Thứ hai 24/08/2026 07:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới

Phát triển công nghệ sinh học là xu thế của thế giới; là động lực quan trọng để thực hiện quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân. Tập trung phát triển, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh về công nghệ sinh học, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á. Xây dựng ngành công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, đóng góp tích cực vào GDP cả nước. Đó là một trong những quan điểm và mục tiêu của Đảng ta được khẳng định tại Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30/01/2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới (Nghị quyết số 36-NQ/TW).

1. Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học - Xu thế tất yếu và sự cần thiết

Công nghệ sinh học là một lĩnh vực công nghệ cao dựa trên nền tảng khoa học về sự sống, kết hợp với quy trình và thiết bị kỹ thuật nhằm tạo ra các công nghệ khai thác các hoạt động sống của vi sinh vật, tế bào thực vật và động vật để sản xuất ở quy mô công nghiệp các sản phẩm sinh học có chất lượng cao, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Với những thành tựu khoa học và công nghệ vượt bậc của nhân loại, từ cuối thế kỷ XX, công nghệ sinh học từ một ngành khoa học đã trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật công nghệ cao của nhiều quốc gia công nghiệp trên thế giới. Đối với nước ta, một nước nhiệt đới đi lên từ nông nghiệp, công nghệ sinh học có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; là một yếu tố quan trọng góp phần bảo đảm an ninh lương thực, chuyển đổi cơ cấu và phát triển bền vững kinh tế nông nghiệp, nông thôn; cung cấp những sản phẩm cơ bản và thiết yếu cho chăm sóc sức khoẻ cộng đồng; bảo vệ môi trường sống và phục vụ phát triển công nghiệp sinh học[1].

Thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 04/3/2005 của Ban Bí thư về đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Chỉ thị số 50-CT/TW) và Kết luận số 06-KL/TW ngày 01/9/2016 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW, những năm qua, các cấp, các ngành đã nhận thức ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công nghệ sinh học. Công nghệ sinh học nước ta có bước phát triển nhanh, đạt được nhiều thành tựu quan trọng; ứng dụng ngày càng rộng rãi trong đời sống xã hội, tạo đột phá trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp chế biến, y dược, môi trường. Công nghiệp sinh học từng bước được hình thành; nhiều doanh nghiệp đã đầu tư nghiên cứu, sản xuất, thương mại hoá sản phẩm công nghệ sinh học trên một số lĩnh vực với quy mô lớn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu về công nghệ sinh học tăng cả về số lượng và chất lượng.

Tuy nhiên, công nghệ sinh học phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; năng lực công nghệ sinh học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ; một số lĩnh vực quan trọng của công nghệ sinh học lạc hậu so với khu vực và thế giới; công nghiệp sinh học chưa trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng; đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực công nghệ sinh học còn nhiều hạn chế, bất cập.

Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém trên chủ yếu là do nhận thức của không ít cấp uỷ, chính quyền về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công nghệ sinh học chưa đầy đủ; cơ chế, chính sách chưa phù hợp, thiếu hấp dẫn để thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; đầu tư cho phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; mối liên kết giữa các nhà khoa học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp trong phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học chưa hiệu quả, còn lỏng lẻo.

Do đó, việc phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước là cần thiết và là xu thế tất yếu trong tình hình mới.

2. Mục tiêu cụ thể về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở nước ta đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045

Nghị quyết số 36-NQ/TW nhận định: Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phải khai thác và phát huy tốt nhất tiềm năng, lợi thế của đất nước, của từng vùng và địa phương; lợi thế của quốc gia đi sau. Tập trung đầu tư phát triển một số lĩnh vực trọng điểm, cơ bản, nhất là tận dụng ưu thế về đa dạng sinh học nước ta. Phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng là giải pháp ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội; lấy doanh nghiệp là chủ thể, có cơ chế, chính sách vượt trội tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân đầu tư phát triển công nghiệp sinh học.

Theo đó, Nghị quyết số 36-NQ/TW xác định mục tiêu cụ thể về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở nước ta đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045 như sau:

Một là, phấn đấu đến năm 2030: Nền công nghệ sinh học nước ta đạt trình độ tiên tiến thế giới trên một số lĩnh vực quan trọng, là một trong 10 quốc gia hàng đầu Châu Á về sản xuất và dịch vụ thông minh công nghệ sinh học; được ứng dụng rộng rãi trong các ngành, lĩnh vực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững. Xây dựng nền công nghệ sinh học có nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ sở vật chất, tài chính đủ mạnh đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Công nghiệp sinh học trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng; doanh nghiệp công nghiệp sinh học tăng 50% về quy mô đầu tư và quy mô tăng trưởng, thay thế ít nhất 50% sản phẩm công nghệ sinh học nhập khẩu; đóng góp 7% vào GDP; bảo đảm nhu cầu thiết yếu của xã hội.

Hai là, tầm nhìn đến năm 2045: Việt Nam là quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh; khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo về công nghệ sinh học thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á. Công nghiệp sinh học đóng góp 10 - 15% vào GDP.

3. Nhiệm vụ, giải pháp

Để đạt được những mục tiêu phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở nước ta đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045, trong thời gian tới, cần thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp như sau:

Một là, thống nhất nhận thức về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong tình hình mới.

- Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nghiên cứu, quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức trong cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp về tầm quan trọng của phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống Nhân dân.

- Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học là một nội dung, nhiệm vụ được xác định trong chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, ngành, lĩnh vực.

- Hệ thống báo chí chú trọng giới thiệu thành tựu công nghệ sinh học; chủ động tuyên truyền các tập thể, cá nhân điển hình trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Kịp thời khen thưởng, tôn vinh các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động hiệu quả.

Hai là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.

- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; thu hút các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng, sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học; bảo đảm an toàn sinh học.

- Có chính sách vượt trội, phù hợp để phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, sản xuất các sản phẩm công nghệ sinh học có giá trị cao trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, y dược, quốc phòng, an ninh; khuyến khích đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học đối với vùng kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo; khuyến khích xuất khẩu sản phẩm công nghệ sinh học; đào tạo, phát hiện, sử dụng nguồn nhân lực công nghệ sinh học.

- Xây dựng cơ chế bảo đảm mối liên kết, gắn bó giữa các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sinh học; xây dựng, triển khai các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.

- Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm công nghệ sinh học.

Ba là, tập trung phát triển, ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học trong sản xuất và đời sống; phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Chú trọng nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi thích nghi với biến đổi khí hậu, chống chịu sâu bệnh, có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao; các vắcxin và chế phẩm sinh học phòng bệnh cho vật nuôi, cây trồng, nhất là các loại dịch bệnh nguy hiểm, mới phát sinh, góp phần xây dựng nền nông nghiệp thông minh, an toàn, hiệu quả, bảo tồn và phát triển các nguồn gen quý, hiếm.

- Phát triển, ứng dụng, hiện đại hoá công nghệ sinh học trong công nghiệp chế biến các sản phẩm an toàn, hiệu quả, có giá trị cao từ nguồn nguyên liệu trong nước.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực y tế. Tập trung nghiên cứu, sản xuất thuốc, vắcxin đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh và phòng, chống dịch bệnh; nghiên cứu công nghệ tế bào gốc trong công nghiệp dược phẩm, công nghệ gen, sản xuất nguyên liệu và các loại thuốc sinh học, thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thảo dược.

- Chú trọng phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường; giảm thiểu suy thoái, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên góp phần xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; sản xuất nhiên liệu, vật liệu sinh học thân thiện môi trường, phát huy tiềm năng kinh tế biển.

- Tập trung xây dựng ngành công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sớm quy hoạch phát triển công nghiệp sinh học, khai thác tối đa lợi thế vùng nhằm sản xuất các sản phẩm chủ lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; liên kết các doanh nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm công nghệ sinh học.

- Hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ sinh học nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ mới, sở hữu trí tuệ; nghiên cứu sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học quy mô công nghiệp; xây dựng thương hiệu, thương mại hoá sản phẩm; khai thác, sử dụng hiệu quả các phát minh, sáng chế công nghệ sinh học có giá trị cao của thế giới, ứng dụng hiệu quả trong công nghiệp sinh học.

- Chủ động ứng phó tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học; xử lý chất độc hoá học; bảo đảm an ninh sinh học trong nghiên cứu, sản xuất, làm chủ công nghệ sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bốn là, xây dựng nguồn nhân lực công nghệ sinh học, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.

- Nghiên cứu xây dựng mô hình đào tạo nhân lực công nghệ sinh học từ giáo dục phổ thông đến đại học và trên đại học. Tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp công nghệ sinh học, đơn vị sử dụng lao động với các cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ sinh học. Gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và nhu cầu thực tiễn, bảo đảm số lượng và chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu.

- Chú trọng xây dựng đội ngũ nhà khoa học đầu ngành, hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu có uy tín đạt trình độ quốc tế trong lĩnh vực công nghệ sinh học; tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, xuất khẩu nhân lực công nghệ sinh học có trình độ cao.

- Tập trung đầu tư nguồn lực nhằm nâng cao năng lực phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, trong đó ngân sách nhà nước chủ yếu đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm công nghệ sinh học mà Việt Nam có lợi thế.

- Tiếp tục đầu tư hoàn thiện, sớm đưa các trung tâm công nghệ sinh học quốc gia ở ba miền Bắc, Trung, Nam vào hoạt động; hiện đại hoá hệ thống phòng thí nghiệm công nghệ sinh học, các trung tâm đánh giá, kiểm định; xây dựng một số trung tâm kiểm soát dịch bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu giám sát và phòng, chống dịch bệnh.

- Hỗ trợ, phát triển các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học - công nghệ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học. Hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao năng lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hiện đại hoá công nghệ, thiết bị nhằm sản xuất sản phẩm công nghệ đạt trình độ quốc tế; nâng cao năng lực của các cơ sở nghiên cứu công nghệ sinh học lĩnh vực quốc phòng, an ninh.

Năm là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghệ sinh học.

Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ sinh học, tuân thủ các điều ước quốc tế có liên quan đến công nghệ sinh học mà Việt Nam tham gia. Có chính sách mua, chuyển giao, trao đổi công nghệ sinh học, trong đó quan tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ mới, công nghệ có giá trị cao của thế giới vào Việt Nam; hợp tác nghiên cứu mô hình phát triển kinh tế sinh học, quản lý tài nguyên, quản lý kinh tế, xã hội bền vững với các quốc gia có trình độ công nghệ sinh học phát triển.

Để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ, giải pháp nêu trên, Nghị quyết số 36-NQ/TW nêu rõ nhiệm vụ cụ thể của một số cơ quan, tổ chức như sau: (i) Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tổ chức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền nội dung Nghị quyết tới cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân; xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết; (ii) Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật; tăng cường giám sát hoạt động phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; (iii) Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết; chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện chính sách liên quan đến phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; ưu tiên bố trí nguồn lực tài chính để thực hiện Nghị quyết; rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản dưới luật có liên quan đến phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; (iv) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội xây dựng chương trình, kế hoạch hướng dẫn, vận động Nhân dân thực hiện Nghị quyết, phát huy vai trò phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; (v) Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức, hướng dẫn việc quán triệt thực hiện Nghị quyết; định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện, báo cáo Bộ Chính trị.

Bùi Huyền

Ảnh: Internet


[1] Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 04/3/2005 của Ban Bí thư về đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hà Nội phấn đấu đánh giá năng lực số cho ít nhất 30% công dân trong năm 2026

Hà Nội phấn đấu đánh giá năng lực số cho ít nhất 30% công dân trong năm 2026

Phổ cập kỹ năng số tới người dân, nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ và từng bước hình thành nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số là những mục tiêu được Hà Nội cụ thể hóa trong Kế hoạch triển khai Đề án "Nâng cao năng lực số cho đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và công dân của thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030".
100 ngày tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị Thủ đô

100 ngày tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị Thủ đô

Thành phố Hà Nội xác định chiến dịch 100 ngày là thời gian tập trung xử lý các nhiệm vụ chậm, quá hạn hoặc có nguy cơ chậm tiến độ, ưu tiên những điểm nghẽn về hạ tầng số, dữ liệu, nền tảng số và giải ngân nguồn lực, hướng tới bảo đảm hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp vận hành đồng bộ, thông suốt trên môi trường số.
Sức lan tỏa từ Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Đảng bộ Chính phủ lần thứ 2, năm 2026

Sức lan tỏa từ Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Đảng bộ Chính phủ lần thứ 2, năm 2026

Hướng tới Lễ trao Giải Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Đảng bộ Chính phủ lần thứ 2, năm 2026, những kết quả nổi bật từ Cuộc thi cho thấy sức lan tỏa rộng khắp, sự hưởng ứng tích cực của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động.
Hà Nội đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền cải cách hành chính giai đoạn 2026 - 2030

Hà Nội đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền cải cách hành chính giai đoạn 2026 - 2030

Ngày 08/7/2026, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Kế hoạch số 269/KH-UBND về thông tin, tuyên truyền cải cách hành chính nhà nước của thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030 (Kế hoạch).
Hoàn thành khóa bồi dưỡng tối thiểu 40 tiết: Điều kiện cấp thẻ nhà báo lần đầu

Hoàn thành khóa bồi dưỡng tối thiểu 40 tiết: Điều kiện cấp thẻ nhà báo lần đầu

Ngày 31/7, tại Hà Nội, Cục Báo chí (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức Hội nghị tập huấn triển khai Luật Báo chí năm 2025 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối với các điểm cầu tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cơ quan chủ quản và cơ quan báo chí khu vực miền Trung, miền Nam.
Thanh niên Bộ Tư pháp với Chương trình hiến máu nhân đạo "Giọt hồng Tư pháp" năm 2026

Thanh niên Bộ Tư pháp với Chương trình hiến máu nhân đạo "Giọt hồng Tư pháp" năm 2026

Thực hiện Kế hoạch số 11-KH/ĐTN ngày 14/7/2026 của Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp, sáng 31/7, Ban Thường vụ Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp đã tổ chức Chương trình hiến máu tình nguyện "Giọt hồng Tư pháp" năm 2026 với sự tham gia hưởng ứng của đông đảo cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và đoàn viên, thanh niên thuộc các đơn vị trong Bộ.
Hà Nội đẩy mạnh quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo

Hà Nội đẩy mạnh quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo

Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng ký ban hành Quyết định số 103/2026/QĐ-UBND ngày 23/7/2026 về việc quy định phương thức quản trị tiên tiến dựa trên dữ liệu số, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và cơ chế chia sẻ dữ liệu công - tư theo hợp đồng khai thác dữ liệu trên địa bàn thành phố Hà Nội (Quyết định).
Kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam: Phát huy truyền thống vẻ vang, xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới

Kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam: Phát huy truyền thống vẻ vang, xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới

Kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 - 28/7/2026) đánh dấu chặng đường gần một thế kỷ hình thành, xây dựng và phát triển gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc và sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam. Đây không chỉ là dịp để ôn lại truyền thống vẻ vang của tổ chức Công đoàn mà còn khẳng định vai trò, sứ mệnh của giai cấp công nhân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tiếp tục khơi dậy tinh thần đổi mới, sáng tạo, đoàn kết, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tổ chức các hoạt động tri ân nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tổ chức các hoạt động tri ân nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ

Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), chiều ngày 23/7/2026, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tổ chức các hoạt động tri ân ý nghĩa nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa" đối với viên chức, người lao động, đoàn viên, thanh niên của Tạp chí.
Dấu ấn Lễ trao giải Cuộc thi "Chuyện nghề Thi hành án dân sự" lần thứ II

Dấu ấn Lễ trao giải Cuộc thi "Chuyện nghề Thi hành án dân sự" lần thứ II

Sáng ngày 15/7, tại trụ sở Bộ Tư pháp, Báo Pháp luật Việt Nam phối hợp Cục Quản lý Thi hành án dân sự tổ chức Lễ trao giải Cuộc thi "Chuyện nghề Thi hành án dân sự" lần thứ II. Ủy viên Trung ương, Bí Thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng dự và phát biểu tại Lễ trao giải.
Nâng cao chất lượng đào tạo chuyên ngành Quản trị nhà nước và Phòng, chống tham nhũng

Nâng cao chất lượng đào tạo chuyên ngành Quản trị nhà nước và Phòng, chống tham nhũng

Ngày 09/7, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Hội nghị tổng kết 8 năm đào tạo thạc sĩ Luật, chuyên ngành Quản trị nhà nước và Phòng, chống tham nhũng.
Định hướng hoàn thiện pháp luật về tiền lương tối thiểu trong bối cảnh phát triển mới

Định hướng hoàn thiện pháp luật về tiền lương tối thiểu trong bối cảnh phát triển mới

Nằm trong chuỗi hoạt động hướng tới kỷ niệm 80 năm thành lập Trường Đại học Công đoàn (1946 - 2026), ngày 26/6/2026, Trường Đại học Công đoàn tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề "Pháp luật về tiền lương tối thiểu: Kinh nghiệm quốc tế, thách thức và định hướng cho Việt Nam". Hội thảo có sự tham dự của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, đại diện các cơ quan trung ương, tổ chức công đoàn, cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế nhằm trao đổi, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn, đồng thời, đề xuất các luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiền lương trong giai đoạn phát triển mới.
Thư cảm ơn của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật

Thư cảm ơn của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng cảm ơn những tình cảm quý báu mà quý cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân dành tặng cho Tạp chí trong suốt thời gian qua.
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đón nhận những tình cảm tốt đẹp nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đón nhận những tình cảm tốt đẹp nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam

Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật vinh dự được đón nhận những lời chúc tốt đẹp và những lẵng hoa chúc mừng từ Đảng ủy, Lãnh đạo Bộ Tư pháp; các đơn vị thuộc Bộ; các cộng tác viên, đối tác; bạn bè, đồng nghiệp và đông đảo bạn đọc xa, gần trên cả nước.
Thúc đẩy nghiên cứu khoa học có trách nhiệm trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo

Thúc đẩy nghiên cứu khoa học có trách nhiệm trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo

Sáng ngày 16/6, NGƯT.PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp, Tổng Biên tập Tạp chí Nghề luật và TS. Nguyễn Quang Vinh, Tổng Biên tập Tạp chí Quản lý nhà nước đồng chủ trì Hội nghị chào mừng Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam và Hội thảo khoa học "Đảm bảo đạo đức nghiên cứu và tính toàn vẹn học thuật trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo".

Theo dõi chúng tôi trên: