Thứ sáu 03/04/2026 19:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thủ tục khai tử ở Việt Nam - Thực trạng và khuyến nghị

Bài viết này nghiên cứu các quy định pháp luật về thủ tục khai tử, đồng thời phân tích thực trạng thực hiện thủ tục khai tử ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất hướng hoàn thiện liên quan đến vấn đề này trong thời gian tới.

Tóm tắt: Bài viết này nghiên cứu các quy định pháp luật về thủ tục khai tử, đồng thời phân tích thực trạng thực hiện thủ tục khai tử ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất hướng hoàn thiện liên quan đến vấn đề này trong thời gian tới.

Abstract: This article studies the legal provisions on the death declaration procedure, and analyzes the current status of carrying out the death declaration procedure in Vietnam, thereby making improvement direction for this issue in the next time.

1. Một số vấn đề về khai tử và thủ tục khai tử theo pháp luật Việt Nam
1.1. Khai tử
“Khai tử” được đề cập trong khoản 2, 3 Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cá nhân chết phải được khai tử. Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu”. Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái niệm khai tử mà khai tử chỉ được nhắc đến trong điểm e khoản 2 Điều 3 là một sự kiện hộ tịch phải xác nhận vào sổ hộ tịch.
Theo Từ điển Tiếng Việt, khai tử là quy định pháp lý bắt buộc lúc có một người chết phải khai báo ngay với bộ phận hộ tịch của chính quyền địa phương để xin giấy chứng nhận tử vong và giấy phép chôn cất. Mục đích của thủ tục khai tử là để quản lý tình hình hộ tịch, nhân khẩu của địa phương, là việc cần thiết trong công tác dân số, quản lý nhà nước, phát triển kinh tế…
Như vậy, khai tử có thể hiểu là một sự kiện hộ tịch được ghi nhận vào sổ hộ tịch xác định sự kiện một cá nhân chết, trừ trường hợp trẻ sinh ra và chết trong vòng 24 giờ sau khi sinh thì không bắt buộc khai sinh và khai tử.
1.2. Thủ tục đăng ký khai tử
- Thủ tục đăng ký khai tử: (i) Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch; (ii) Ngay sau khi nhận giấy tờ hợp lệ, nếu thấy việc khai tử đúng thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai tử vào sổ hộ tịch, người đi khai tử ký tên vào sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người đi khai tử; (iii) Công chức tư pháp - hộ tịch khóa thông tin hộ tịch của người chết trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử[1].
Các loại giấy tờ phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch bao gồm: (i) Tờ khai theo mẫu quy định; (ii) Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay cho giấy báo tử; (iii) Chứng minh nhân dân/Hộ chiếu/Căn cước công dân hoặc giấy tờ khác chứng minh nhân thân của người đăng ký khai tử; (iv) Giấy tờ chứng minh nơi cư trú cuối cùng của người chết, nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì giấy tờ chứng minh nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người đó.
- Giấy báo tử: Giấy báo tử hay giấy chứng tử là một tài liệu pháp lý quan trọng do một người hành nghề y tế cấp, trong đó nêu rõ thời điểm một người chết, tuyên bố ngày, tháng, địa điểm và nguyên nhân cái chết của một người. Người hành nghề y tế phải chịu trách nhiệm chuyên môn để bảo đảm việc hoàn thành chính xác giấy báo tử[2]. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Giấy báo tử phải do thầy thuốc của cơ quan y tế địa phương cấp sau khi khám xác kỹ lưỡng để xác định chết, thời gian chết, nguyên nhân chết”. Theo hai quan điểm trên thì giấy báo tử nhất thiết phải do người hành nghề y tế cấp và người cấp phải chịu trách nhiệm chuyên môn cho việc xác định một người là đã chết và nguyên nhân chết của người đó.
Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái niệm về giấy báo tử. Trong thủ tục khai tử, giấy báo tử có thể được thay thế bằng các loại giấy tờ khác do nhiều cơ quan có thẩm quyền cấp, bao gồm: (i) Giấy báo tử do Thủ trưởng cơ quan y tế cấp đối với người chết tại cơ sở y tế; (ii) Giấy xác nhận việc thi hành án tử hình của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình; (iii) Quyết định tuyên bố một người là đã chết của Tòa án; (iv) Văn bản xác nhận của cơ quan công an hoặc Kết quả giám định của cơ quan giám định pháp y; (v) Giấy báo tử do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết cấp trong các trường hợp còn lại.
Trong trường hợp người chết không chết tại cơ sở y tế, bị thi hành án tử hình, bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố một người là đã chết hoặc chết trên phương tiện giao thông, chết do tai nạn, bị giết, chết đột ngột hoặc chết có nghi vấn sẽ có hai điểm chưa thực sự hợp lý: (i) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết vừa có thẩm quyền cấp giấy báo tử, vừa có thẩm quyền cấp khai tử; (ii) Người có thẩm quyền cấp giấy báo tử không có chuyên môn y khoa,vì vậy, không thể có một bằng chứng khoa học nào về nguyên nhân cái chết của người chết cũng như xác định người chết là ai, có thực sự là người được khai tử không.
2. Thực trạng thực hiện thủ tục khai tử ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, không khai tử cho người chết.
Hiện nay, tại địa bàn một số tỉnh, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, đa số người dân thường chết tại gia đình - là nơi cư trú cuối cùng của người chết. Qua công tác thanh tra, kiểm tra vào báo cáo số liệu hàng năm về việc đăng ký khai tử cho thấy, số liệu đăng ký khai tử chiếm tỷ lệ rất thấp so với số người chết. Nguyên nhân một phần là do quan niệm của một số người đăng ký khai tử đối với người chết là không cần thiết và phải thực hiện thủ tục hành chính rườm rà[3].
Thứ hai, khai tử cho người còn sống nhằm trục lợi.
Trên thực tế, có nhiều trường hợp người thân thích khai tử cho người thân còn sống để trục lợi. Một số vụ việc điển hình như:
- Vụ con dâu khai tử cho cha mẹ chồng còn sống để hưởng thừa kế: Năm 1998, cụ H (90 tuổi) cho con trai cả là T mảnh đất rộng hơn 180 m2, nhưng chưa làm thủ tục tặng cho chính thức. Năm 2005, sau khi ông T qua đời, vợ ông là bà V, cũng là con dâu của vợ chồng cụ H đã đến một Phòng Công chứng trên địa bàn để thực hiện thủ tục kê khai di sản thừa kế. Bà V chỉ kê khai tên mình và hai người con gái thuộc diện thừa kế tài sản của chồng, còn cha mẹ chồng là vợ chồng cụ H thì bà lại khai là đã chết. Có kèm theo giấy khai tử do chính quyền địa phương cấp. Năm 2015, con gái bà V gặp vợ chồng cụ H, kể về việc mẹ mình đã bán và sang tên thửa đất cho người khác. Lúc này, vợ chồng cụ H mới biết mình bị “khai tử” từ 10 năm trước[4].
- Vụ mẹ ruột khai tử cho con trai 3 tuổi còn sống để không cho chồng cũ thăm nom con: Ngày 11/5/2022, bà P đến Ủy ban nhân dân phường nơi cư trú làm thủ tục khai tử cho cháu L (sinh năm 2019) là con trai bà P. Tại Ủy ban nhân dân phường, bà P khai cháu L bị viêm phổi và mất vào 18 giờ 30 phút ngày 04/5/2022 và chết tại nhà. Ông N, người ký giấy khai tử cho cháu L cho biết, khi đến phường làm giấy khai tử cho con trai, bà P có mang theo các giấy tờ tùy thân. Tại phường, bà P khóc lóc, mặt lộ rõ vẻ đau buồn và có ký cam kết khai đúng sự thật. Lý do người mẹ này đăng ký khai tử cho con vì không muốn chồng cũ đến thăm con, bởi hai người dù đã ly hôn nhưng vẫn xảy ra mâu thuẫn[5]. Trong trường hợp này, cán bộ phường đã không xác minh và cũng không có chuyên môn về y khoa mà vẫn ký giấy khai tử thông qua biểu lộ cảm xúc của bà P.
- Trường hợp khai tử cho người còn sống để nhận tiền tuất, phí mai táng: Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm trở lên chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần; người đang hưởng lương hưu; người lao động chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; người hưởng trợ cấp tai nạn lao động, tai nạn nghề nghiệp hàng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên... khi chết thì thân nhân được hưởng chế độ tử tuất hàng tháng. Trong trường hợp không còn thân nhân hưởng trợ cấp hàng tháng thì được hưởng chế độ tử tuất một lần. Từ đây, nhiều người đã khai tử cho người thân của mình để trục lợi tiền tuất một lần[6],[7].
Thứ ba, nguy cơ bỏ lọt tội phạm khi khai tử cho người chết tại nhà.
Năm 2012, bà L thua lô, đề với số tiền lớn, bà bàn với chồng là anh C bán nhà để trả nợ nhưng chồng không đồng ý. Bà L mua thuốc trừ sâu tiêm vào người chồng đến chết, rồi loan tin chồng bị đột quỵ. Gia đình vội vàng tiến hành tang lễ và đưa thi thể người chồng an táng. Do nghi ngờ về cái chết đột ngột của anh C (anh C là cảnh sát giao thông), đồng nghiệp của anh yêu cầu cơ quan điều tra giám định pháp y[8]. Giả thiết trong trường hợp này, đồng nghiệp của anh C không có sự “nhạy bén” về chuyên môn, nghiệp vụ thì cái chết anh C đã được khai tử một cách dễ dàng với nguyên nhân đột quỵ và chết tại nhà.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về khai tử ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống thông tin quốc gia về cá nhân, xây dựng và triển khai kho dữ liệu mở và tiến hành khai tử điện tử.
Tiếp tục triển khai hiệu quả hơn nữa Đề án “phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” nhằm ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử, thẻ Căn cước công dân, để phục vụ 05 nhóm tiện ích tập trung vào giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến; phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; hoàn thiện hệ sinh thái Chính phủ số; phục vụ chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp và phục vụ công dân số. Đề án này giúp tinh gọn các thủ tục hành chính và áp dụng thống nhất trong toàn quốc, trong đó có thủ tục khai tử.
Thứ hai, giấy báo tử phải do người có chuyên môn y khoa cấp trong trường hợp chết tại nhà.
Quy định chặt chẽ ở khâu cấp giấy báo tử là giải pháp để khắc phục trường hợp khai tử cho người còn sống nhằm trục lợi hay khai tử cho người thân chết “bất thường” thành nguyên nhân chết “tự nhiên” tại nhà để qua mặt cơ quan chức năng. Mấu chốt trong thủ tục cấp giấy báo là thẩm quyền cấp giấy báo tử phải thuộc về người có chuyên môn y khoa. Thực trạng hiện nay cho thấy, việc không xác minh thông tin về sự kiện chết và nguyên nhân chết mà cấp giấy báo tử dựa trên niềm tin đã gây ra nhiều hệ lụy xã hội như đã phân tích ở phần trên. Trường hợp, Ủy ban nhân dân có xác minh thì cũng chưa đủ chuyên môn y khoa để xác định nguyên nhân chết của người được khai tử là “bình thường” hay “bất thường”.
Về vấn đề này, có thể tham khảo pháp luật của Úc, theo đó, việc đăng ký tất cả các trường hợp tử vong là bắt buộc. Đạo luật Đăng ký khai sinh, khai tử và kết hôn yêu cầu một người, thường là Giám đốc nhà tang lễ, phải thông báo cho Cơ quan đăng ký khai sinh, tử và kết hôn trong vòng 14 ngày, kể từ ngày cử hành tang lễ. Bác sỹ chịu trách nhiệm chăm sóc y tế cho một người trước khi chết hoặc người khám cho người chết sau khi chết, phải điền đầy đủ và ký vào giấy chứng nhận nguyên nhân tử vong. Giấy chứng nhận này phải được cấp trong vòng 48 giờ sau khi người đó qua đời và được trao cho Giám đốc nhà tang lễ hoặc những người sắp xếp dịch vụ tang lễ. Bác sỹ không bắt buộc phải cung cấp thông báo này về nguyên nhân tử vong trong các trường hợp mà cái chết được báo cáo cho nhân viên điều tra của bang.
Trong hầu hết các trường hợp, Giám đốc nhà tang lễ thay mặt gia đình hoặc những người đại diện cho người chết thay mặt gia đình hoặc những người đại diện cho người chết tại thời điểm đăng ký khai tử cấp giấy chứng tử. Sau khi đăng ký, Cơ quan đăng ký khai sinh, tử và kết hôn sẽ gửi giấy chứng tử cho Giám đốc nhà tang lễ để chuyển tiếp. Bất cứ lúc nào sau khi cái chết được đăng ký, người nộp đơn đủ điều kiện có thể nộp đơn trực tiếp cho Cơ quan đăng ký khai sinh, tử và kết hôn hoặc Tòa án gần nhất để được cấp giấy chứng tử[9].
Như vậy, thủ tục khai tử ở Úc đòi hỏi người cấp giấy chứng tử nhất thiết phải có chuyên môn y khoa và phải chịu trách nhiệm cho quyết định cấp giấy chứng tử của mình trước pháp luật. Quan điểm của nhà làm luật xem khai tử là một thủ tục hộ tịch quan trọng. Vì vậy, bất chấp thủ tục rườm rà cũng phải thực hiện đầy đủ và quan trọng, nhất là khâu cấp giấy chứng tử.
Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi quy định về cấp giấy báo tử cho người chết theo hướng, nếu người chết không chết tại cơ sở y tế, bị thi hành án tử hình, bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố một người là đã chết hoặc chết trên phương tiện giao thông, chết do tai nạn, bị giết, chết đột ngột hoặc chết có nghi vấn thì giấy báo tử phải do bác sỹ cấp.
Thứ ba, bổ sung trường hợp xử phạt vi phạm hành chính do không khai tử cho người thân trong thời hạn quy định mà không cần mục đích trục lợi.
Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hộ tịch năm 2014, khai tử là trách nhiệm của người thân thích hoặc đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan (trường hợp không có người thân thích). Tuy nhiên, chỉ khi nào khai tử cho người còn sống, không khai tử cho người chết để trục lợi mới bị xử phạt vi phạm hành chính. Theo Điều 41 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (Nghị định số 82/2020/NĐ-CP) thì chỉ những hành vi sau đây mới bị coi là vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm về đăng ký khai tử: (i) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký khai tử. (ii) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a. Làm chứng sai sự thật cho người khác để đăng ký khai tử; b. Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được đăng ký khai tử. (iii) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a. Làm thủ tục đăng ký khai tử cho người đang sống; b. Không làm thủ tục đăng ký khai tử cho người đã chết để trục lợi; c. Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật khi làm thủ tục đăng ký khai tử để trục lợi.
Như vậy, có thể thấy, đối với trường hợp không khai tử cho người chết mà không có mục đích trục lợi đang thiếu chế tài. Vì vậy, tác giả kiến nghị bổ sung chế tài hành chính đối với hành vi không khai tử cho người chết khi hết hạn quy định theo hướng, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày một người chết, người có nghĩa vụ khai tử cho người chết được quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hộ tịch năm 2014 có trách nhiệm khai tử cho người chết. Nếu không khai tử thì bị xử phạt vi phạm hành chính từ 1.000.000 đến 3.000.000 đồng (khoản 1 Điều 41 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP).

ThS. Hồ Thị Thanh Trúc
Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing



[1]. Điều 51 Luật Hộ tịch năm 2014.
[2]. Sara Bird (2011), How to complete a death certifcate, Australian family Physician Vol.40, no.6, June 2021, Page.449, nguồn: https://www.racgp.org.au/getattachment/42ea840e-ce92-4ee7-8ae6-dd615a4acd3d/How-to-complete-a-death-certificate.aspx, truy cập ngày 28/7/2022.
[3]. Bộ Tư pháp (2016), Thủ tục khai tử cho công dân Việt Nam chết tại gia đình là nơi cư trú cuối cùng, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2027, truy cập ngày 30/7/2022.
[4]. Hữu Thiện (2022), Con dâu đi khai tử bố mẹ chồng còn sống, https://kenh14.vn/ha-noi-con-dau-noi-ve-nguon-con-di-khai-tu-bo-me-chong-du-ho-dang-con-song-20220114144832893.chn, truy cập ngày 28/7/2022.
[5]. Bình Minh (2022), Vụ người mẹ khai tử cho con 3 tuổi còn sống, https://www.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/vu-me-khai-tu-con-3-tuoi-du-van-con-song-co-nen-giao-con-cho-nguoi-cha-cham-soc-c46a1362691.html, truy cập ngày 28/7/2022.
[6]. Thành An (2014), Khai tử cha mẹ để nhận tuất một cục, https://tuoitre.vn/khai-tu-cha-me-de-nhan-tuat-mot-cuc-602021.htm, truy cập ngày 28/7/2022.
[7]. Báo Pháp luật (2013), Khai tử cho người sống để trục lợi tiền mai táng phí, https://suckhoedoisong.vn/khai-tu-nguoi-song-de-truc-loi-tien-mai-tang-phi-16960010.htm, truy cập ngày 28/7/2022.
[8]. Đàm Đệ (2012), Vợ trung tá cảnh sát giao thông giết chồng tàn ác như thế nào?, https://vietnamnet.vn/vo-trung-ta-csgt-giet-chong-tan-ac-the-nao-64247.html, truy cập ngày 28/7/2022.
[9]. Apply for a death certificate, https://www.wa.gov.au/service/justice/civil-law/apply-death-certificate#: ~:text=This%20certificate%20must%20be%20issued,reported%20to%20the%20State%20Coroner, ngày truy cập 22/8/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.

Theo dõi chúng tôi trên: