Thứ bảy 16/05/2026 06:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới

Phát triển công nghệ sinh học là xu thế của thế giới; là động lực quan trọng để thực hiện quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân. Tập trung phát triển, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh về công nghệ sinh học, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á. Xây dựng ngành công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, đóng góp tích cực vào GDP cả nước. Đó là một trong những quan điểm và mục tiêu của Đảng ta được khẳng định tại Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30/01/2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới (Nghị quyết số 36-NQ/TW).

1. Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học - Xu thế tất yếu và sự cần thiết

Công nghệ sinh học là một lĩnh vực công nghệ cao dựa trên nền tảng khoa học về sự sống, kết hợp với quy trình và thiết bị kỹ thuật nhằm tạo ra các công nghệ khai thác các hoạt động sống của vi sinh vật, tế bào thực vật và động vật để sản xuất ở quy mô công nghiệp các sản phẩm sinh học có chất lượng cao, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Với những thành tựu khoa học và công nghệ vượt bậc của nhân loại, từ cuối thế kỷ XX, công nghệ sinh học từ một ngành khoa học đã trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật công nghệ cao của nhiều quốc gia công nghiệp trên thế giới. Đối với nước ta, một nước nhiệt đới đi lên từ nông nghiệp, công nghệ sinh học có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; là một yếu tố quan trọng góp phần bảo đảm an ninh lương thực, chuyển đổi cơ cấu và phát triển bền vững kinh tế nông nghiệp, nông thôn; cung cấp những sản phẩm cơ bản và thiết yếu cho chăm sóc sức khoẻ cộng đồng; bảo vệ môi trường sống và phục vụ phát triển công nghiệp sinh học[1].

Thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 04/3/2005 của Ban Bí thư về đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Chỉ thị số 50-CT/TW) và Kết luận số 06-KL/TW ngày 01/9/2016 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW, những năm qua, các cấp, các ngành đã nhận thức ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công nghệ sinh học. Công nghệ sinh học nước ta có bước phát triển nhanh, đạt được nhiều thành tựu quan trọng; ứng dụng ngày càng rộng rãi trong đời sống xã hội, tạo đột phá trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp chế biến, y dược, môi trường. Công nghiệp sinh học từng bước được hình thành; nhiều doanh nghiệp đã đầu tư nghiên cứu, sản xuất, thương mại hoá sản phẩm công nghệ sinh học trên một số lĩnh vực với quy mô lớn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu về công nghệ sinh học tăng cả về số lượng và chất lượng.

Tuy nhiên, công nghệ sinh học phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; năng lực công nghệ sinh học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ; một số lĩnh vực quan trọng của công nghệ sinh học lạc hậu so với khu vực và thế giới; công nghiệp sinh học chưa trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng; đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực công nghệ sinh học còn nhiều hạn chế, bất cập.

Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém trên chủ yếu là do nhận thức của không ít cấp uỷ, chính quyền về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công nghệ sinh học chưa đầy đủ; cơ chế, chính sách chưa phù hợp, thiếu hấp dẫn để thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; đầu tư cho phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; mối liên kết giữa các nhà khoa học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp trong phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học chưa hiệu quả, còn lỏng lẻo.

Do đó, việc phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước là cần thiết và là xu thế tất yếu trong tình hình mới.

2. Mục tiêu cụ thể về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở nước ta đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045

Nghị quyết số 36-NQ/TW nhận định: Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phải khai thác và phát huy tốt nhất tiềm năng, lợi thế của đất nước, của từng vùng và địa phương; lợi thế của quốc gia đi sau. Tập trung đầu tư phát triển một số lĩnh vực trọng điểm, cơ bản, nhất là tận dụng ưu thế về đa dạng sinh học nước ta. Phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng là giải pháp ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội; lấy doanh nghiệp là chủ thể, có cơ chế, chính sách vượt trội tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân đầu tư phát triển công nghiệp sinh học.

Theo đó, Nghị quyết số 36-NQ/TW xác định mục tiêu cụ thể về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở nước ta đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045 như sau:

Một là, phấn đấu đến năm 2030: Nền công nghệ sinh học nước ta đạt trình độ tiên tiến thế giới trên một số lĩnh vực quan trọng, là một trong 10 quốc gia hàng đầu Châu Á về sản xuất và dịch vụ thông minh công nghệ sinh học; được ứng dụng rộng rãi trong các ngành, lĩnh vực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững. Xây dựng nền công nghệ sinh học có nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ sở vật chất, tài chính đủ mạnh đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Công nghiệp sinh học trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng; doanh nghiệp công nghiệp sinh học tăng 50% về quy mô đầu tư và quy mô tăng trưởng, thay thế ít nhất 50% sản phẩm công nghệ sinh học nhập khẩu; đóng góp 7% vào GDP; bảo đảm nhu cầu thiết yếu của xã hội.

Hai là, tầm nhìn đến năm 2045: Việt Nam là quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh; khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo về công nghệ sinh học thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á. Công nghiệp sinh học đóng góp 10 - 15% vào GDP.

3. Nhiệm vụ, giải pháp

Để đạt được những mục tiêu phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở nước ta đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045, trong thời gian tới, cần thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp như sau:

Một là, thống nhất nhận thức về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong tình hình mới.

- Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nghiên cứu, quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức trong cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp về tầm quan trọng của phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống Nhân dân.

- Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học là một nội dung, nhiệm vụ được xác định trong chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, ngành, lĩnh vực.

- Hệ thống báo chí chú trọng giới thiệu thành tựu công nghệ sinh học; chủ động tuyên truyền các tập thể, cá nhân điển hình trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Kịp thời khen thưởng, tôn vinh các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động hiệu quả.

Hai là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.

- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; thu hút các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng, sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học; bảo đảm an toàn sinh học.

- Có chính sách vượt trội, phù hợp để phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, sản xuất các sản phẩm công nghệ sinh học có giá trị cao trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, y dược, quốc phòng, an ninh; khuyến khích đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học đối với vùng kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo; khuyến khích xuất khẩu sản phẩm công nghệ sinh học; đào tạo, phát hiện, sử dụng nguồn nhân lực công nghệ sinh học.

- Xây dựng cơ chế bảo đảm mối liên kết, gắn bó giữa các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sinh học; xây dựng, triển khai các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.

- Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm công nghệ sinh học.

Ba là, tập trung phát triển, ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học trong sản xuất và đời sống; phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Chú trọng nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi thích nghi với biến đổi khí hậu, chống chịu sâu bệnh, có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao; các vắcxin và chế phẩm sinh học phòng bệnh cho vật nuôi, cây trồng, nhất là các loại dịch bệnh nguy hiểm, mới phát sinh, góp phần xây dựng nền nông nghiệp thông minh, an toàn, hiệu quả, bảo tồn và phát triển các nguồn gen quý, hiếm.

- Phát triển, ứng dụng, hiện đại hoá công nghệ sinh học trong công nghiệp chế biến các sản phẩm an toàn, hiệu quả, có giá trị cao từ nguồn nguyên liệu trong nước.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực y tế. Tập trung nghiên cứu, sản xuất thuốc, vắcxin đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh và phòng, chống dịch bệnh; nghiên cứu công nghệ tế bào gốc trong công nghiệp dược phẩm, công nghệ gen, sản xuất nguyên liệu và các loại thuốc sinh học, thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thảo dược.

- Chú trọng phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường; giảm thiểu suy thoái, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên góp phần xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; sản xuất nhiên liệu, vật liệu sinh học thân thiện môi trường, phát huy tiềm năng kinh tế biển.

- Tập trung xây dựng ngành công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sớm quy hoạch phát triển công nghiệp sinh học, khai thác tối đa lợi thế vùng nhằm sản xuất các sản phẩm chủ lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; liên kết các doanh nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm công nghệ sinh học.

- Hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ sinh học nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ mới, sở hữu trí tuệ; nghiên cứu sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học quy mô công nghiệp; xây dựng thương hiệu, thương mại hoá sản phẩm; khai thác, sử dụng hiệu quả các phát minh, sáng chế công nghệ sinh học có giá trị cao của thế giới, ứng dụng hiệu quả trong công nghiệp sinh học.

- Chủ động ứng phó tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học; xử lý chất độc hoá học; bảo đảm an ninh sinh học trong nghiên cứu, sản xuất, làm chủ công nghệ sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bốn là, xây dựng nguồn nhân lực công nghệ sinh học, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học.

- Nghiên cứu xây dựng mô hình đào tạo nhân lực công nghệ sinh học từ giáo dục phổ thông đến đại học và trên đại học. Tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp công nghệ sinh học, đơn vị sử dụng lao động với các cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ sinh học. Gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và nhu cầu thực tiễn, bảo đảm số lượng và chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu.

- Chú trọng xây dựng đội ngũ nhà khoa học đầu ngành, hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu có uy tín đạt trình độ quốc tế trong lĩnh vực công nghệ sinh học; tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, xuất khẩu nhân lực công nghệ sinh học có trình độ cao.

- Tập trung đầu tư nguồn lực nhằm nâng cao năng lực phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, trong đó ngân sách nhà nước chủ yếu đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm công nghệ sinh học mà Việt Nam có lợi thế.

- Tiếp tục đầu tư hoàn thiện, sớm đưa các trung tâm công nghệ sinh học quốc gia ở ba miền Bắc, Trung, Nam vào hoạt động; hiện đại hoá hệ thống phòng thí nghiệm công nghệ sinh học, các trung tâm đánh giá, kiểm định; xây dựng một số trung tâm kiểm soát dịch bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu giám sát và phòng, chống dịch bệnh.

- Hỗ trợ, phát triển các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học - công nghệ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học. Hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao năng lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hiện đại hoá công nghệ, thiết bị nhằm sản xuất sản phẩm công nghệ đạt trình độ quốc tế; nâng cao năng lực của các cơ sở nghiên cứu công nghệ sinh học lĩnh vực quốc phòng, an ninh.

Năm là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về công nghệ sinh học.

Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ sinh học, tuân thủ các điều ước quốc tế có liên quan đến công nghệ sinh học mà Việt Nam tham gia. Có chính sách mua, chuyển giao, trao đổi công nghệ sinh học, trong đó quan tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ mới, công nghệ có giá trị cao của thế giới vào Việt Nam; hợp tác nghiên cứu mô hình phát triển kinh tế sinh học, quản lý tài nguyên, quản lý kinh tế, xã hội bền vững với các quốc gia có trình độ công nghệ sinh học phát triển.

Để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ, giải pháp nêu trên, Nghị quyết số 36-NQ/TW nêu rõ nhiệm vụ cụ thể của một số cơ quan, tổ chức như sau: (i) Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tổ chức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền nội dung Nghị quyết tới cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân; xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết; (ii) Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật; tăng cường giám sát hoạt động phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; (iii) Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết; chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện chính sách liên quan đến phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; ưu tiên bố trí nguồn lực tài chính để thực hiện Nghị quyết; rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản dưới luật có liên quan đến phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; (iv) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội xây dựng chương trình, kế hoạch hướng dẫn, vận động Nhân dân thực hiện Nghị quyết, phát huy vai trò phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; (v) Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức, hướng dẫn việc quán triệt thực hiện Nghị quyết; định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện, báo cáo Bộ Chính trị.

Bùi Huyền

Ảnh: Internet


[1] Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 04/3/2005 của Ban Bí thư về đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tuần lễ Trọng tài và Hòa giải Việt Nam 2026: Thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống giải quyết tranh chấp thay thế tại Việt Nam

Tuần lễ Trọng tài và Hòa giải Việt Nam 2026: Thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống giải quyết tranh chấp thay thế tại Việt Nam

Từ ngày 25 đến ngày 29/5/2026, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam tổ chức Tuần lễ Trọng tài & Hòa giải Việt Nam 2026 (Vietnam ADR Week 2026 - VAW 2026) với chủ đề "Trọng tài & ADR: Vươn tầm cao mới" (Arbitration & ADR: Embracing new heights). Sự kiện được kỳ vọng trở thành diễn đàn chuyên sâu quy tụ đông đảo đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức quốc tế, trung tâm trọng tài và hòa giải, hãng luật, doanh nghiệp, nhà đầu tư, chuyên gia, nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên trong và ngoài nước, dưới cả hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Xây dựng nền tảng pháp lý cho thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Xây dựng nền tảng pháp lý cho thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Sự bùng nổ của công nghệ chuỗi khối blockchain đã thúc đẩy tài sản mã hóa ra đời và dần trở thành một cấu phần không thể thiếu trong hệ thống tài chính toàn cầu. Đáng chú ý, Việt Nam thuộc nhóm những quốc gia có tỷ lệ sở hữu và giao dịch tài sản mã hóa cao nhất trên thế giới.
Ra quân xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ từ ngày 07/5/2026 đến ngày 30/5/2026

Ra quân xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ từ ngày 07/5/2026 đến ngày 30/5/2026

Ngày 05/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 38/CĐ-TTg về tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó yêu cầu quyết liệt chỉ đạo các lực lượng chức năng ra quân, tập trung nguồn lực, tập trung triển khai thực hiện ngay các biện pháp cần thiết đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn quốc từ ngày 07/5/2026 đến ngày 30/5/2026.
Tăng cường gắn kết giữa hoạt động đào tạo luật và truyền thông pháp lý

Tăng cường gắn kết giữa hoạt động đào tạo luật và truyền thông pháp lý

Ngày 29/4/2026, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp và Đại học Phenikaa thực hiện ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác. Tham dự buổi Lễ có GS.TS. Vũ Văn Trường, Phó Tổng Giám đốc Đại học Phenikaa; TS. Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; ông Trần Văn Trí, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần truyền thông Luật Việt Nam cùng đại diện lãnh đạo các khoa, phòng, ban và đại diện các thầy cô giáo, cán bộ, sinh viên của 02 đơn vị.
Kỷ niệm trọng thể 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026)

Kỷ niệm trọng thể 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026)

Ngày 28/4, tại Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt - Xô, Hà Nội, nơi cách đây 80 năm đã diễn ra Lễ mít-tinh kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động lần đầu tiên của nước Việt Nam độc lập (01/5/1946), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức Lễ kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); tuyên dương chủ tịch công đoàn cơ sở xuất sắc tiêu biểu trong công tác đối thoại và thương lượng tập thể năm 2026.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Công đoàn các cấp chú trọng nâng cao hiệu quả công tác đối thoại, thương lượng tập thể

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Công đoàn các cấp chú trọng nâng cao hiệu quả công tác đối thoại, thương lượng tập thể

Ngày 28/4, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức Lễ kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); tuyên dương Chủ tịch Công đoàn cơ sở xuất sắc tiêu biểu trong công tác đối thoại và thương lượng tập thể năm 2026. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự và phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm, trong đó đề nghị Công đoàn các cấp chú trọng nâng cao hiệu quả công tác đối thoại, thương lượng tập thể; đề xuất, xây dựng, hoàn thiện chính sách pháp luật liên quan đến công nhân lao động và tổ chức Công đoàn.
Diễn đàn “Luật học Mùa Xuân”: Dấu ấn học thuật của Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Diễn đàn “Luật học Mùa Xuân”: Dấu ấn học thuật của Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Đây là chủ đề của Diễn đàn khoa học trẻ "Luật học Mùa Xuân" lần thứ III năm 2026 do Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức trong 02 ngày 17/4 và 18/4/2026. Tham dự Diễn đàn có các chuyên gia, nhà khoa học, học giả cùng các sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh.
Đổi mới đào tạo luật trong bối cảnh mới: Yêu cầu tất yếu từ thực tiễn

Đổi mới đào tạo luật trong bối cảnh mới: Yêu cầu tất yếu từ thực tiễn

Ngày 16/4, ba cơ sở đào tạo luật gồm Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức Hội thảo quốc gia “Đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy luật tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam trong bối cảnh mới”. Hội thảo có sự tham gia đông đảo các giáo sư, chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, cùng đại diện lãnh đạo, giảng viên của nhiều cơ sở đào tạo luật trên cả nước.
Hiệp hội Pháp chế doanh nghiệp Việt Nam: Nâng cao vai trò cầu nối, hỗ trợ doanh nghiệp thích ứng biến động của môi trường kinh doanh

Hiệp hội Pháp chế doanh nghiệp Việt Nam: Nâng cao vai trò cầu nối, hỗ trợ doanh nghiệp thích ứng biến động của môi trường kinh doanh

Ngày 15/4, Hiệp hội Pháp chế doanh nghiệp Việt Nam tổ chức gặp mặt hội viên tiêu biểu Xuân Bính Ngọ năm 2026 do Chủ tịch Hiệp hội Nguyễn Duy Lãm chủ trì.
Thiết lập cơ chế minh bạch trong quản lý tài chính tín ngưỡng, tôn giáo

Thiết lập cơ chế minh bạch trong quản lý tài chính tín ngưỡng, tôn giáo

Tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, thảo luận về dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) ở tổ ngày 08/4 và ở hội trường ngày 10/4, một nhóm vấn đề lớn được nhiều đại biểu quan tâm là quản lý tài chính, đặc biệt là tiền công đức, hoạt động từ thiện và các nguồn thu phát sinh trong bối cảnh kinh tế số.
Nâng cao năng lực pháp lý cho phụ nữ khởi nghiệp, phát triển kinh doanh trong giai đoạn mới

Nâng cao năng lực pháp lý cho phụ nữ khởi nghiệp, phát triển kinh doanh trong giai đoạn mới

Chiều ngày 30/3, Bộ Tư pháp phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức Hội nghị tập huấn “Tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho phụ nữ khởi nghiệp, phát triển kinh doanh” bằng hình thức trực tiếp tại Hà Nội, kết hợp trực tuyến với 34 điểm cầu trên toàn quốc.
Thanh niên Chi đoàn Tạp chí Dân chủ và Pháp luật chủ động, sáng tạo trong giai đoạn mới

Thanh niên Chi đoàn Tạp chí Dân chủ và Pháp luật chủ động, sáng tạo trong giai đoạn mới

Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2026), được sự đồng ý của Chi ủy, Lãnh đạo Tạp chí, Chi đoàn Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Chi đoàn Tạp chí) đã tổ chức Hội nghị đối thoại giữa Chi ủy, Lãnh đạo Tạp chí với đoàn viên, thanh niên Tạp chí.
Tiếp tục hoàn thiện các chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tiếp tục hoàn thiện các chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Thực hiện nhiệm vụ xây dựng hồ sơ chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã triển khai đồng bộ nhiều hoạt động lấy ý kiến, tham vấn rộng rãi và thu hút sự tham gia của đông đảo chuyên gia, nhà khoa học, cơ quan quản lý và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Trong đó, nhiều ý kiến trao đổi, góp ý đa chiều đã được ghi nhận. Đây là cơ sở quan trọng để cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách Luật theo hướng toàn diện, khả thi và phù hợp với thực tiễn.
Xây dựng mối quan hệ hợp tác phát triển bền vững giữa Tạp chí Dân chủ và Pháp luật và Trường Đại học Tài chính - Marketing

Xây dựng mối quan hệ hợp tác phát triển bền vững giữa Tạp chí Dân chủ và Pháp luật và Trường Đại học Tài chính - Marketing

Ngày 20/3/2026, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp và Trường Đại học Tài chính - Marketing, Bộ Tài chính tổ chức Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác. Tham dự buổi Lễ có TS. Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; TS. Cao Tấn Huy, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Marketing cùng đại diện lãnh đạo, cán bộ, biên tập viên, giảng viên của 02 đơn vị.
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật thăm và chúc mừng Bệnh viện Nam Thăng Long nhân dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/02/1955 - 27/02/2026)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật thăm và chúc mừng Bệnh viện Nam Thăng Long nhân dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/02/1955 - 27/02/2026)

Ngày 26/02, nhân dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/02/1955 - 27/02/2026), đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đại diện Tạp chí đến thăm và chúc mừng tập thể Lãnh đạo, bác sĩ, y sĩ, nhân viên y tế, người lao động Bệnh viện Nam Thăng Long.

Theo dõi chúng tôi trên: