Thứ hai 01/06/2026 17:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thủ tục khai tử ở Việt Nam - Thực trạng và khuyến nghị

Bài viết này nghiên cứu các quy định pháp luật về thủ tục khai tử, đồng thời phân tích thực trạng thực hiện thủ tục khai tử ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất hướng hoàn thiện liên quan đến vấn đề này trong thời gian tới.

Tóm tắt: Bài viết này nghiên cứu các quy định pháp luật về thủ tục khai tử, đồng thời phân tích thực trạng thực hiện thủ tục khai tử ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất hướng hoàn thiện liên quan đến vấn đề này trong thời gian tới.

Abstract: This article studies the legal provisions on the death declaration procedure, and analyzes the current status of carrying out the death declaration procedure in Vietnam, thereby making improvement direction for this issue in the next time.

1. Một số vấn đề về khai tử và thủ tục khai tử theo pháp luật Việt Nam
1.1. Khai tử
“Khai tử” được đề cập trong khoản 2, 3 Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cá nhân chết phải được khai tử. Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu”. Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái niệm khai tử mà khai tử chỉ được nhắc đến trong điểm e khoản 2 Điều 3 là một sự kiện hộ tịch phải xác nhận vào sổ hộ tịch.
Theo Từ điển Tiếng Việt, khai tử là quy định pháp lý bắt buộc lúc có một người chết phải khai báo ngay với bộ phận hộ tịch của chính quyền địa phương để xin giấy chứng nhận tử vong và giấy phép chôn cất. Mục đích của thủ tục khai tử là để quản lý tình hình hộ tịch, nhân khẩu của địa phương, là việc cần thiết trong công tác dân số, quản lý nhà nước, phát triển kinh tế…
Như vậy, khai tử có thể hiểu là một sự kiện hộ tịch được ghi nhận vào sổ hộ tịch xác định sự kiện một cá nhân chết, trừ trường hợp trẻ sinh ra và chết trong vòng 24 giờ sau khi sinh thì không bắt buộc khai sinh và khai tử.
1.2. Thủ tục đăng ký khai tử
- Thủ tục đăng ký khai tử: (i) Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch; (ii) Ngay sau khi nhận giấy tờ hợp lệ, nếu thấy việc khai tử đúng thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai tử vào sổ hộ tịch, người đi khai tử ký tên vào sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người đi khai tử; (iii) Công chức tư pháp - hộ tịch khóa thông tin hộ tịch của người chết trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử[1].
Các loại giấy tờ phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch bao gồm: (i) Tờ khai theo mẫu quy định; (ii) Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay cho giấy báo tử; (iii) Chứng minh nhân dân/Hộ chiếu/Căn cước công dân hoặc giấy tờ khác chứng minh nhân thân của người đăng ký khai tử; (iv) Giấy tờ chứng minh nơi cư trú cuối cùng của người chết, nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì giấy tờ chứng minh nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người đó.
- Giấy báo tử: Giấy báo tử hay giấy chứng tử là một tài liệu pháp lý quan trọng do một người hành nghề y tế cấp, trong đó nêu rõ thời điểm một người chết, tuyên bố ngày, tháng, địa điểm và nguyên nhân cái chết của một người. Người hành nghề y tế phải chịu trách nhiệm chuyên môn để bảo đảm việc hoàn thành chính xác giấy báo tử[2]. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Giấy báo tử phải do thầy thuốc của cơ quan y tế địa phương cấp sau khi khám xác kỹ lưỡng để xác định chết, thời gian chết, nguyên nhân chết”. Theo hai quan điểm trên thì giấy báo tử nhất thiết phải do người hành nghề y tế cấp và người cấp phải chịu trách nhiệm chuyên môn cho việc xác định một người là đã chết và nguyên nhân chết của người đó.
Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái niệm về giấy báo tử. Trong thủ tục khai tử, giấy báo tử có thể được thay thế bằng các loại giấy tờ khác do nhiều cơ quan có thẩm quyền cấp, bao gồm: (i) Giấy báo tử do Thủ trưởng cơ quan y tế cấp đối với người chết tại cơ sở y tế; (ii) Giấy xác nhận việc thi hành án tử hình của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình; (iii) Quyết định tuyên bố một người là đã chết của Tòa án; (iv) Văn bản xác nhận của cơ quan công an hoặc Kết quả giám định của cơ quan giám định pháp y; (v) Giấy báo tử do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết cấp trong các trường hợp còn lại.
Trong trường hợp người chết không chết tại cơ sở y tế, bị thi hành án tử hình, bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố một người là đã chết hoặc chết trên phương tiện giao thông, chết do tai nạn, bị giết, chết đột ngột hoặc chết có nghi vấn sẽ có hai điểm chưa thực sự hợp lý: (i) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết vừa có thẩm quyền cấp giấy báo tử, vừa có thẩm quyền cấp khai tử; (ii) Người có thẩm quyền cấp giấy báo tử không có chuyên môn y khoa,vì vậy, không thể có một bằng chứng khoa học nào về nguyên nhân cái chết của người chết cũng như xác định người chết là ai, có thực sự là người được khai tử không.
2. Thực trạng thực hiện thủ tục khai tử ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, không khai tử cho người chết.
Hiện nay, tại địa bàn một số tỉnh, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, đa số người dân thường chết tại gia đình - là nơi cư trú cuối cùng của người chết. Qua công tác thanh tra, kiểm tra vào báo cáo số liệu hàng năm về việc đăng ký khai tử cho thấy, số liệu đăng ký khai tử chiếm tỷ lệ rất thấp so với số người chết. Nguyên nhân một phần là do quan niệm của một số người đăng ký khai tử đối với người chết là không cần thiết và phải thực hiện thủ tục hành chính rườm rà[3].
Thứ hai, khai tử cho người còn sống nhằm trục lợi.
Trên thực tế, có nhiều trường hợp người thân thích khai tử cho người thân còn sống để trục lợi. Một số vụ việc điển hình như:
- Vụ con dâu khai tử cho cha mẹ chồng còn sống để hưởng thừa kế: Năm 1998, cụ H (90 tuổi) cho con trai cả là T mảnh đất rộng hơn 180 m2, nhưng chưa làm thủ tục tặng cho chính thức. Năm 2005, sau khi ông T qua đời, vợ ông là bà V, cũng là con dâu của vợ chồng cụ H đã đến một Phòng Công chứng trên địa bàn để thực hiện thủ tục kê khai di sản thừa kế. Bà V chỉ kê khai tên mình và hai người con gái thuộc diện thừa kế tài sản của chồng, còn cha mẹ chồng là vợ chồng cụ H thì bà lại khai là đã chết. Có kèm theo giấy khai tử do chính quyền địa phương cấp. Năm 2015, con gái bà V gặp vợ chồng cụ H, kể về việc mẹ mình đã bán và sang tên thửa đất cho người khác. Lúc này, vợ chồng cụ H mới biết mình bị “khai tử” từ 10 năm trước[4].
- Vụ mẹ ruột khai tử cho con trai 3 tuổi còn sống để không cho chồng cũ thăm nom con: Ngày 11/5/2022, bà P đến Ủy ban nhân dân phường nơi cư trú làm thủ tục khai tử cho cháu L (sinh năm 2019) là con trai bà P. Tại Ủy ban nhân dân phường, bà P khai cháu L bị viêm phổi và mất vào 18 giờ 30 phút ngày 04/5/2022 và chết tại nhà. Ông N, người ký giấy khai tử cho cháu L cho biết, khi đến phường làm giấy khai tử cho con trai, bà P có mang theo các giấy tờ tùy thân. Tại phường, bà P khóc lóc, mặt lộ rõ vẻ đau buồn và có ký cam kết khai đúng sự thật. Lý do người mẹ này đăng ký khai tử cho con vì không muốn chồng cũ đến thăm con, bởi hai người dù đã ly hôn nhưng vẫn xảy ra mâu thuẫn[5]. Trong trường hợp này, cán bộ phường đã không xác minh và cũng không có chuyên môn về y khoa mà vẫn ký giấy khai tử thông qua biểu lộ cảm xúc của bà P.
- Trường hợp khai tử cho người còn sống để nhận tiền tuất, phí mai táng: Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm trở lên chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần; người đang hưởng lương hưu; người lao động chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; người hưởng trợ cấp tai nạn lao động, tai nạn nghề nghiệp hàng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên... khi chết thì thân nhân được hưởng chế độ tử tuất hàng tháng. Trong trường hợp không còn thân nhân hưởng trợ cấp hàng tháng thì được hưởng chế độ tử tuất một lần. Từ đây, nhiều người đã khai tử cho người thân của mình để trục lợi tiền tuất một lần[6],[7].
Thứ ba, nguy cơ bỏ lọt tội phạm khi khai tử cho người chết tại nhà.
Năm 2012, bà L thua lô, đề với số tiền lớn, bà bàn với chồng là anh C bán nhà để trả nợ nhưng chồng không đồng ý. Bà L mua thuốc trừ sâu tiêm vào người chồng đến chết, rồi loan tin chồng bị đột quỵ. Gia đình vội vàng tiến hành tang lễ và đưa thi thể người chồng an táng. Do nghi ngờ về cái chết đột ngột của anh C (anh C là cảnh sát giao thông), đồng nghiệp của anh yêu cầu cơ quan điều tra giám định pháp y[8]. Giả thiết trong trường hợp này, đồng nghiệp của anh C không có sự “nhạy bén” về chuyên môn, nghiệp vụ thì cái chết anh C đã được khai tử một cách dễ dàng với nguyên nhân đột quỵ và chết tại nhà.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về khai tử ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống thông tin quốc gia về cá nhân, xây dựng và triển khai kho dữ liệu mở và tiến hành khai tử điện tử.
Tiếp tục triển khai hiệu quả hơn nữa Đề án “phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” nhằm ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử, thẻ Căn cước công dân, để phục vụ 05 nhóm tiện ích tập trung vào giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến; phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; hoàn thiện hệ sinh thái Chính phủ số; phục vụ chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp và phục vụ công dân số. Đề án này giúp tinh gọn các thủ tục hành chính và áp dụng thống nhất trong toàn quốc, trong đó có thủ tục khai tử.
Thứ hai, giấy báo tử phải do người có chuyên môn y khoa cấp trong trường hợp chết tại nhà.
Quy định chặt chẽ ở khâu cấp giấy báo tử là giải pháp để khắc phục trường hợp khai tử cho người còn sống nhằm trục lợi hay khai tử cho người thân chết “bất thường” thành nguyên nhân chết “tự nhiên” tại nhà để qua mặt cơ quan chức năng. Mấu chốt trong thủ tục cấp giấy báo là thẩm quyền cấp giấy báo tử phải thuộc về người có chuyên môn y khoa. Thực trạng hiện nay cho thấy, việc không xác minh thông tin về sự kiện chết và nguyên nhân chết mà cấp giấy báo tử dựa trên niềm tin đã gây ra nhiều hệ lụy xã hội như đã phân tích ở phần trên. Trường hợp, Ủy ban nhân dân có xác minh thì cũng chưa đủ chuyên môn y khoa để xác định nguyên nhân chết của người được khai tử là “bình thường” hay “bất thường”.
Về vấn đề này, có thể tham khảo pháp luật của Úc, theo đó, việc đăng ký tất cả các trường hợp tử vong là bắt buộc. Đạo luật Đăng ký khai sinh, khai tử và kết hôn yêu cầu một người, thường là Giám đốc nhà tang lễ, phải thông báo cho Cơ quan đăng ký khai sinh, tử và kết hôn trong vòng 14 ngày, kể từ ngày cử hành tang lễ. Bác sỹ chịu trách nhiệm chăm sóc y tế cho một người trước khi chết hoặc người khám cho người chết sau khi chết, phải điền đầy đủ và ký vào giấy chứng nhận nguyên nhân tử vong. Giấy chứng nhận này phải được cấp trong vòng 48 giờ sau khi người đó qua đời và được trao cho Giám đốc nhà tang lễ hoặc những người sắp xếp dịch vụ tang lễ. Bác sỹ không bắt buộc phải cung cấp thông báo này về nguyên nhân tử vong trong các trường hợp mà cái chết được báo cáo cho nhân viên điều tra của bang.
Trong hầu hết các trường hợp, Giám đốc nhà tang lễ thay mặt gia đình hoặc những người đại diện cho người chết thay mặt gia đình hoặc những người đại diện cho người chết tại thời điểm đăng ký khai tử cấp giấy chứng tử. Sau khi đăng ký, Cơ quan đăng ký khai sinh, tử và kết hôn sẽ gửi giấy chứng tử cho Giám đốc nhà tang lễ để chuyển tiếp. Bất cứ lúc nào sau khi cái chết được đăng ký, người nộp đơn đủ điều kiện có thể nộp đơn trực tiếp cho Cơ quan đăng ký khai sinh, tử và kết hôn hoặc Tòa án gần nhất để được cấp giấy chứng tử[9].
Như vậy, thủ tục khai tử ở Úc đòi hỏi người cấp giấy chứng tử nhất thiết phải có chuyên môn y khoa và phải chịu trách nhiệm cho quyết định cấp giấy chứng tử của mình trước pháp luật. Quan điểm của nhà làm luật xem khai tử là một thủ tục hộ tịch quan trọng. Vì vậy, bất chấp thủ tục rườm rà cũng phải thực hiện đầy đủ và quan trọng, nhất là khâu cấp giấy chứng tử.
Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi quy định về cấp giấy báo tử cho người chết theo hướng, nếu người chết không chết tại cơ sở y tế, bị thi hành án tử hình, bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố một người là đã chết hoặc chết trên phương tiện giao thông, chết do tai nạn, bị giết, chết đột ngột hoặc chết có nghi vấn thì giấy báo tử phải do bác sỹ cấp.
Thứ ba, bổ sung trường hợp xử phạt vi phạm hành chính do không khai tử cho người thân trong thời hạn quy định mà không cần mục đích trục lợi.
Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hộ tịch năm 2014, khai tử là trách nhiệm của người thân thích hoặc đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan (trường hợp không có người thân thích). Tuy nhiên, chỉ khi nào khai tử cho người còn sống, không khai tử cho người chết để trục lợi mới bị xử phạt vi phạm hành chính. Theo Điều 41 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (Nghị định số 82/2020/NĐ-CP) thì chỉ những hành vi sau đây mới bị coi là vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm về đăng ký khai tử: (i) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký khai tử. (ii) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a. Làm chứng sai sự thật cho người khác để đăng ký khai tử; b. Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được đăng ký khai tử. (iii) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a. Làm thủ tục đăng ký khai tử cho người đang sống; b. Không làm thủ tục đăng ký khai tử cho người đã chết để trục lợi; c. Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật khi làm thủ tục đăng ký khai tử để trục lợi.
Như vậy, có thể thấy, đối với trường hợp không khai tử cho người chết mà không có mục đích trục lợi đang thiếu chế tài. Vì vậy, tác giả kiến nghị bổ sung chế tài hành chính đối với hành vi không khai tử cho người chết khi hết hạn quy định theo hướng, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày một người chết, người có nghĩa vụ khai tử cho người chết được quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hộ tịch năm 2014 có trách nhiệm khai tử cho người chết. Nếu không khai tử thì bị xử phạt vi phạm hành chính từ 1.000.000 đến 3.000.000 đồng (khoản 1 Điều 41 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP).

ThS. Hồ Thị Thanh Trúc
Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing



[1]. Điều 51 Luật Hộ tịch năm 2014.
[2]. Sara Bird (2011), How to complete a death certifcate, Australian family Physician Vol.40, no.6, June 2021, Page.449, nguồn: https://www.racgp.org.au/getattachment/42ea840e-ce92-4ee7-8ae6-dd615a4acd3d/How-to-complete-a-death-certificate.aspx, truy cập ngày 28/7/2022.
[3]. Bộ Tư pháp (2016), Thủ tục khai tử cho công dân Việt Nam chết tại gia đình là nơi cư trú cuối cùng, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2027, truy cập ngày 30/7/2022.
[4]. Hữu Thiện (2022), Con dâu đi khai tử bố mẹ chồng còn sống, https://kenh14.vn/ha-noi-con-dau-noi-ve-nguon-con-di-khai-tu-bo-me-chong-du-ho-dang-con-song-20220114144832893.chn, truy cập ngày 28/7/2022.
[5]. Bình Minh (2022), Vụ người mẹ khai tử cho con 3 tuổi còn sống, https://www.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/vu-me-khai-tu-con-3-tuoi-du-van-con-song-co-nen-giao-con-cho-nguoi-cha-cham-soc-c46a1362691.html, truy cập ngày 28/7/2022.
[6]. Thành An (2014), Khai tử cha mẹ để nhận tuất một cục, https://tuoitre.vn/khai-tu-cha-me-de-nhan-tuat-mot-cuc-602021.htm, truy cập ngày 28/7/2022.
[7]. Báo Pháp luật (2013), Khai tử cho người sống để trục lợi tiền mai táng phí, https://suckhoedoisong.vn/khai-tu-nguoi-song-de-truc-loi-tien-mai-tang-phi-16960010.htm, truy cập ngày 28/7/2022.
[8]. Đàm Đệ (2012), Vợ trung tá cảnh sát giao thông giết chồng tàn ác như thế nào?, https://vietnamnet.vn/vo-trung-ta-csgt-giet-chong-tan-ac-the-nao-64247.html, truy cập ngày 28/7/2022.
[9]. Apply for a death certificate, https://www.wa.gov.au/service/justice/civil-law/apply-death-certificate#: ~:text=This%20certificate%20must%20be%20issued,reported%20to%20the%20State%20Coroner, ngày truy cập 22/8/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: