Thứ tư 17/06/2026 07:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế định người phiên dịch, người dịch thuật trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề cần hoàn thiện

Chế định người phiên dịch, người dịch thuật trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề cần hoàn thiện

Bài viết nghiên cứu các quy định về người phiên dịch, người dịch thuật trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và hoạt động tham gia tố tụng của người phiên dịch, người dịch thuật trong thực tiễn, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định về người phiên dịch, người dịch thuật trong thời gian tới.

1. Quy định về người phiên dịch, người dịch thuật trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021)

Chế định “người phiên dịch, người dịch thuật” đã xuất hiện từ rất sớm trong tố tụng hình sự (TTHS) khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988. Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành, tiếng nói và chữ viết dùng trong TTHS là tiếng Việt: “Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này phải có phiên dịch”[1], như: Người nước ngoài, người dân tộc thiểu số hoặc người có nhược điểm về thể chất (người câm, điếc).

Để khắc phục quy định chưa cụ thể về tiêu chuẩn của người phiên dịch và để việc mời người phiên dịch tham gia tố tụng được thực hiện thống nhất, bảo đảm chất lượng phiên dịch cũng như phù hợp với trường hợp dịch văn bản, tài liệu tố tụng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định rõ hơn địa vị pháp lý của người phiên dịch và bổ sung thêm người tham gia tố tụng là người dịch thuật. Theo khoản 1 Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) quy định: “Người phiên dịch, người dịch thuật là người có khả năng phiên dịch, dịch thuật và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt”. Như vậy, có thể hiểu, người phiên dịch, người dịch thuật là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại, trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt. Người biết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc người biết nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật nghe, người khuyết tật nói cũng được coi là người phiên dịch. Trường hợp chỉ có người đại diện hoặc người thân thích của người khuyết tật nhìn hoặc người khuyết tật nghe, nói biết được chữ, ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật thì người đại diện hoặc người thân thích có thể được cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) chấp nhận làm người phiên dịch cho người khuyết tật đó.

2. Thực tiễn hoạt động tham gia tố tụng của người phiên dịch, người dịch thuật

Thực tiễn TTHS cho thấy, khi THTT các vụ án do người nước ngoài, người dân tộc thiểu số hoặc người có nhược điểm về thể chất (người câm, điếc) thực hiện, đa số các trường hợp cơ quan THTT đều phải trưng cầu phiên dịch. Một số trường hợp tiến hành khởi tố, bắt, giam đối tượng không có người phiên dịch, khi người tiến hành tố tụng đọc và giải thích các văn bản tố tụng, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng chỉ truyền đạt bằng tiếng Việt nên đối tượng không hiểu dẫn đến không hợp tác hoặc có hiểu nhưng vờ như không hiểu để gây khó khăn, cản trở hoạt động tố tụng. Xét về tính hợp pháp của các hoạt động này là vi phạm pháp luật tố tụng, không bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia TTHS nói chung và của người nước ngoài, người dân tộc thiểu số hoặc người có nhược điểm về thể chất (người câm, điếc) nói riêng.

Khi tiến hành lấy lời khai, đối chất, thẩm vấn tại phiên tòa, các đối tượng là người nước ngoài, người dân tộc thiểu số hoặc người có nhược điểm về thể chất (người câm, điếc), cơ quan THTT, người THTT thường phải mời người phiên dịch để họ tham gia phiên dịch trong TTHS. Thực tế hiện nay, hệ thống cơ quan có chức năng phiên dịch chuyên ngành và không chuyên ngành, quy định về điều kiện, trách nhiệm của người phiên dịch trong từng lĩnh vực chưa rõ ràng, cụ thể, thiếu thống nhất, đồng bộ, dẫn đến tình trạng tùy tiện trong việc trưng cầu phiên dịch, hiệu quả thấp. Mặt khác, pháp luật TTHS quy định cho phép người tham gia tố tụng được quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, vì vậy, một số đối tượng là người nước ngoài mặc dù biết tiếng Việt hay một số ngôn ngữ thông dụng khác nhưng không sử dụng mà sử dụng ngôn ngữ bản địa khi giao tiếp với người THTT, hoặc yêu cầu mời người phiên dịch tiếng bản địa. Trong khi đó, người phiên dịch hiện nay chủ yếu dùng tiếng Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, các tiếng khác như: Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Iran… có rất ít người phiên dịch dẫn đến tình trạng không có người phiên dịch trong một số hoạt động TTHS.

Như vậy, người phiên dịch là một trong những người tham gia tố tụng, họ có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính khách quan, tính hợp pháp của nội dung hoạt động TTHS. Nếu người phiên dịch dù cố ý hay vô ý phiên dịch không đầy đủ, không đúng nội dung của các thông tin trong ngôn ngữ của người tham gia tố tụng ra tiếng Việt thì sẽ làm giảm hoặc làm mất tính khách quan của thông tin. Chính vì tầm quan trọng như vậy của người phiên dịch trong việc bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ trong hoạt động TTHS nên pháp luật TTHS hiện hành quy định “người phiên dịch” là người tham gia tố tụng chứ không phải là người THTT. Theo pháp luật TTHS, người THTT là người có trách nhiệm chứng minh, do vậy, họ không thể đồng thời làm thêm nhiệm vụ của người phiên dịch vì sẽ không bảo đảm tính khách quan của chứng cứ. Nói cách khác, để bảo đảm tính xác thực, tính khách quan của hoạt động TTHS thì trong những trường hợp đó, phải có người phiên dịch, người phiên dịch phải là một người khác, không phải là người THTT của vụ án đó.

Trong thực tiễn hoạt động tư pháp hình sự hiện nay ở nhiều nơi, nhất là ở miền núi, vùng cao, vùng sâu còn tình trạng thiếu người phiên dịch, vì vậy, cơ quan THTT đã trưng dụng cả những cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân, thậm chí cả điều tra viên làm người phiên dịch ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số. Trường hợp này đặt ra vấn đề là, những tình tiết do người phiên dịch này cung cấp có hợp pháp hay không? Về vấn đề này, tác giả cho rằng, nếu vừa là người phiên dịch vừa là điều tra viên hay kiểm sát viên THTT trong vụ án đó thì trường hợp này không hợp pháp và đương nhiên, các tình tiết do người phiên dịch này cung cấp không có giá trị chứng minh; còn nếu người phiên dịch này tuy là cán bộ, chiến sỹ công an, là điều tra viên hay kiểm sát viên nhưng không là người THTT trong vụ án đó, thì các tình tiết do người phiên dịch này cung cấp là hợp pháp, có thể sử dụng trong TTHS. Trong trường hợp này, cán bộ, chiến sỹ công an, điều tra viên hay kiểm sát viên đó sẽ tham gia tố tụng với tư cách là người tham gia tố tụng, họ sẽ có những quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch theo quy định của pháp luật. Họ có thể bị Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa để xác định tính chân thực của những thông tin mà họ đã phiên dịch. Cơ sở pháp lý để xác định họ có phải là người THTT hay không là ở chỗ họ có quyết định phân công làm người THTT hay không? Chất lượng phiên dịch cũng là vấn đề đáng quan tâm hiện nay, nhiều phiên tòa hình sự bị cáo, người bị hại là người nước ngoài phản ứng vì phiên dịch viên dịch sai hay dịch không đủ nghĩa; thậm chí có trường hợp, người tham gia tố tụng phải hỗ trợ người phiên dịch viên. Một số người phiên dịch không am hiểu thuật ngữ pháp lý cũng là một trở ngại lớn cho công tác xét xử của Tòa án hiện nay.

Mặt khác, khi thực hiện hoạt động tố tụng mời người phiên dịch, người dịch thuật để dịch các ngôn ngữ khác, dịch cử chỉ của người câm, điếc ra tiếng Việt hoặc dịch các quyết định pháp lý từ tiếng Việt ra ngôn ngữ mà người tham gia tố tụng sử dụng (ví dụ như, dịch bản cáo trạng ra tiếng Anh để giao cáo trạng cho bị can, bị cáo là người nước ngoài) hoặc khi trưng cầu giám định thì theo nguyên tắc chung đối với các hoạt động tố tụng trong vụ án hình sự và theo Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), việc chi trả kinh phí do các cơ quan THTT hình sự chịu trách nhiệm; kinh phí này được lấy từ ngân sách nhà nước; cơ quan THTT triệu tập người phiên dịch có trách nhiệm thanh toán chi phí cho người phiên dịch. Chi phí cho người phiên dịch được lấy từ kinh phí hoạt động hàng năm của cơ quan THTT. Các khoản kinh phí này là loại kinh phí đặc thù theo dự toán hàng năm của các cơ quan THTT.

Hiện nay, khi cần mở phiên xét xử bị cáo là người nước ngoài, Tòa án phải gửi công văn cho Sở Ngoại vụ để Sở Ngoại vụ cử người phiên dịch. Vấn đề đặt ra là, không phải lúc nào Sở Ngoại vụ cũng đáp ứng yêu cầu của cơ quan THTT, vì họ không có chức năng đào tạo, cung cấp phiên dịch viên cho Tòa án. Vì thế, các thẩm phán, thư ký Tòa án thường phải tự liên hệ để tìm người phiên dịch tại các hội dịch thuật. Tuy nhiên, việc tìm và mời được người phiên dịch, người dịch thuật là rất khó khăn, bởi nhiều lý do như: (i) Nhiều người có tâm lý ngại mất thời gian, ngại rắc rối nên không muốn tham gia tố tụng với tư cách là người phiên dịch; (ii) Chi phí mà cơ quan THTT trả cho người phiên dịch, người dịch thuật theo quy định của pháp luật hiện hành là chưa tương xứng và khó thực hiện. Người phiên dịch tại phiên họp giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính và các hoạt động tố tụng khác giải quyết vụ án hình sự, được hưởng chế độ tiền lương, thù lao cho người làm chứng, chế độ tiền công cho người phiên dịch bằng 50% mức chi phí đối với người làm chứng, người phiên dịch khi tham gia phiên tòa quy định tại Điều 16, Điều 17 Nghị định số 81/2014/NĐ-CP ngày 14/8/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của pháp lệnh chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng.

Thực tiễn cho thấy, người phiên dịch, người dịch thuật tham gia rất nhiều hoạt động TTHS như: Người phiên dịch dịch lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị can, bị cáo…; người phiên dịch tham gia hoạt động đối chất, nhận dạng, xem xét dấu vết trên thân thể; người phiên dịch tham gia khi bắt, khám xét, kê biên tài sản; người phiên dịch tham gia phiên tòa; người dịch thuật dịch bản cáo trạng và các quyết định pháp lý…

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của người phiên dịch mà không quy định về quyền của họ. Tuy nhiên, trên cơ sở kế thừa quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của người phiên dịch nhằm bảo đảm thuận lợi cho hoạt động TTHS, phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phiên dịch, người dịch thuật, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng đã bổ sung những quy định về người phiên dịch, người dịch thuật. Theo đó, Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định rõ: “2. Người phiên dịch, người dịch thuật có quyền: a. Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b. Đề nghị cơ quan yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa; c. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc phiên dịch, dịch thuật; d. Được cơ quan yêu cầu chi trả thù lao phiên dịch, dịch thuật và các chế độ khác theo quy định của pháp luật. 3. Người phiên dịch, người dịch thuật có nghĩa vụ: a. Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; b. Phiên dịch, dịch thuật trung thực. Nếu phiên dịch, dịch thuật gian dối thì người phiên dịch, người dịch thuật phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự; c. Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi phiên dịch, dịch thuật; d. Phải cam đoan trước cơ quan đã yêu cầu về việc thực hiện nghĩa vụ của mình. 4. Người phiên dịch, người dịch thuật phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp: a. Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo; b. Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản trong vụ án đó; c. Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó. 5. Việc thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật do cơ quan yêu cầu phiên dịch, dịch thuật quyết định. 6. Những quy định tại Điều này cũng áp dụng đối với người biết được cử chỉ, hành vi của người câm, người điếc, chữ của người mù”.

Như vậy, có thể thấy, các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về người phiên dịch, người dịch thuật cơ bản đáp ứng được yêu cầu, khắc phục được một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự. Các quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch, người dịch thuật được quy định khá chi tiết và cụ thể. Trong số các nghĩa vụ của người phiên dịch, người dịch thuật, theo điểm a khoản 3 Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì họ phải “có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”. Điều này có nghĩa, sự có mặt của họ trong các giai đoạn TTHS là nghĩa vụ bắt buộc. Tuy nhiên, vì họ chỉ là người hỗ trợ cho cơ quan có thẩm quyền THTT trong quá trình giải quyết vụ án nên có thể vì nhiều lý do khác nhau, họ có thể không muốn thực hiện yêu cầu này từ cơ quan chức năng. Đối với phần lớn người tham gia tố tụng, pháp luật hiện hành đều có quy định về biện pháp cưỡng chế khi họ không thực hiện yêu cầu này mà không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Hoặc, một số tư cách tố tụng mặc dù pháp luật không quy định rõ về trường hợp họ không có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tố tụng mà không có lý do chính đáng nhưng vì họ là người có quyền hoặc lợi ích liên quan trực tiếp đến vụ án nên ít nhất, nếu họ không tham gia thì có thể quyền lợi của họ bị ảnh hưởng. Trong khi đó, người phiên dịch, dịch thuật không thuộc nhóm người có quyền và lợi ích liên quan tới vụ án thì việc từ chối yêu cầu tham gia vụ án trong thực tế có thể sẽ xảy ra và điều này sẽ gây ra những khó khăn nhất định cho quá trình giải quyết vụ án, đặc biệt là những vụ án mà người tham gia tố tụng có ngôn ngữ riêng biệt mà số người phiên dịch được lại rất ít. Vì vậy, khi người phiên dịch, người dịch thuật từ chối yêu cầu tham gia tố tụng mà không có lý do chính đáng nào thì có bị cơ quan có thẩm quyền dẫn giải hay thực hiện các biện pháp, chế tài nào hay không? Vấn đề này vẫn đang còn bị bỏ ngỏ, chưa có cơ sở pháp lý cụ thể để giải quyết[2].

3. Một số kiến nghị

Trên cơ sở phân tích thực tiễn hoạt động tham gia tố tụng của người phiên dịch, người dịch thuật, để quá trình áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được thuận lợi và hướng đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia TTHS nói chung, người phiên dịch, người dịch thuật nói riêng, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:

Một là, sửa đổi, bổ sung một số quyền, nghĩa vụ của người phiên dịch, người dịch thuật trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Cụ thể:

- Quyền đề nghị người THTT, người tham gia tố tụng giải thích thêm lời nói cần dịch: Vấn đề này sẽ bảo đảm thực hiện có hiệu quả trường hợp người tham gia TTHS không biết tiếng Việt, là người câm, điếc thì người phiên dịch, người dịch thuật phải dịch cho họ nghe, hiểu lời trình bày, các câu hỏi, câu trả lời tại cơ quan THTT, cũng như nội dung quyết định của cơ quan THTT và các vấn đề khác có liên quan đến họ.

- Quyền được đọc, ghi riêng ý kiến kết luận của mình và xác nhận nội dung lời dịch trong văn bản tố tụng hình sự: Đây là một văn bản pháp lý rất quan trọng, không chỉ để kiểm tra xem việc ghi chép lời dịch của người THTT có trung thực, khách quan hay không mà còn nhằm xác nhận tư cách địa vị pháp lý trong TTHS của người phiên dịch và người dịch thuật.

- Quyền từ chối phiên dịch, dịch thuật trong trường hợp có lý do chính đáng: Người phiên dịch, người dịch thuật tham gia TTHS là nhằm hỗ trợ cơ quan THTT, chứ họ không có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan đến vụ án hình sự. Vì vậy, pháp luật TTHS nên quy định cho họ quyền này khi có lý do bất khả kháng không thể tham gia TTHS được.

Hai là, kiến nghị xây dựng và ban hành các quy định về cơ quan có chức năng phiên dịch và người phiên dịch. Cụ thể:

- Từ những khó khăn trong điều tra, truy tố, xét xử người nước ngoài phạm tội, người câm, điếc vì bất đồng ngôn ngữ và những khó khăn khi mời người phiên dịch, tác giả kiến nghị thành lập tổ chức “phiên dịch công”. Thực tiễn tố tụng hình sự cho thấy, các hoạt động lấy lời khai thu thập tài liệu, chứng cứ, tống đạt các quyết định của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử đối với các bị cáo người nước ngoài, người câm, điếc đều cần phiên dịch viên hỗ trợ. Hiện nay, chưa có cơ chế “phiên dịch công” thực hiện theo yêu cầu của cơ quan THTT mà thường phải thực hiện thông qua việc ký hợp đồng dịch vụ với các trung tâm dịch thuật và tính phí theo giá thị trường. Vấn đề này dẫn đến việc, các cơ quan THTT đang mất tính chủ động, phụ thuộc rất nhiều vào các trung tâm dịch thuật, trong khi đó, tiền thù lao cao mà chất lượng phiên dịch trong một số trường hợp lại chưa thực sự hiệu quả. Vì vậy, cần lập tổ chức phiên dịch chuyên ngành - tổ chức “phiên dịch công” do nhà nước quản lý, không chỉ riêng cơ quan THTT mà còn giúp nhiều cơ quan nhà nước khác giải quyết những vấn đề liên quan đến người nước ngoài. Nhà nước nên chủ động đầu tư, đào tạo, thẩm định trước khi công nhận “phiên dịch viên công”. Nếu có tổ chức này, cơ quan THTT chỉ cần gửi yêu cầu là trung tâm có trách nhiệm cử người phiên dịch tham gia hoạt động TTHS. Điều này đáp ứng yêu cầu cho hoạt động TTHS trong thực tiễn hiện nay, khi mà ngày càng có nhiều vụ án liên quan đến người nước ngoài. Mặt khác, tổ chức “phiên dịch công” ngoài việc phiên dịch cho các cơ quan THTT khi có yêu cầu thì vẫn có thể thực hiện việc phiên dịch theo hợp đồng với cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp nào đó để tăng thu nhập.

- Việc Nhà nước đứng ra thành lập một đội ngũ phiên dịch viên có thẩm định chất lượng và ràng buộc trách nhiệm khi thực hiện công việc phiên dịch là cần thiết. Trên thực tế, việc phiên dịch, dịch thuật rất dễ “tam sao thất bản” nên cần có sự quản lý, có điều lệ, quy chế về trách nhiệm. Từ đó, sẽ giúp công tác xử lý vụ̣ án có người nước ngoài, người có nhược điểm về thể chất (người câm, điếc) tham gia tố tụng của các cơ quan THTT hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, cũng cần quy định một số tiêu chuẩn nhất định đối với các phiên dịch viên như ngoài khả năng sử dụng ngôn ngữ nước ngoài lưu loát, họ còn phải có kiến thức nhất định về mặt pháp lý, đi kèm với đó là chế độ thù lao phù hợp cho họ, như vậy, góp phần nâng cao chất lượng phiên dịch nói riêng và bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động TTHS ở Việt Nam nói chung nhằm xử lý đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

TS. Trần Thảo

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Điều 29 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

[2]. Phạm Tú Anh, Hoàn thiện quy định về địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: