Thứ sáu 17/04/2026 06:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế định người phiên dịch, người dịch thuật trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề cần hoàn thiện

Chế định người phiên dịch, người dịch thuật trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề cần hoàn thiện

Bài viết nghiên cứu các quy định về người phiên dịch, người dịch thuật trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và hoạt động tham gia tố tụng của người phiên dịch, người dịch thuật trong thực tiễn, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định về người phiên dịch, người dịch thuật trong thời gian tới.

1. Quy định về người phiên dịch, người dịch thuật trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021)

Chế định “người phiên dịch, người dịch thuật” đã xuất hiện từ rất sớm trong tố tụng hình sự (TTHS) khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988. Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành, tiếng nói và chữ viết dùng trong TTHS là tiếng Việt: “Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này phải có phiên dịch”[1], như: Người nước ngoài, người dân tộc thiểu số hoặc người có nhược điểm về thể chất (người câm, điếc).

Để khắc phục quy định chưa cụ thể về tiêu chuẩn của người phiên dịch và để việc mời người phiên dịch tham gia tố tụng được thực hiện thống nhất, bảo đảm chất lượng phiên dịch cũng như phù hợp với trường hợp dịch văn bản, tài liệu tố tụng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định rõ hơn địa vị pháp lý của người phiên dịch và bổ sung thêm người tham gia tố tụng là người dịch thuật. Theo khoản 1 Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) quy định: “Người phiên dịch, người dịch thuật là người có khả năng phiên dịch, dịch thuật và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt”. Như vậy, có thể hiểu, người phiên dịch, người dịch thuật là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại, trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt. Người biết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc người biết nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật nghe, người khuyết tật nói cũng được coi là người phiên dịch. Trường hợp chỉ có người đại diện hoặc người thân thích của người khuyết tật nhìn hoặc người khuyết tật nghe, nói biết được chữ, ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật thì người đại diện hoặc người thân thích có thể được cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) chấp nhận làm người phiên dịch cho người khuyết tật đó.

2. Thực tiễn hoạt động tham gia tố tụng của người phiên dịch, người dịch thuật

Thực tiễn TTHS cho thấy, khi THTT các vụ án do người nước ngoài, người dân tộc thiểu số hoặc người có nhược điểm về thể chất (người câm, điếc) thực hiện, đa số các trường hợp cơ quan THTT đều phải trưng cầu phiên dịch. Một số trường hợp tiến hành khởi tố, bắt, giam đối tượng không có người phiên dịch, khi người tiến hành tố tụng đọc và giải thích các văn bản tố tụng, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng chỉ truyền đạt bằng tiếng Việt nên đối tượng không hiểu dẫn đến không hợp tác hoặc có hiểu nhưng vờ như không hiểu để gây khó khăn, cản trở hoạt động tố tụng. Xét về tính hợp pháp của các hoạt động này là vi phạm pháp luật tố tụng, không bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia TTHS nói chung và của người nước ngoài, người dân tộc thiểu số hoặc người có nhược điểm về thể chất (người câm, điếc) nói riêng.

Khi tiến hành lấy lời khai, đối chất, thẩm vấn tại phiên tòa, các đối tượng là người nước ngoài, người dân tộc thiểu số hoặc người có nhược điểm về thể chất (người câm, điếc), cơ quan THTT, người THTT thường phải mời người phiên dịch để họ tham gia phiên dịch trong TTHS. Thực tế hiện nay, hệ thống cơ quan có chức năng phiên dịch chuyên ngành và không chuyên ngành, quy định về điều kiện, trách nhiệm của người phiên dịch trong từng lĩnh vực chưa rõ ràng, cụ thể, thiếu thống nhất, đồng bộ, dẫn đến tình trạng tùy tiện trong việc trưng cầu phiên dịch, hiệu quả thấp. Mặt khác, pháp luật TTHS quy định cho phép người tham gia tố tụng được quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, vì vậy, một số đối tượng là người nước ngoài mặc dù biết tiếng Việt hay một số ngôn ngữ thông dụng khác nhưng không sử dụng mà sử dụng ngôn ngữ bản địa khi giao tiếp với người THTT, hoặc yêu cầu mời người phiên dịch tiếng bản địa. Trong khi đó, người phiên dịch hiện nay chủ yếu dùng tiếng Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, các tiếng khác như: Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Iran… có rất ít người phiên dịch dẫn đến tình trạng không có người phiên dịch trong một số hoạt động TTHS.

Như vậy, người phiên dịch là một trong những người tham gia tố tụng, họ có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính khách quan, tính hợp pháp của nội dung hoạt động TTHS. Nếu người phiên dịch dù cố ý hay vô ý phiên dịch không đầy đủ, không đúng nội dung của các thông tin trong ngôn ngữ của người tham gia tố tụng ra tiếng Việt thì sẽ làm giảm hoặc làm mất tính khách quan của thông tin. Chính vì tầm quan trọng như vậy của người phiên dịch trong việc bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ trong hoạt động TTHS nên pháp luật TTHS hiện hành quy định “người phiên dịch” là người tham gia tố tụng chứ không phải là người THTT. Theo pháp luật TTHS, người THTT là người có trách nhiệm chứng minh, do vậy, họ không thể đồng thời làm thêm nhiệm vụ của người phiên dịch vì sẽ không bảo đảm tính khách quan của chứng cứ. Nói cách khác, để bảo đảm tính xác thực, tính khách quan của hoạt động TTHS thì trong những trường hợp đó, phải có người phiên dịch, người phiên dịch phải là một người khác, không phải là người THTT của vụ án đó.

Trong thực tiễn hoạt động tư pháp hình sự hiện nay ở nhiều nơi, nhất là ở miền núi, vùng cao, vùng sâu còn tình trạng thiếu người phiên dịch, vì vậy, cơ quan THTT đã trưng dụng cả những cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân, thậm chí cả điều tra viên làm người phiên dịch ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số. Trường hợp này đặt ra vấn đề là, những tình tiết do người phiên dịch này cung cấp có hợp pháp hay không? Về vấn đề này, tác giả cho rằng, nếu vừa là người phiên dịch vừa là điều tra viên hay kiểm sát viên THTT trong vụ án đó thì trường hợp này không hợp pháp và đương nhiên, các tình tiết do người phiên dịch này cung cấp không có giá trị chứng minh; còn nếu người phiên dịch này tuy là cán bộ, chiến sỹ công an, là điều tra viên hay kiểm sát viên nhưng không là người THTT trong vụ án đó, thì các tình tiết do người phiên dịch này cung cấp là hợp pháp, có thể sử dụng trong TTHS. Trong trường hợp này, cán bộ, chiến sỹ công an, điều tra viên hay kiểm sát viên đó sẽ tham gia tố tụng với tư cách là người tham gia tố tụng, họ sẽ có những quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch theo quy định của pháp luật. Họ có thể bị Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa để xác định tính chân thực của những thông tin mà họ đã phiên dịch. Cơ sở pháp lý để xác định họ có phải là người THTT hay không là ở chỗ họ có quyết định phân công làm người THTT hay không? Chất lượng phiên dịch cũng là vấn đề đáng quan tâm hiện nay, nhiều phiên tòa hình sự bị cáo, người bị hại là người nước ngoài phản ứng vì phiên dịch viên dịch sai hay dịch không đủ nghĩa; thậm chí có trường hợp, người tham gia tố tụng phải hỗ trợ người phiên dịch viên. Một số người phiên dịch không am hiểu thuật ngữ pháp lý cũng là một trở ngại lớn cho công tác xét xử của Tòa án hiện nay.

Mặt khác, khi thực hiện hoạt động tố tụng mời người phiên dịch, người dịch thuật để dịch các ngôn ngữ khác, dịch cử chỉ của người câm, điếc ra tiếng Việt hoặc dịch các quyết định pháp lý từ tiếng Việt ra ngôn ngữ mà người tham gia tố tụng sử dụng (ví dụ như, dịch bản cáo trạng ra tiếng Anh để giao cáo trạng cho bị can, bị cáo là người nước ngoài) hoặc khi trưng cầu giám định thì theo nguyên tắc chung đối với các hoạt động tố tụng trong vụ án hình sự và theo Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), việc chi trả kinh phí do các cơ quan THTT hình sự chịu trách nhiệm; kinh phí này được lấy từ ngân sách nhà nước; cơ quan THTT triệu tập người phiên dịch có trách nhiệm thanh toán chi phí cho người phiên dịch. Chi phí cho người phiên dịch được lấy từ kinh phí hoạt động hàng năm của cơ quan THTT. Các khoản kinh phí này là loại kinh phí đặc thù theo dự toán hàng năm của các cơ quan THTT.

Hiện nay, khi cần mở phiên xét xử bị cáo là người nước ngoài, Tòa án phải gửi công văn cho Sở Ngoại vụ để Sở Ngoại vụ cử người phiên dịch. Vấn đề đặt ra là, không phải lúc nào Sở Ngoại vụ cũng đáp ứng yêu cầu của cơ quan THTT, vì họ không có chức năng đào tạo, cung cấp phiên dịch viên cho Tòa án. Vì thế, các thẩm phán, thư ký Tòa án thường phải tự liên hệ để tìm người phiên dịch tại các hội dịch thuật. Tuy nhiên, việc tìm và mời được người phiên dịch, người dịch thuật là rất khó khăn, bởi nhiều lý do như: (i) Nhiều người có tâm lý ngại mất thời gian, ngại rắc rối nên không muốn tham gia tố tụng với tư cách là người phiên dịch; (ii) Chi phí mà cơ quan THTT trả cho người phiên dịch, người dịch thuật theo quy định của pháp luật hiện hành là chưa tương xứng và khó thực hiện. Người phiên dịch tại phiên họp giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính và các hoạt động tố tụng khác giải quyết vụ án hình sự, được hưởng chế độ tiền lương, thù lao cho người làm chứng, chế độ tiền công cho người phiên dịch bằng 50% mức chi phí đối với người làm chứng, người phiên dịch khi tham gia phiên tòa quy định tại Điều 16, Điều 17 Nghị định số 81/2014/NĐ-CP ngày 14/8/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của pháp lệnh chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng.

Thực tiễn cho thấy, người phiên dịch, người dịch thuật tham gia rất nhiều hoạt động TTHS như: Người phiên dịch dịch lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị can, bị cáo…; người phiên dịch tham gia hoạt động đối chất, nhận dạng, xem xét dấu vết trên thân thể; người phiên dịch tham gia khi bắt, khám xét, kê biên tài sản; người phiên dịch tham gia phiên tòa; người dịch thuật dịch bản cáo trạng và các quyết định pháp lý…

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của người phiên dịch mà không quy định về quyền của họ. Tuy nhiên, trên cơ sở kế thừa quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của người phiên dịch nhằm bảo đảm thuận lợi cho hoạt động TTHS, phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phiên dịch, người dịch thuật, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng đã bổ sung những quy định về người phiên dịch, người dịch thuật. Theo đó, Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định rõ: “2. Người phiên dịch, người dịch thuật có quyền: a. Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; b. Đề nghị cơ quan yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa; c. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc phiên dịch, dịch thuật; d. Được cơ quan yêu cầu chi trả thù lao phiên dịch, dịch thuật và các chế độ khác theo quy định của pháp luật. 3. Người phiên dịch, người dịch thuật có nghĩa vụ: a. Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; b. Phiên dịch, dịch thuật trung thực. Nếu phiên dịch, dịch thuật gian dối thì người phiên dịch, người dịch thuật phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự; c. Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi phiên dịch, dịch thuật; d. Phải cam đoan trước cơ quan đã yêu cầu về việc thực hiện nghĩa vụ của mình. 4. Người phiên dịch, người dịch thuật phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp: a. Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo; b. Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản trong vụ án đó; c. Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó. 5. Việc thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật do cơ quan yêu cầu phiên dịch, dịch thuật quyết định. 6. Những quy định tại Điều này cũng áp dụng đối với người biết được cử chỉ, hành vi của người câm, người điếc, chữ của người mù”.

Như vậy, có thể thấy, các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về người phiên dịch, người dịch thuật cơ bản đáp ứng được yêu cầu, khắc phục được một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự. Các quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch, người dịch thuật được quy định khá chi tiết và cụ thể. Trong số các nghĩa vụ của người phiên dịch, người dịch thuật, theo điểm a khoản 3 Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì họ phải “có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”. Điều này có nghĩa, sự có mặt của họ trong các giai đoạn TTHS là nghĩa vụ bắt buộc. Tuy nhiên, vì họ chỉ là người hỗ trợ cho cơ quan có thẩm quyền THTT trong quá trình giải quyết vụ án nên có thể vì nhiều lý do khác nhau, họ có thể không muốn thực hiện yêu cầu này từ cơ quan chức năng. Đối với phần lớn người tham gia tố tụng, pháp luật hiện hành đều có quy định về biện pháp cưỡng chế khi họ không thực hiện yêu cầu này mà không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Hoặc, một số tư cách tố tụng mặc dù pháp luật không quy định rõ về trường hợp họ không có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tố tụng mà không có lý do chính đáng nhưng vì họ là người có quyền hoặc lợi ích liên quan trực tiếp đến vụ án nên ít nhất, nếu họ không tham gia thì có thể quyền lợi của họ bị ảnh hưởng. Trong khi đó, người phiên dịch, dịch thuật không thuộc nhóm người có quyền và lợi ích liên quan tới vụ án thì việc từ chối yêu cầu tham gia vụ án trong thực tế có thể sẽ xảy ra và điều này sẽ gây ra những khó khăn nhất định cho quá trình giải quyết vụ án, đặc biệt là những vụ án mà người tham gia tố tụng có ngôn ngữ riêng biệt mà số người phiên dịch được lại rất ít. Vì vậy, khi người phiên dịch, người dịch thuật từ chối yêu cầu tham gia tố tụng mà không có lý do chính đáng nào thì có bị cơ quan có thẩm quyền dẫn giải hay thực hiện các biện pháp, chế tài nào hay không? Vấn đề này vẫn đang còn bị bỏ ngỏ, chưa có cơ sở pháp lý cụ thể để giải quyết[2].

3. Một số kiến nghị

Trên cơ sở phân tích thực tiễn hoạt động tham gia tố tụng của người phiên dịch, người dịch thuật, để quá trình áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được thuận lợi và hướng đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia TTHS nói chung, người phiên dịch, người dịch thuật nói riêng, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:

Một là, sửa đổi, bổ sung một số quyền, nghĩa vụ của người phiên dịch, người dịch thuật trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Cụ thể:

- Quyền đề nghị người THTT, người tham gia tố tụng giải thích thêm lời nói cần dịch: Vấn đề này sẽ bảo đảm thực hiện có hiệu quả trường hợp người tham gia TTHS không biết tiếng Việt, là người câm, điếc thì người phiên dịch, người dịch thuật phải dịch cho họ nghe, hiểu lời trình bày, các câu hỏi, câu trả lời tại cơ quan THTT, cũng như nội dung quyết định của cơ quan THTT và các vấn đề khác có liên quan đến họ.

- Quyền được đọc, ghi riêng ý kiến kết luận của mình và xác nhận nội dung lời dịch trong văn bản tố tụng hình sự: Đây là một văn bản pháp lý rất quan trọng, không chỉ để kiểm tra xem việc ghi chép lời dịch của người THTT có trung thực, khách quan hay không mà còn nhằm xác nhận tư cách địa vị pháp lý trong TTHS của người phiên dịch và người dịch thuật.

- Quyền từ chối phiên dịch, dịch thuật trong trường hợp có lý do chính đáng: Người phiên dịch, người dịch thuật tham gia TTHS là nhằm hỗ trợ cơ quan THTT, chứ họ không có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan đến vụ án hình sự. Vì vậy, pháp luật TTHS nên quy định cho họ quyền này khi có lý do bất khả kháng không thể tham gia TTHS được.

Hai là, kiến nghị xây dựng và ban hành các quy định về cơ quan có chức năng phiên dịch và người phiên dịch. Cụ thể:

- Từ những khó khăn trong điều tra, truy tố, xét xử người nước ngoài phạm tội, người câm, điếc vì bất đồng ngôn ngữ và những khó khăn khi mời người phiên dịch, tác giả kiến nghị thành lập tổ chức “phiên dịch công”. Thực tiễn tố tụng hình sự cho thấy, các hoạt động lấy lời khai thu thập tài liệu, chứng cứ, tống đạt các quyết định của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử đối với các bị cáo người nước ngoài, người câm, điếc đều cần phiên dịch viên hỗ trợ. Hiện nay, chưa có cơ chế “phiên dịch công” thực hiện theo yêu cầu của cơ quan THTT mà thường phải thực hiện thông qua việc ký hợp đồng dịch vụ với các trung tâm dịch thuật và tính phí theo giá thị trường. Vấn đề này dẫn đến việc, các cơ quan THTT đang mất tính chủ động, phụ thuộc rất nhiều vào các trung tâm dịch thuật, trong khi đó, tiền thù lao cao mà chất lượng phiên dịch trong một số trường hợp lại chưa thực sự hiệu quả. Vì vậy, cần lập tổ chức phiên dịch chuyên ngành - tổ chức “phiên dịch công” do nhà nước quản lý, không chỉ riêng cơ quan THTT mà còn giúp nhiều cơ quan nhà nước khác giải quyết những vấn đề liên quan đến người nước ngoài. Nhà nước nên chủ động đầu tư, đào tạo, thẩm định trước khi công nhận “phiên dịch viên công”. Nếu có tổ chức này, cơ quan THTT chỉ cần gửi yêu cầu là trung tâm có trách nhiệm cử người phiên dịch tham gia hoạt động TTHS. Điều này đáp ứng yêu cầu cho hoạt động TTHS trong thực tiễn hiện nay, khi mà ngày càng có nhiều vụ án liên quan đến người nước ngoài. Mặt khác, tổ chức “phiên dịch công” ngoài việc phiên dịch cho các cơ quan THTT khi có yêu cầu thì vẫn có thể thực hiện việc phiên dịch theo hợp đồng với cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp nào đó để tăng thu nhập.

- Việc Nhà nước đứng ra thành lập một đội ngũ phiên dịch viên có thẩm định chất lượng và ràng buộc trách nhiệm khi thực hiện công việc phiên dịch là cần thiết. Trên thực tế, việc phiên dịch, dịch thuật rất dễ “tam sao thất bản” nên cần có sự quản lý, có điều lệ, quy chế về trách nhiệm. Từ đó, sẽ giúp công tác xử lý vụ̣ án có người nước ngoài, người có nhược điểm về thể chất (người câm, điếc) tham gia tố tụng của các cơ quan THTT hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, cũng cần quy định một số tiêu chuẩn nhất định đối với các phiên dịch viên như ngoài khả năng sử dụng ngôn ngữ nước ngoài lưu loát, họ còn phải có kiến thức nhất định về mặt pháp lý, đi kèm với đó là chế độ thù lao phù hợp cho họ, như vậy, góp phần nâng cao chất lượng phiên dịch nói riêng và bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động TTHS ở Việt Nam nói chung nhằm xử lý đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

TS. Trần Thảo

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Điều 29 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

[2]. Phạm Tú Anh, Hoàn thiện quy định về địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: