Chủ nhật 25/10/2026 20:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

XÂY DỰNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI, LỚN MẠNH TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI CỦA DÂN TỘC

Nhân dịp Đại hội XIV của Đảng, đồng chí Nguyễn Đình Khang - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQ), Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (Tổng LĐLĐVN) đã có cuộc trao đổi với phóng viên báo chí về sứ mệnh lịch sử, vai trò và vị trí của giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
XÂY DỰNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI, LỚN MẠNH TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI CỦA DÂN TỘC

Kính thưa đồng chí, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và hội nhập quốc tế hiện nay, đồng chí đánh giá như thế nào về vai trò, vị trí và sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam sau 40 năm đổi mới?

Đồng chí Nguyễn Đình Khang: Kể từ khi ra đời đến nay, đặc biệt là trong 40 năm đổi mới vừa qua, giai cấp công nhân nước ta luôn khẳng định sứ mệnh lịch sử, vai trò và vị trí của mình là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân tiếp tục giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp duy trì và phát triển sản xuất, tạo ra phần lớn của cải vật chất, đóng góp chủ yếu vào ngân sách nhà nước.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, cả nước hiện có khoảng 17,5 triệu lao động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và 21,2 triệu lao động trong khu vực dịch vụ, chiếm khoảng 39% dân số và 73,6% lực lượng lao động xã hội. Chất lượng và trình độ tay nghề từng bước được nâng lên; tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 64,5% năm 2020 lên 70% năm 2025, trong đó tỉ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 24,1% năm 2020 lên khoảng 29,2% năm 2025. Đặc biệt, đã có một lớp công nhân trẻ, làm chủ khoa học - công nghệ đang hình thành, thể hiện sức bật mới của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên số.

Theo ghi nhận của các cấp Công đoàn, trong thời gian qua, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân được cải thiện. Việc làm cơ bản ổn định; thu nhập và tiền lương được nâng lên; môi trường làm việc không ngừng được cải thiện; quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, số vụ tranh chấp và ngừng việc tập thể giảm mạnh. Quy chế dân chủ ở cơ sở được mở rộng; chính sách an sinh và phúc lợi xã hội ngày càng phát triển.

Theo đồng chí, với vai trò là tổ chức đại diện lớn nhất của người lao động, Công đoàn Việt Nam đã triển khai những giải pháp trọng tâm nào?

Đồng chí Nguyễn Đình Khang: Là "tổ chức đại diện lớn nhất, trung tâm tập hợp, đoàn kết giai cấp công nhân và người lao động cả nước", Công đoàn Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp tham gia cùng cả hệ thống chính trị xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, là lực lượng tiên phong trong thực hiện nhiệm vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Một là, tăng cường công tác bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao trình độ chính trị, pháp luật, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp công nhân. Công đoàn đã chủ động, linh hoạt lựa chọn nhiều hình thức, trong đó ứng dụng công nghệ số để đổi mới phương thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật; biên soạn và phát hành lượng lớn tài liệu phục vụ giáo dục chính trị, tư tưởng. Các hoạt động tư vấn, hỗ trợ pháp lý, công đoàn đã nâng cao nhận thức pháp luật, năng lực tự bảo vệ quyền lợi của người lao động, góp phần xây dựng mối quan hệ hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện thường xuyên. Các hoạt động văn hóa và mạng lưới tuyên truyền viên phát huy hiệu quả. Các mô hình thiết chế văn hóa, tổ tự quản tại khu nhà trọ, hoạt động chăm lo đời sống tinh thần tiếp tục được nhân rộng. Hàng năm, có trên 80% đoàn viên, người lao động được học tập, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.

Hai là, tích cực tham gia đào tạo, nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao năng suất lao động cho công nhân lao động. Công tác vận động đoàn viên, người lao động học tập suốt đời có nhiều mô hình hiệu quả được nhân rộng; chủ động đề xuất với chính quyền, thương lượng với người sử dụng lao động tạo điều kiện cho công nhân tham gia học tập, nâng cao tay nghề. Các cấp công đoàn đã chủ động phối hợp tổ chức nhiều hoạt động như: xây dựng quỹ khuyến học, điểm học tập; phối hợp tổ chức các lớp đào tạo, đào tạo lại; khuyến khích mô hình kèm cặp giữa công nhân bậc cao và công nhân mới.

Ba là, tạo dựng môi trường để công nhân rèn luyện và trưởng thành thông qua các phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động rộng khắp cả nước. Phong trào thi đua yêu nước, "Lao động giỏi, Lao động sáng tạo" đã có hàng triệu sáng kiến, giá trị làm lợi hàng trăm nghìn tỷ đồng đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần sáng tạo, ý thức kỷ luật và trách nhiệm xã hội của công nhân, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động trên phạm vi cả nước. Tỷ lệ khen thưởng cho công nhân lao động trực tiếp, người không giữ chức vụ lãnh đạo đạt 35,5%, vượt chỉ tiêu đề ra, thể hiện rõ định hướng lấy đoàn viên, người lao động làm trung tâm, hướng mạnh khen thưởng về cơ sở, nơi trực tiếp tổ chức và hưởng ứng các phong trào thi đua.

Bốn là, Công đoàn Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Các cấp công đoàn đã tham gia góp ý hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật; tham gia hiệu quả Hội đồng Tiền lương quốc gia, đề xuất điều chỉnh tiền lương tối thiểu; phản ánh tâm tư, nguyện vọng của công nhân, người lao động với các cấp ủy và chính quyền; đồng thời nâng cao chất lượng đối thoại và thương lượng tập thể. Kết quả, đã có 80,42% bản thỏa ước lao động tập thể được ký kết với nhiều điều khoản có lợi hơn cho người lao động như tiền lương, tiền thưởng, định mức lao động, an toàn, vệ sinh lao động, điều kiện làm việc, bữa ăn giữa ca...

Các chính sách phúc lợi đoàn viên trở thành điểm tựa thiết thực cho hàng triệu người lao động. Chương trình "Mái ấm Công đoàn", "Tết Sum vầy", "Tháng Công nhân" được triển khai sâu rộng; đã hình thành và triển khai một số mô hình mới về chăm lo, thu được kết quả tích cực, tiêu biểu như "Bữa cơm công đoàn". Qua 2 năm tổ chức (2024, 2025), đã có hơn 20 nghìn công đoàn cơ sở tổ chức "Bữa cơm Công đoàn" với sự tham dự của hơn 5 triệu đoàn viên. Có gần 23 triệu lượt đoàn viên, người lao động được chăm lo trong dịp Tết Nguyên đán với tổng số tiền gần 15 nghìn tỷ đồng.

Năm là, Công đoàn Việt Nam tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành trong xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân trong liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, đồng thời thúc đẩy quá trình "trí thức hóa" công nhân. Qua đó, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và tư duy sáng tạo của công nhân, góp phần xây dựng lực lượng lao động hiện đại, năng động, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Giai đoạn 2023-2025, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã trao 1.457 Bằng lao động sáng tạo cho các cá nhân tiêu biểu, xuất sắc.

Theo nhận định của đồng chí, đâu là những thách thức lớn hiện nay đối với tổ chức Công đoàn và công nhân?

Đồng chí Nguyễn Đình Khang: Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được, thực tiễn cho thấy, nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vẫn đứng trước nhiều thách thức, đó là:

Thứ nhất, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa theo kịp yêu cầu của mô hình tăng trưởng và chiến lược phát triển đất nước. Chất lượng nguồn nhân lực công nhân còn hạn chế; cơ cấu lao động kỹ thuật mất cân đối, thiếu hụt lực lượng công nhân lành nghề, công nhân kỹ thuật cao và công nhân có năng lực làm chủ công nghệ hiện đại. Lực lượng công nhân trẻ đông nhưng thiếu ổn định, tuổi nghề ngắn, nguy cơ dịch chuyển sang khu vực phi chính thức ngày càng nhiều, làm suy giảm tính bền vững của giai cấp công nhân trong dài hạn.

Thứ hai, những bất cập kéo dài trong phân phối lợi ích và bảo đảm an sinh xã hội làm suy giảm động lực phấn đấu của công nhân. Việc làm chưa bền vững; tiền lương tối thiểu chưa đủ sống; chênh lệch thu nhập giữa các nhóm lao động và giữa các khu vực còn lớn. Hệ thống phúc lợi xã hội, nhất là nhà ở, nhà gửi trẻ, cơ sở y tế và nơi học tập, sinh hoạt văn hóa tinh thần còn thiếu, làm gia tăng phân hóa trong nội bộ giai cấp công nhân và tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định trong quan hệ lao động.

Thứ ba, mô hình quản trị nhân lực chậm đổi mới, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững. Cường độ lao động cao, thời giờ làm việc kéo dài vẫn phổ biến, trong khi việc đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng nguồn nhân lực chưa tương xứng. Điều này hạn chế khả năng tái tạo sức lao động, học tập nâng cao kỹ năng và chăm lo đời sống toàn diện của công nhân, ảnh hưởng lâu dài đến sức cạnh tranh quốc gia.

Thứ tư, công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận về giai cấp công nhân chưa đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới. Nhiều vấn đề mới nảy sinh chưa được luận giải đầy đủ; chưa hình thành được các chủ trương, chính sách đột phá trong xây dựng giai cấp công nhân.

Thứ năm, ý thức giai cấp, bản lĩnh chính trị và hiểu biết pháp luật của một bộ phận công nhân còn hạn chế; công tác phát hiện, bồi dưỡng công nhân ưu tú để đào tạo, bố trí vào hệ thống chính trị còn bất cập. Hoạt động công đoàn, nhất là ở doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn nhiều khó khăn; việc pháp luật cho phép thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp có nguy cơ bị lợi dụng để chia rẽ giai cấp công nhân đặt ra những thách thức mới đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Thưa đồng chí, để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, Tổng LĐLĐVN sẽ đề xuất với Trung ương Đảng và Đại hội một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nào?

Đồng chí Nguyễn Đình Khang: Để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, Tổng LĐLĐVN đề xuất với Trung ương Đảng và Đại hội 5 nội dung chính.

Một là, ban hành chiến lược xây dựng giai cấp công nhân gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể hóa định hướng xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, gắn với sự phát triển của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo. Chú trọng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động để giai cấp công nhân Việt Nam thích ứng, phát triển, làm chủ tri thức, công nghệ, hội nhập quốc tế và phát huy sáng kiến, đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên phát triển mới.

Hai là, đảm bảo phân phối hài hòa lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động và xã hội mà nền tảng là ban hành quy định về mức sống tối thiểu thay cho tiền lương tối thiểu. Cần mở rộng hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội, quan tâm tới bảo hiểm xã hội, nhà ở, nhà trẻ, mẫu giáo, y tế, giáo dục và đời sống văn hóa tinh thần của công nhân; thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, khuyến khích chia sẻ lợi ích công bằng, tạo việc làm bền vững, tiền lương đủ sống và đầu tư cho phát triển con người.

Ba là, nghiên cứu giảm thời giờ làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động, gắn với nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là nhu cầu chính đáng giúp công nhân tái tạo sức lao động, chăm lo đời sống tinh thần, chăm sóc gia đình, con cái, đồng thời có thêm điều kiện học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, thúc đẩy năng suất, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế, qua đó khẳng định vai trò tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Bốn là, chú trọng hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về xây dựng giai cấp công nhân. Chỉ đạo toàn hệ thống chinh trị tổng kết 20 năm triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về "Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", trên cơ sở đó hình thành chủ trương mới lãnh đạo xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, trong trong kỷ nguyên phát triển mới.

Năm là, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp, ủng hộ của Nhà nước và hệ thống chính trị để phát huy vai trò của Công đoàn Việt Nam trong xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh. Hoàn thiện cơ chế, chủ động đấu tranh, ngăn chặn việc lợi dụng quyền thành lập tổ chức của người lao động để chia rẽ giai cấp công nhân, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và Công đoàn. Quan tâm thúc đẩy kết nạp đoàn viên công đoàn ưu tú vào Đảng, nhất là tại các doanh nghiệp chưa có tổ chức cơ sở đảng.

Với niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và thành công tốt đẹp của Đại hội XIV, giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam nguyện đoàn kết một lòng, phát huy truyền thống vẻ vang, tinh thần tiên phong cách mạng, vững bước tiến lên dưới lá cờ vinh quang của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết tâm nỗ lực không ngừng, chủ động, sáng tạo sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống; cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân chung sức, đồng lòng hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Xin trân trọng cảm ơn đồng chí!

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030

Quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030

Ngày 29/7, Đảng bộ Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị sơ kết công tác Đảng 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng
Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng

Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng

Ngày 11/6/2026, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi

Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu bài viết "Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi" của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Phản ánh “chất thép” trong ngòi bút, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới

Phản ánh “chất thép” trong ngòi bút, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới

Đây là một trong những chỉ đạo của đồng chí Lại Xuân Lâm, Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ tại Hội nghị tập huấn chuyên đề “Kỹ năng và định hướng sáng tác tác phẩm dự thi cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Đảng bộ Chính phủ lần thứ 2, năm 2026” do Đảng ủy Chính phủ tổ chức sáng ngày 15/4. Hội nghị có sự tham dự của hơn 500 đại biểu bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: "Nói đi đôi với làm, làm đến nơi đến chốn, làm ra kết quả cụ thể"

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: "Nói đi đôi với làm, làm đến nơi đến chốn, làm ra kết quả cụ thể"

Sáng 13/4, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến kết nối tới các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và điểm cầu các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, các cơ quan, đơn vị. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.
Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa XIV

Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa XIV

Sáng ngày 13/4, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả

Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu Nghị quyết không chỉ đúng mà phải được thực hiện bằng hành động quyết liệt, hiệu quả thực chất, kiên quyết chống hình thức, không để xảy ra “độ trễ” nghị quyết. Trao đổi với Báo Quân đội nhân dân, Tổng Bí thư-Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương nhấn mạnh tinh thần phải đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, siết chặt kỷ luật thực thi, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, kiểm tra, giám sát và tổ chức hành động đến cùng để đưa Nghị quyết Đại hội XIV nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Theo dõi chúng tôi trên: