Thứ tư 14/01/2026 12:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thể chế hòa giải ở Singapore

Hòa giải không phải là vấn đề mới ở Singapore. Một số học giả cho rằng, hòa giải xuất hiện ở Singapore từ khi bắt đầu có cư dân sống trên quốc đảo này. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã làm mai một vị trí của hòa giải.

Hòa giải chỉ được phục hồi ở Singapore vào giữa thập kỷ 1990, khi “Phong trào giải quyết tranh chấp thay thế - ADR” chính thức bắt đầu năm 1994. Người có công lớn trong việc đẩy mạnh phong trào này là Chánh án Tòa án tối cao Young Pung How - người đã tiến hành nhiều cải cách trong lĩnh vực tố tụng dân sự ở Singapore để khuyến khích các bên dàn xếp tranh chấp, mà không cần mở phiên tòa xét xử. Năm 1994, hòa giải được đưa vào các Tòa án cấp dưới theo chương trình “Giải quyết tranh chấp thay thế tại Tòa án” (Court Dispute Resolution – CDR). Mục tiêu của chương trình là khôi phục lại hòa giải - một quy trình giải quyết tranh chấp quen thuộc trong văn hóa Singapore; duy trì sự hài hòa, đồng thuận trong gia đình và toàn xã hội; tăng hiệu quả giải quyết tranh chấp bằng cách giảm chi phí tố tụng và sử dụng tối đa các nguồn lực công để giải quyết xung đột.

Bên cạnh chương trình CDR, Ngành Tòa án bắt đầu triển khai các phiên họp trước phiên tòa (pre-trial conference) đối với các vụ việc dân sự tại Tòa án tối cao và các Tòa án cấp dưới từ tháng 01/1992. Các phiên họp này do một nhân viên Tòa án chủ trì, nhằm mục đích đánh giá vụ án để tìm ra phương án giải quyết tối ưu và khuyến khích các đương sự dàn xếp tranh chấp thông qua thương lượng. Việc tổ chức các phiên họp như vậy được chính thức quy định trong Quy tắc tố tụng Tòa án Singapore năm 1996. Theo quy định này, Tòa án có quyền yêu cầu các đương sự tham dự phiên họp trước phiên tòa (được tổ chức không công khai), tại phiên họp đó, Tòa án sẽ đưa ra phương hướng mà Tòa án cho là phù hợp để giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, công bằng và ít chi phí nhất.

Chính phủ Singapore cũng đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy hòa giải ở Singapore và khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng hòa giải trước khi đưa vụ việc ra Tòa án. Tháng 5/1996, Ủy ban về ADR được thành lập với chức năng nghiên cứu các biện pháp thúc đẩy hơn nữa hòa giải ở Singapore và mở rộng phạm vi áp dụng hòa giải bên ngoài Tòa án. Ủy ban đưa ra hai khuyến nghị nhằm phân chia hòa giải khu vực tư làm hai nhánh là hòa giải thương mại và hòa giải cộng đồng: Thứ nhất, Ủy ban đề xuất thành lập một trung tâm hòa giải thương mại thuộc Học viện Luật Singapore (Trung tâm Hòa giải Singapore – SMC). SMC được chính thức thành lập ngày 16/8/1997; thứ hai, Ủy ban khuyến nghị thành lập các trung tâm hòa giải cộng đồng để công chúng dễ tiếp cận. Các lãnh đạo cộng đồng và các tình nguyện viên được đào tạo để trở thành hòa giải viên, nhằm hướng dẫn cộng đồng cách thức tự giải quyết các tranh chấp nội bộ của họ. Khuyến nghị này đã được Bộ Pháp luật thực thi. Tháng 01/1998, Luật về Trung tâm Hòa giải cộng đồng có hiệu lực. Bộ Pháp luật giám sát các trung tâm này và vẫn giữ vai trò thúc đẩy hòa giải và ADR nói chung. Các sáng kiến thúc đẩy hòa giải khác được đưa ra bởi Văn phòng Tổng Công tố viên, theo đó, tất cả các cơ quan nhà nước nên sử dụng hòa giải là sự lựa chọn đầu tiên để giải quyết tranh chấp và trong các hợp đồng của Chính phủ cần có điều khoản về giải quyết tranh chấp tại Trung tâm Hòa giải Singapore.

Điều ấn tượng nhất trong quá trình phát triển của hòa giải ở Singapore là tốc độ triển khai các chương trình hòa giải(1). Chỉ trong một thời gian ngắn, hòa giải đã nhanh chóng trở thành một phương thức giải quyết tranh chấp được sử dụng rộng rãi bởi Tòa án, các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các cá nhân.

Tóm lại, ở Singapore có hai loại hình hòa giải chủ yếu là hòa giải gắn với Tòa án (court-annexed mediation) và hòa giải tư (private mediation). Hòa giải gắn với Tòa án là hình thức hòa giải được tiến hành sau khi các bên đã bắt đầu quá trình tố tụng tại Tòa án. Loại hình hòa giải này chủ yếu được thực hiện tại các Tòa án cấp dưới (Subordinate Courts) và được điều phối bởi Trung tâm Giải quyết tranh chấp thay thế (Primary Dispute Resolution Centre – PDRC). Hòa giải tư ở Singapore chủ yếu được thực hiện bởi Trung tâm Hòa giải Singapore (SMC) - một tổ chức phi lợi nhuận thuộc Học viện Luật Singapore. Ngoài ra, ở Singapore còn tồn tại loại hình hòa giải thứ ba, được tiến hành trong các cơ quan nhà nước và các tổ chức, hiệp hội, như các Trung tâm Hòa giải cộng đồng, Hiệp hội Người tiêu dùng Singapore.

1. Hòa giải tranh chấp thương mại tại Trung tâm Hòa giải Singapore

Trung tâm Hòa giải Singapore (SMC) được chính thức thành lập bởi Chánh án Tòa án tối cao Yong Pung How ngày 16/8/1997. Đây là một tổ chức phi lợi nhuận thuộc Học viện Luật Singapore, có mối liên hệ chặt chẽ với các hiệp hội thương mại, các hội nghề nghiệp và được sự ủng hộ rất lớn từ Ngành Tòa án.

Theo thống kê, có khoảng 75-80% số vụ việc đưa ra SMC được hòa giải thành, trong số đó, hơn 90% được hòa giải thành chỉ trong một ngày làm việc. 40% số vụ việc mà SMC tiếp nhận là do tòa án chuyển đến(2). Trong tổng số các bên tranh chấp đã tham gia hòa giải và có phản hồi, 83% cho rằng hòa giải tiết kiệm chi phí, 87% cho rằng hòa giải giúp họ tiết kiệm thời gian và 94% khẳng định sẽ giới thiệu cho những người khác sử dụng hòa giải khi có tranh chấp(3).

Trung tâm có một Hội đồng Hòa giải viên là những người có uy tín cao và kinh nghiệm trong các ngành và lĩnh vực khác nhau, bao gồm nghị sĩ, cựu thẩm phán Tòa án Cấp cao (High Court), luật sư, kiến trúc sư, bác sĩ, kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin, giám đốc dự án, các nhà tâm lý học và các giáo sư đại học. Những người này đều được đào tạo bài bản về hòa giải và phải trải qua kỳ đánh giá nghiêm ngặt trước khi được bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng Hòa giải viên. Ngoài ra, còn có một Hội đồng Hòa giải quốc tế, gồm những hòa giải viên nổi tiếng trên phạm vi quốc tế. Nếu tranh chấp đòi hỏi kiến thức chuyên môn, SMC thường chỉ định hai hòa giải viên để tiến hành hòa giải tranh chấp, trong đó một thành viên là chuyên gia trong lĩnh vực tương ứng, còn thành viên thứ hai là luật sư.

Singapore không có luật hoặc một hệ thống tiêu chuẩn quốc gia điều chỉnh việc kiểm định chất lượng, tiêu chuẩn hòa giải viên. SMC đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn riêng về đào tạo và kiểm định chất lượng đối với hòa giải viên của Trung tâm(4). Phần lớn các hòa giải viên của Trung tâm được bổ nhiệm bởi những người trong cùng hiệp hội thương mại hoặc tổ chức xã hội nghề nghiệp của họ. Các ứng cử viên phải tham dự một hội thảo tập huấn về hòa giải và được đánh giá vào cuối hội thảo. Người đạt tiêu chuẩn sẽ được công nhận và bổ nhiệm vào Hội đồng Hòa giải viên. Công nhận của SMC chỉ có giá trị một năm và được gia hạn hàng năm nếu hòa giải viên tham dự ít nhất 8 giờ học bổ sung mỗi năm về hòa giải và có khả năng tiến hành ít nhất (5) vụ hòa giải trong một năm nếu được yêu cầu.

Việc hòa giải ở Trung tâm được điều chỉnh bởi quy định về thủ tục hòa giải của SMC. Quá trình hòa giải bắt đầu bằng hai cách là vụ việc được tòa án chuyển đến hoặc các bên tranh chấp trực tiếp yêu cầu SMC hòa giải. Nếu chỉ một bên yêu cầu, SMC sẽ liên hệ với các bên còn lại và thuyết phục họ hòa giải. Sau khi SMC đánh giá liệu vụ việc có thích hợp để hòa giải hay không và liệu tất cả các bên có đồng ý hòa giải tranh chấp hay không, SMC sẽ phổ biến vắn tắt cho các bên về thủ tục hòa giải tại SMC, để bảo đảm rằng các bên có đầy đủ thông tin trước khi đưa ra quyết định. Bước đầu tiên của thủ tục hòa giải là các bên ký vào thỏa thuận hòa giải tranh chấp của SMC, khi đó, các bên chịu sự ràng buộc của các quy định về thủ tục hòa giải tại SMC, bao gồm cả quy định về hiệu lực của thỏa thuận đạt được trong hòa giải. SMC sẽ ấn định thời gian mở phiên hòa giải (thường là 1 tuần sau khi tiếp nhận vụ việc hoặc trong vòng 24 giờ nếu vụ việc mang tính khẩn cấp). Phiên hòa giải được tổ chức tại trụ sở của SMC để bảo đảm tính trung lập. SMC chỉ định các hòa giải viên từ Hội đồng Hòa giải viên cao cấp. Các bên có quyền phản đối hòa giải viên được chỉ định nếu có lý do chính đáng, chẳng hạn như xung đột về lợi ích. Đồng thời, các bên trao đổi các bản tóm tắt về nội dung vụ việc và các tài liệu liên quan nếu cần thiết. Tại phiên hòa giải, hòa giải viên dẫn dắt các bên để đi tới một giải pháp cho tranh chấp. Luật sư của các bên đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hòa giải viên và tư vấn cho các bên trong quá trình hòa giải. Nếu tranh chấp được dàn xếp, các điều khoản thỏa thuận được luật sư các bên soạn thảo thành văn bản và có chữ ký của các bên hoặc người đại diện của họ.

2. Hòa giải gắn với Tòa án (court-annexed mediation)

Hệ thống Tòa án Singapore bao gồm Tòa án tối cao và các Tòa án cấp dưới (Subordinate Courts), có thẩm quyền xét xử tất cả các vụ việc dân sự và hình sự ở Singapore, trừ các vụ việc hôn nhân và gia đình trong đó luật áp dụng là Luật Hồi giáo. Tòa án tối cao bao gồm: Tòa án phúc thẩm tối cao (Court of Appeal), Tòa án cấp cao (High Court) và Tòa án Hiến pháp (Constitutional Tribunal). Các tòa án cấp dưới bao gồm: Các tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng (District Courts), các tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp (Magistrates’ Courts), các tòa vị thành niên, các tòa gia đình (Family Courts) và các tòa án xử vụ việc nhỏ theo thủ tục rút gọn (Small Claims Tribunals)5.

Ở Singapore, đa số hòa giải gắn với tòa án được tiến hành ở các Tòa án cấp dưới do Trung tâm Giải quyết tranh chấp Tòa án PDRC điều phối, sau khi tranh chấp đã được tòa án thụ lý. Như đã nói ở trên, chương trình giải quyết tranh chấp thay thế tại Tòa án (CDR) được triển khai theo một dự án thử nghiệm từ tháng 6/1994 và Trung tâm Hòa giải Tòa án được thành lập năm 1995, sau đó được đổi tên thành Trung tâm Giải quyết tranh chấp thay thế vào tháng 5/1998 do chương trình này được mở rộng tới các phương thức ADR khác ngoài hòa giải(6). Ngoài hòa giải theo chương trình CDR, hòa giải còn có thể được sử dụng trong các phiên họp trước phiên tòa sơ thẩm. Tuy nhiên, phần lớn hòa giải tại Tòa án được tiến hành theo chương trình CDR.

Các Tòa án có thể chuyển vụ án tới các trung tâm hòa giải bên ngoài tòa án như SMC và các trung tâm hòa giải cộng đồng nếu xét thấy thích hợp. Việc chuyển vụ án sang thủ tục hòa giải là do Tòa án tự mình đề xuất với các bên hoặc theo sự thỏa thuận của các bên.

Hầu hết các vụ việc được các Tòa án cấp dưới thụ lý đều trải qua thủ tục hòa giải. Hòa giải ở CDR được tiến hành bởi các thẩm phán, vì các Tòa án Singapore quan niệm rằng, trong văn hóa Singapore và văn hóa châu Á nói chung, tiếng nói của người có thẩm quyền luôn có trọng lượng hơn. Thẩm phán hòa giải (Settlement Judges) có được sự tín nhiệm và tôn trọng cao hơn từ các bên tranh chấp, nên có thể dẫn dắt quá trình hòa giải đạt hiệu quả cao hơn. Khác với mô hình hòa giải phương Tây, thẩm phán hòa giải của Singapore có vai trò chủ động hơn và can thiệp sâu hơn vào quá trình hòa giải. Thẩm phán có thể đề xuất giải pháp và chủ động cùng các bên tìm ra giải pháp phù hợp để giải quyết tranh chấp. Thẩm phán hòa giải chịu sự điều chỉnh của Tiêu chuẩn mẫu dành cho hòa giải viên của các Tòa án cấp dưới. Ngoài ra, khoản 4 của Tiêu chuẩn mẫu còn quy định hòa giải viên phải tuân thủ Bộ Quy tắc đạo đức đối với hòa giải viên của các Tòa án cấp dưới ở Singapore. Bộ Quy tắc đạo đức này quy định các vấn đề như tính vô tư, trung lập, bảo mật thông tin, tôn trọng sự tự nguyện của các bên, xung đột lợi ích, đào tạo và tiêu chuẩn đối với hòa giải viên.

Hòa giải cũng được triển khai ở các Tòa án khác trong hệ thống Tòa án cấp dưới ở Singapore như Tòa gia đình, Tòa xử vụ việc nhỏ và Tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp.

3. Hòa giải trong các cơ quan Chính phủ và các hiệp hội thương mại, tổ chức xã hội nghề nghiệp

Ở cơ quan giải quyết vỡ nợ và quản lý tài sản phá sản có Ban Hòa giải về phá sản, chịu trách nhiệm hòa giải các bất đồng giữa tổ chức, cá nhân bị phá sản với các chủ nợ liên quan đến xác định các khoản nợ. Bộ Quản lý nhân lực cung cấp dịch vụ hòa giải đối với các tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động. Các hiệp hội thương mại, các tổ chức xã hội nghề nghiệp cũng có cơ chế hòa giải riêng, ví dụ: Viện Khảo sát và Định giá Singapore, Viện Kiến trúc sư Singapore, Hiệp hội Người tiêu dùng Singapore, Hiệp hội Doanh nghiệp Lữ hành Singapore…(7)

4. Hòa giải cộng đồng ở Singapore

Năm 1998, sau khi Luật về Trung tâm Hòa giải cộng đồng được ban hành, các trung tâm hòa giải cộng đồng được thành lập theo sáng kiến của Chính phủ nhằm thúc đẩy sự phát triển một cộng đồng hài hòa, văn minh và khoan dung. Hiện Singapore có 3 trung tâm, trong đó có một trung tâm đặt trong trụ sở các Tòa án cấp dưới. Ngoài ra, có các chi nhánh vệ tinh được đặt ở nhiều vùng khác nhau trên cả nước để tạo điều kiện cho người dân dễ dàng tiếp cận với dịch vụ hòa giải.

Các dạng tranh chấp phổ biến là tranh chấp giữa hàng xóm với nhau liên quan đến không khí hay tiếng ồn, tranh chấp do hiểu lầm, gây gổ đánh nhau giữa người dân và các chủ cửa hàng, cửa hiệu(8).

Để tiến hành hòa giải, hòa giải viên thu thập thông tin về bên yêu cầu hòa giải và về mâu thuẫn giữa các bên, sau đó liên hệ với phía bên kia để hỏi ý kiến về việc có đồng ý đưa tranh chấp ra hòa giải hay không? Nếu bên kia không đồng ý, bên yêu cầu hòa giải không thể buộc họ tham gia quá trình hòa giải, bởi hòa giải là quy trình hoàn toàn tự nguyện. Trong trường hợp các bên đều đồng ý hòa giải, một phiên họp với sự có mặt của hòa giải viên và các bên tranh chấp sẽ được sắp xếp.

Hòa giải viên là các lãnh đạo cộng đồng ở cấp cơ sở, các chuyên gia và chính thành viên của cộng đồng, thông thường là người có uy tín trong cộng đồng. Thành phần hòa giải viên cộng đồng rất đa dạng về nghề nghiệp, độ tuổi, dân tộc… Sau khi hoàn thành khóa đào tạo, họ được Bộ Pháp luật bổ nhiệm làm hòa giải viên. Ban đầu họ phải hòa giải cùng với một hòa giải viên lâu năm, sau một thời gian tích lũy kinh nghiệm, họ mới có thể tự mình tiến hành hòa giải. Đây là hoạt động tình nguyện, hòa giải viên không được trả thù lao. Mặc dù trong quá trình hòa giải, quyền tự định đoạt của các bên được tôn trọng, nhưng hòa giải viên có thể giữ vai trò tích cực trong việc đề xuất giải pháp giải quyết tranh chấp. Thỏa thuận đạt được trong hòa giải có hiệu lực pháp lý bắt buộc nếu thỏa thuận đó được soạn thảo bằng văn bản có chữ ký của các bên.

Theo thống kê, từ năm 1998 đến 2010, các trung tâm hòa giải cộng đồng đã hòa giải 5.349 vụ, tỷ lệ hòa giải thành là 72%. Trung tâm hòa giải cộng đồng đặt trong tòa án cấp dưới tuy được thành lập muộn nhất nhưng lại tiếp nhận nhiều vụ việc nhất do được Tòa án cấp dưới chuyển sang. Năm 2010, các tranh chấp phổ biến nhất là tranh chấp giữa hàng xóm với nhau (71%), tranh chấp trong gia đình (12%)(9). Có đến 90% tổng số vụ việc mà các trung tâm tiếp nhận là do Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền chuyển đến, do vậy, các trung tâm rất chú trọng xây dựng quan hệ đối tác thường xuyên với Tòa án (chủ yếu là Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp), cơ quan công an, cơ quan quản lý nhà ở, hội đồng thành phố, lãnh đạo cộng đồng ở cơ sở…(10)

5. Các quy định pháp luật về hòa giải ở Singapore

5.1. Luật về Trung tâm Hòa giải cộng đồng năm 1998

Về phạm vi hòa giải, Luật quy định bất kỳ ai cũng có thể nhờ hòa giải viên của một Trung tâm Hòa giải cộng đồng tiến hành hòa giải một tranh chấp về gia đình, xã hội, hay cộng đồng mà không liên quan đến một vi phạm pháp luật có thể bị truy tố theo luật thành văn (Điều 11).

Về quy trình hòa giải, Luật quy định mỗi phiên hòa giải được tiến hành bởi một hoặc nhiều hòa giải viên do Giám đốc Trung tâm phân công. Phiên hòa giải được tiến hành càng nhanh càng tốt, giảm thiểu thủ tục và các hình thức mang tính kỹ thuật. Các quy định về chứng cứ không áp dụng cho hòa giải cộng đồng. Phiên hòa giải được tiến hành không công khai và hòa giải viên chỉ giúp các bên đạt được thỏa thuận chứ không ra phán quyết (Điều 9 và Điều 10).

Về bảo mật thông tin, nhằm khuyến khích hòa giải, Luật quy định các nội dung được đề cập trong hòa giải sẽ được giữ bí mật và mọi phát ngôn hay sự thừa nhận, hoặc tài liệu được đưa ra tại phiên hòa giải sẽ không được chấp nhận làm chứng cứ trong bất kỳ trình tự tài phán nào trước Tòa án, trọng tài hoặc cơ quan có thẩm quyền (Điều 19), trừ một số trường hợp ngoại lệ do pháp luật quy định. Điều 20 cụ thể hóa các trường hợp ngoại lệ trong đó hòa giải viên, Giám đốc và các nhân viên của Trung tâm Hòa giải cộng đồng có thể tiết lộ các thông tin có được trong quá trình hòa giải, chẳng hạn như: Người cung cấp thông tin đồng ý cho tiết lộ; khi có căn cứ hợp lý để tin rằng việc tiết lộ thông tin là cần thiết để ngăn chặn hoặc giảm thiểu nguy cơ xảy ra thiệt hại đối với người hoặc tài sản; khi việc tiết lộ thông tin không nêu rõ danh tính của một người, mà không có sự đồng ý của người đó và việc tiết lộ là cần thiết vì mục đích thu thập thông tin do Giám đốc Trung tâm tiến hành, hoặc cho phép tiến hành; khi có lệnh của Tòa án hoặc quy định của luật thành văn yêu cầu tiết lộ thông tin…(11)

5.2. Bộ Quy tắc đạo đức và các nguyên tắc cơ bản về hòa giải tại Tòa án năm 2010

Bộ Quy tắc này áp dụng cho mọi hoạt động hòa giải được tiến hành tại các tòa án cấp dưới, bao gồm hòa giải do cán bộ tòa án tiến hành tại Trung tâm Giải quyết tranh chấp tòa án (PDRC), Trung tâm Giải quyết tranh chấp gia đình (FRC), hòa giải do nhân viên tòa án tiến hành tại các Ban Hòa giải tranh chấp về cấp dưỡng cho cha mẹ (MMC) và tại Tòa án xử vụ việc nhỏ, cũng như hòa giải do các hòa giải viên tình nguyện tiến hành tại các Tòa án cấp dưới.

Các quy tắc đạo đức cơ bản đối với hòa giải viên bao gồm: Hành động với thiện chí, bảo đảm sự trung lập, vô tư, bảo mật thông tin trong hòa giải, tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên. Ví dụ, hòa giải viên có thể thuyết phục các bên, nhưng không được chỉ đạo, ép buộc các bên thay đổi quyết định của họ, kể cả khi hòa giải viên cho rằng quyết định đó là sai lầm hoặc không có lợi. Hòa giải viên có nhiệm vụ thúc đẩy việc hình thành giải pháp cho tranh chấp và luôn duy trì không khí buổi hòa giải mang tính đối thoại và xây dựng. Hòa giải viên có quyền chấm dứt quy trình hòa giải nếu có căn cứ cho rằng, một bên tranh chấp đang lạm dụng quy trình hòa giải, chẳng hạn như cố ý trì hoãn kéo dài, giành lợi thế một cách không công bằng, hoặc theo đuổi một mục đích bất hợp pháp(12).

5.3. Thông luật (common law)

Ngoài các văn bản pháp luật chủ yếu trên đây, Singapore không có một đạo luật quy định toàn diện về hòa giải. Vì vậy, Tòa án phải dựa vào các quy tắc của thông luật (common law), tức là dựa vào án lệ, để xác định những vấn đề pháp lý về hòa giải (như hiệu lực của điều khoản về hòa giải trong hợp đồng, chế tài do vi phạm điều khoản hòa giải, hiệu lực thi hành của thỏa thuận hòa giải, bảo mật thông tin trong hòa giải)(13)

Nguyễn Bích Thảo

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: