuất mô hình hoàn thiện theo hướng: thừa nhận đầy đủ tính chất vật quyền; kiến nghị sửa đổi Điều 269 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng lấy đăng ký làm điều kiện đối kháng, kèm theo quy định chuyển tiếp; mô tả đối tượng theo không gian ba chiều; bảo đảm khả năng chuyển giao, thế chấp và tài trợ dự án; đồng thời, cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất, chủ thể quyền bề mặt, nhà đầu tư và người thứ ba.
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tóm tắt: Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn một số bất cập, chồng chéo giữa các đạo luật về thẩm quyền, thủ tục, khiếu nại và kỹ thuật lập pháp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật. Nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng; từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định này trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Tóm tắt: Dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật[1] (dự thảo Luật) tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách, trong đó, chú trọng xác định vấn đề, mục tiêu, giải pháp, đánh giá tác động chính sách và bổ sung cơ chế đánh giá kết quả thực hiện sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích Chính sách 3 về đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật[2], đánh giá khả năng điều chỉnh kịp thời các quy định pháp luật trước những thay đổi của thực tiễn và việc sử dụng kết quả thi hành pháp luật để tiếp tục hoàn thiện chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, cơ chế theo dõi, đánh giá và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn thi hành chưa được quy định đầy đủ; bên cạnh đó, một số quy định còn thiếu thống nhất về phạm vi điều chỉnh, thuật ngữ và thẩm quyền. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng và đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm việc sửa đổi, bổ sung pháp luật được thực hiện kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn mà không làm gia tăng thủ tục.
Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng hiện nay, việc nghiên cứu di sản lập pháp truyền thống mang ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu phân tích Điều luật[I] “Quan lại nhận tiền của” thuộc Chương IX (Nhận hối lộ) trong Hoàng Việt luật lệ[II] nhằm làm rõ tư duy lập pháp và giá trị lịch sử của Điều luật. Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích Điều luật “Quan lại nhận tiền của”, đồng thời, so sánh với Quốc triều Hình luật, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Bộ luật Hình sự năm 2015[III]. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sử liệu học để thu thập tư liệu cổ luật; các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ các yếu tố cấu thành, giá trị, giới hạn lịch sử, đồng thời, so sánh Điều luật này với các quy định có liên quan. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.
Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: