Thứ ba 10/03/2026 01:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bằng biện pháp hành chính và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là một quyền sở hữu đối với tài sản vô hình, do vậy việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản này bằng biện pháp hành chính cùng với các biện pháp hình sự, dân sự có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ trật tự xã hội, trật tự kinh doanh, xử lý người vi phạm và bảo vệ chủ văn bằng, bảo vệ người tiêu dùng.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là một quyền sở hữu đối với tài sản vô hình, do vậy việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản này bằng biện pháp hành chính cùng với các biện pháp hình sự, dân sự có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ trật tự xã hội, trật tự kinh doanh, xử lý người vi phạm và bảo vệ chủ văn bằng, bảo vệ người tiêu dùng. Trong các vụ việc bị phát hiện, đa số được xử lý bằng biện pháp hành chính. Tuy nhiên, trong thời gian qua tình trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu diễn ra ngày càng phức tạp, quy mô lớn, số lượng nhiều đã ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tế - xã hội. Điều đó chứng tỏ biện pháp hành chính chưa phát huy được hết chức năng của mình trong việc răn đe, phòng ngừa người vi phạm, mà nguyên nhân là do còn nhiều vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng các quy định của pháp luật hành chính trong việc xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Bài viết này chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật hành chính, đồng thời đưa ra một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bằng pháp luật.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là một quyền tài sản được Nhà nước bảo hộ[1] và đây là một loại tài sản vô hình. Trong nền kinh tế thị trường, nhãn hiệu này có giá trị to lớn đối với doanh nghiệp và trong một số doanh nghiệp thì giá trị nhãn hiệu của doanh nghiệp thậm trí còn lớn hơn rất nhiều so với tài sản hữu hình của doanh nghiệp hiện có. Năm 2014, nhãn hiệu Apple được định giá khoảng 118,8 tỷ đô la, là nhãn hiệu đứng đầu trong những nhãn hiệu đắt giá nhất toàn cầu, đứng thứ hai là nhãn hiệu Google với trị giá là 107,4 tỷ đô la, nhãn hiệu Coca Cola được định giá là 81,56 tỷ đô la [2]... là những ví dụ cho thấy giá trị của nhãn hiệu. Cũng giống như những tài sản khác, tài sản trí tuệ là quyền sở hữu công nghiệp đối nhãn hiệu cũng bị xâm phạm bởi các cá nhân, tổ chức nhằm mục đích trục lợi bất hợp pháp, làm ảnh hưởng đến uy tín và sản phẩm của doanh nghiệp.

Để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng ở Việt Nam, Nhà nước sử dụng nhiều biện pháp pháp lý như: Dân sự, hành chính, hình sự. Trong đó, biện pháp xử lý bằng hành chính mang tính cưỡng chế nghiêm khắc. Những hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt hành chính được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Theo đó, tổ chức, cá nhân thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sau đây thì bị xử phạt vi phạm hành chính: (i) Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu, người tiêu dùng hoặc cho xã hội; (ii) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 của Luật này hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này; (iii) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ tem, nhãn hoặc vật phẩm khác mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý giả mạo hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này[3].

1. Thực trạng áp dụng các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

Cụ thể hoá các quy định tại Điều 211 khoản 1,2 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp để hướng dẫn một cách cụ thể các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nói riêng và quyền sở hữu nói chung. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp do Chính phủ ban hành[4] thì trong trường hợp các tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu, thì cá nhân, tổ chức đó bị buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Nghị định số 99/2013 quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, hình thức phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm, khung, mức tiền phạt khi phạt tiền đối với từng hành vi vi phạm.

Ngoài ra, đối với các hành vi xâm phạm, tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: (i) Tịch thu hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ; (ii) Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm.

Ngoài các hình thức xử phạt nêu trên tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của tổ chức, cá nhân khác thì còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: (i) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hoá, phương tiện kinh doanh và tiêu huỷ yếu tố vi phạm; (ii) buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ. Quy định này phù hợp với Điều 33 Luật Xử lý vi phạm hành chính; (iii) buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá. Biện pháp này phù hợp với quy định tại Điều 32 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; (iv) buộc tiêu huỷ hàng hoá giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý; nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý; tang vật, phương tiện vi phạm nếu không loại bỏ được yếu tố vi phạm gắn trên tang vật, phương tiện vi phạm đó; hàng hóa vi phạm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường; tem, nhãn, vật phẩm mang nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý giả mạo; tem, nhãn, bao bì, vật phẩm khác mang yếu tố vi phạm; văn bằng bảo hộ, giấy chứng nhận hoặc tài liệu khác bị sửa chữa, tẩy xóa hoặc giả mạo; (v) buộc sửa đổi, bổ sung chỉ dẫn về sở hữu công nghiệp; (vi) Buộc cải chính công khai đối với các hành vi chỉ dẫn sai về quyền sở hữu công nghiệp; (vii) buộc thu hồi tang vật, phương tiện vi phạm bị tẩu tán; (viii) buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán hoặc tiêu hủy trái quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, trong những năm vừa qua tình hình vi phạm pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu diễn ra ở nước ta có số lượng ngày một nhiều, xảy ra ở nhiều nơi với quy mô, số lượng sản phẩm vi phạm lớn, tính chất nguy hiểm ngày càng cao. Sự vi phạm đó đã xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường kinh doanh. Tình hình vi phạm pháp luật này được phản ánh trong các báo cáo xử lý của các cơ quan có thẩm quyền trong việc xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu trong các năm vừa qua:

Năm 2012, Thanh tra Khoa học và Công nghệ đã tiến hành thanh tra 69 cơ sở, đã phát hiện và xử phạt 36 trường hợp có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với số tiền 859 triệu đồng. Thanh tra Khoa học và Công nghệ đã buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên 25.703 sản phẩm, buộc tiêu hủy và tịch thu tiêu hủy 7.462 sản phẩm chứa đựng các dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật. Riêng Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ tiến hành 38 cuộc thanh tra trong lĩnh vực này, đã phát hiện và xử lý 20 trường hợp vi phạm với tổng số tiền phạt lên tới 831 triệu đồng và đã thực thu cho ngân sách. Thanh tra Bộ đã phối hợp với Cục Quản lý thị trường xử lý 9556 trường hợp và với lực lượng cảnh sát điều tra xử lý 36 trường hợp. Năm 2013 đã tiến hành xử lý 13.037 vụ hàng giả, hàng kém chất lượng và hàng hóa xâm phạm sở hữu trí tuệ[5].

Năm 2012 Ngành Hải quan có tất cả 106 đơn yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới với khoảng gần 300 nhãn hiệu hàng hóa các loại. Cơ quan hải quan đã xử lý 101 vụ, xử phạt với số tiền khoảng 300 triệu đồng, đồng thời đã tịch thu xử lý hàng chục ngàn sản phẩm vi phạm các loại (như: rượu, thuốc lá, mỹ phẩm, quần áo, điện thoại di động… xâm phạm các nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam). Năm 2013 xử lý gần 120 đơn yêu cầu của các chủ thể về quyền sở hữu trí tuệ, và bắt giữ nhiều hàng hóa xâm phạm quyền như rượi 10110000 chai, mỹ phẩm 300000 sản phẩm[6].

Theo báo cáo của Cục cảnh sát kinh tế (Bộ Công an), riêng năm 2012, lực lượng cảnh sát kinh tế của 44 tỉnh, thành phố đã phát hiện 276 vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, sản xuất buôn bán hàng giả, trong đó đã khởi tố 66 vụ, 74 bị can (có 26 vụ xâm phạm nhãn hiệu), phạt tiền hơn 2,4 tỷ đồng. So với năm 2011, số vụ phát hiện đã tăng 107 vụ, số vụ khởi tố tăng 48 vụ (năm 2011, lực lượng cảnh sát kinh tế đã phát hiện 169 vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, sản xuất, buôn bán hàng giả, 214 đối tượng, trong đó đã khởi tố 18 vụ, 30 bị can). Năm 2013, lực lượng cảnh sát kinh tế của 50 tỉnh, thành phố phát hiệu 560 vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sản xuất buôn bán hàng giả trong đó khởi tố 38 vụ với 58 bị can[7]. Có thể kể đến một số vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu có tính nghiêm trọng như: (1) Vụ triệt phá đường dây sản xuất, kinh doanh phụ tùng xe máy giả mạo nhãn hiệu Honda (trị giá khoảng 500 triệu đồng) của Phòng Cảnh kinh tế - Công an TP. Hồ Chí Minh do Nguyễn Văn Nhựt cầm đầu. Cơ quan công an đã xử phạt hành chính 06 đối tượng với số tiền phạt 1,5 tỷ đồng; (2) Vụ Phòng cảnh sát kinh tế, Công an Hà Nội, triệt phá đường dây và bắt giữ Nguyễn Đức Hiển - Giám đốc Công ty cổ phần thương mại Đức Huy buôn bán hơn 5 nghìn tấn hàng (thiết bị hoa sen, vòi tắm, ước tính hơn 1 tỷ đồng) và hàng trăm bộ tem nhãn giả mạo nhãn hiệu INAX, Viglacenra, American Standard, Sơn Hà[8].

Những hành vi xâm phạm trên không những gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp mà còn có thể dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp, bởi người tiêu dùng quay lưng lại với sản phẩm của doanh nghiệp do nạn hàng giả, hàng nhái. Tình trạng sản xuất buôn bán, hàng giả, hàng nhái cũng làm cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước e ngại không dám đầu tư vào Việt Nam hoặc đã đầu tư nhưng không dám mở rộng sản xuất kinh doanh. Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.

Cũng qua các số liệu thống kê nêu trên của các cơ quan có thẩm quyền, chúng ta cũng nhận thấy tình hình xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ngày một gia tăng, điều đó chứng tỏ các biện pháp xử lý hành chính chưa đủ hiệu quả để ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng biện pháp pháp xử lý có tính nghiêm khắc hơn để ngăn chặn loại hành vi vi phạm này.

2. Nguyên nhân của thực trạng

Qua nghiên cứu các quy định trên, cũng như thực tiễn xử lý hành chính hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, chúng tôi nhận thấy những hạn chế trong việc xử lý bằng biện pháp này đối với hành vi vi phạm này xuất phát từ các vướng mắc, bất cập sau:

Thứ nhất, việc xác định đối tượng là nhãn hiệu bị giả mạo theo quy định tại khoản 2 Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ là khó khăn[9]: Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý.” Tuy nhiên, trên thực tế việc xác định thế nào là “nhãn hiệu, dấu hiệu khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó” là một việc rất khó khăn đối với người không có chuyên môn về sở hữu trí tuệ, kể cả chủ sở hữu nhãn hiệu và cơ quan có thẩm quyền trong việc xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Chính sự vướng mắc này mà trên thực tế việc xử lý hành chính đối hành vi xâm phạm nhãn hiệu là rất hạn chế.

Trên thực tế hiện nay, các cơ quan có thẩm quyền trước khi xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu đều phải tiến hành trưng cầu giám định sở hữu trí tuệ để xác định một nhãn hiệu có bị xâm phạm hay không, rồi mới xử lý, điều này phản ánh tính phức tạp, tính chuyên môn cao trong việc xác định một nhãn hiệu có bị xâm phạm hay không. Còn đối với chủ sở hữu nhãn hiệu, do tính chuyên môn cao về sở hữu trí tuệ trong việc xác định nhãn hiệu có bị xâm phạm hay không, nhất là trong những trường hợp nhãn hiệu không trùng, nhưng tương tự, gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của chủ sở hữu, thì không phải chủ sở hữu nhãn hiệu nào cũng có thể nhận biết nhãn hiệu của mình có bị xâm phạm hay không, để từ đó đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu.

Thứ hai, mức phạt quy định tại Điều 11 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP cũng chưa thực sự mạnh để có thể ngăn chặn người có hành vi xâm phạm thực hiện các hành xâm phạm khi mức xử phạt tối đa chỉ ở mức 250.000.000 đồng trong trường hợp hàng hoá vi phạm trên 500.000.000 đồng. Điều này là hết sức bất hợp lý khi đưa ra mức giá trị hàng hoá để làm căn cứ tính mức phạt. Đặc biệt đối với quy định tại khoản 2 Điều 11 của Nghị định số 99/2013NĐ-CP. Theo đó, đối với hành vi thiết kế, chế tạo, gia công, lắp ráp, chế biến, đóng gói hàng hoá mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu; hành vi in dán, đính, đúc, dập khuôn hoặc bằng hình thức khác tem, nhãn, vật phẩm khác mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu; hành vi nhập khẩu hàng hoá mang dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, hoặc hành vi đặt hàng, giao việc thuê người khác thực hiện hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu thì mức phạt tiền bằng 1,2 lần mức tiền phạt tương ứng quy định từ khoản 1 đến khoản 12, nhưng không vượt quá 250.000.000 đồng. Thoạt nhìn, quy định tại khoản 13 Điều 11 có mức phạt cao hơn so với mức phạt quy định khoản từ khoản 1 đến khoản 12. Tuy nhiên mức phạt này ở mức tối đa cũng bị khống chế ở mức 250.000.000 đồng khi giá trị hàng hoá vi phạm trên 500.000.000 đồng. Như vậy, quy định mức phạt 1,2 lần theo khoản 13 nói trên chẳng thể phát huy được tác dụng như mong muốn của các nhà làm luật. Mức phạt này không tương xứng với hành vi vi phạm, do đó khiến cho tác dụng của mức phạt này không thực sự giúp cho việc bảo hộ nhãn hiệu một cách hiệu quả trên thực tế. Đồng thời trong trường hợp không xác định được giá trị của hàng hoá, dịch vụ vi phạm, thì mức phạt tiền có thể từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng cho hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Với cách quy định tại khoản 14 Điều 11 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP không có nghĩa là điều kiện vì mục đích kinh doanh không áp dụng.

Ngoài biện pháp xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền nêu trên, biện pháp xử phạt bổ sung mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng đối với hành vi xâm phạm nhãn hiệu là đình chỉ hoạt động kinh doanh hàng hoá dịch vụ vi phạm từ 01 - 03 tháng.

Thứ ba, hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu… đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu[10]. Đối với hành vi sản xuất, nhập khẩu, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ để bán hàng hoá giả mạo nhãn hiệu được quy định tại Điều 12 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP thì mức phạt chính được áp dụng là mức phạt tiền, tối thiểu là 4.000.000 đồng và tối đa là 250.000.000 đồng. Mặc dù không quy định vì mục đích kinh doanh như tại Điều 11 nhưng Điều 12 đã quy định mục đích của việc sản xuất, nhập khẩu, buôn bán, vận chuyển và tàng trữ hàng hoá giả mạo này là để bán. Do vậy, mục đích kinh doanh và mục đích để bán suy cho cùng là cũng giống nhau, khi đích đến cuối cùng chính là lợi nhuận thu được từ các hành vi xâm phạm nhãn hiệu.

Thứ tư, đối với hành vi sản xuất, nhập khẩu, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ để bán tem, nhãn, vật phẩm mang nhãn hiệu giả mạo thì sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền ở mức thấp nhất là 500.000 đồng và tối đa là 25.000.000 đồng. Đối với hành vi này, đối tượng giả mạo là tem, nhãn do đó, cần phải có số lượng hàng hoá vi phạm để căn cứ vào đó định ra mức xử phạt cụ thể. Điều 13 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP quy định về vấn đề này không rõ ràng. Ví dụ, tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP thì hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền áp dụng trong trường hợp tem nhãn đến 500 đơn vị. Nghĩa là 500 đơn vị là số nhỏ nhất để từ đó xác định hành vi xâm phạm, cho nên, nếu hành vi xâm phạm chưa đến con số này thì chưa áp dụng chế tài. Trong khi đó, Thông tư số 37/2011 lại không có quy định về số đơn vị tối thiểu về đối tượng này để có thể xử lý. Điều này dễ dàng tạo ra sự bất nhất trong việc áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thứ năm, hình thức xử phạt cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện[11].

Điểm bất cập của việc áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hiện nay là hiệu quả không cao và mang tính hình thức[12]. Trên thực tế, người có hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu có thể dựa vào các quy định này để thực hiện hành vi xâm phạm. Chẳng hạn như quy định hành vi vi phạm lần đầu với quy mô nhỏ với hàng hoá vi phạm có số lượng đến 10 đơn vị sản phẩm và có tổng giá trị đến dưới 3.000.000 đồng thì áp dụng hình phạt cảnh cáo. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, đối với hành vi buôn bán kinh doanh trực tuyến (thông qua mạng Internet, mạng xã hội) việc một cá nhân có một lúc hơn 10 đơn vị sản phẩm là rất ít. Bởi lẽ cá nhân này chỉ là một mắt xích trong chuỗi buôn bán hàng hoá trực tuyến[13]. Do đó, rất khó khăn để có thể áp dụng hình phạt cảnh cáo trong những tình huống như thế này.

3. Một số kiến nghị, giải pháp

Từ những vướng mắc, bất cập nêu trên trong quá trình xử lý vi phạm bằng biện pháp hành chính, tác giả mạnh dạn kiến nghị một số giải pháp sau đây nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hành chính trong việc bảo vệ nhãn hiệu.

Một là, cần có văn bản giải thích rõ ràng thế nào là “nhãn hiệu, dấu hiệu khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó” việc này có ý nghĩa rất lớn tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thực thi một cách chủ động và chính xác. Đồng thời cũng hạn chế tình trang phải trưng cầu giám định, rút ngăn thời gian xử lý, bảo đảm quyền lợi của chủ văn bằng.

Hai là, tăng mức tiền xử phạt hành chính hiện nay. Trong một số trường hợp mặc dù pháp luật sở hữu trí tuệ cũng như các văn bản hướng dẫn đều có quy định cụ thể mức tiền phạt áp dụng đối với cá nhân tổ chức thực hiện hành vi vi phạm. Theo đó, mức phạt tiền tối đa áp dụng cho cá nhân là 250.000.000 đồng còn đối với tổ chức là gấp 2 lần đối với cá nhân - là 500.000.000 đồng. Tuy nhiên mức phạt tiền này theo nhận định của Ủy ban Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) đánh giá là quá thấp[14].

Cũng vì lý do mức phạt được thiết kế theo mức trần do đó tác dụng ngăn ngừa vi phạm thực sự có tác dụng rất thấp và có phần hạn chế. Điều này lý giải vì sao trên thực tế hành vi xâm phạm nhãn hiệu ngày càng phổ biến và lan rộng cả về quy mô lẫn số lượng. Do đó, nhằm giảm thiểu hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, việc cần thiết theo tác giả, đó chính là mức xử phạt nên được nâng cao hơn so với quy định hiện hành. Tiền phạt nên tính theo tỷ lệ với mức độ vi phạm. Và các quy định về mức phạt tối đa như hiện nay không nên được áp dụng, bởi lẽ cơ chế này đã bộc lộ những bất cập trong việc xử lý hành vi xâm phạm. Khi mức phạt không thoả đáng, thì quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu không được giải quyết triệt để và không được bảo vệ một cách triệt để.

Ba là, nên bỏ quy định xử phạt cảnh cáo đối với hành vi vi phạm các đối tượng sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng, bởi lẽ biện pháp này không có tính răn đe cao, dẫn đến người vi phạm không quan tâm. Vả lại các hành vi xâm phạm này là xâm phạm về tài sản, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, nên cần có chế tài mang tính chất tài sản áp dụng đối với người vi phạm.

Bốn là, yêu cầu về tính minh bạch trong xử lý vi phạm hành chính. Bên cạnh đó, điều quan trọng nhất trong việc xử lý vi phạm hành chính đó là quá trình xử phạt hành chính cần phải minh bạch hơn. Để đáp ứng được yêu cầu này, nhất thiết các số liệu và thông tin có liên quan phải được công bố công khai. Những hồ sơ của các khoản phạt hành chính, thông tin liên quan đến đối tượng xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu cũng phải được minh bạch hơn[15]. Điều này ở một mức độ nhất định có tác dụng trong việc ngăn ngừa và cảnh báo hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

Bên cạnh đó, việc cần thiết là phải có sự lưu trữ hồ sơ đầy đủ và chính xác về các khoản phạt hành chính, các vụ tịch thu hàng hóa, tiêu hủy hàng hóa hoặc các biện pháp hành chính khác. Về vấn này, các cơ quan chức năng nên lập thành một cơ sở dữ liệu quốc gia (database) về các vấn đề trên một cách công khai. Điều này tạo điều kiện thuận lợi trong việc theo dõi, kiểm tra các chủ thể đã từng thực hiện hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Đồng thời, trong trường hợp các chủ thể này thực hiện việc tái phạm sẽ có cơ sở để xử lý hình sự một cách thuận tiện dễ dàng.

Từ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật hành chính để bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, chúng tôi đưa ra một số giải pháp hoàn thiện các qui định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu bằng pháp luật hành chính. Với các biện pháp đã nêu trong bài viết này, chúng tôi hy vọng góp phần bảo vệ trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, lành mạnh môi trường kinh doanh qua đó thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam phát triển sâu, rộng và bền vững.

Nguyễn Xuân Quang

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: