Thứ ba 25/08/2026 01:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật với công tác xử lý văn bản trái pháp luật

Với nhiệm vụ bảo đảm trật tự, kỷ cương trong việc xây dựng và ban hành văn bản tại các bộ, ngành và địa phương, trong năm qua, thông qua hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, nhiều văn bản trái pháp luật đã được xử lý kịp thời ngay khi mới ban hành đã góp phần từng bước hạn chế tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo của hệ thống chính sách, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật không chỉ trong phạm vi các văn bản thuộc đối tượng kiểm tra mà còn là cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật khác như luật, pháp lệnh, nghị định. Với ý nghĩa, tầm quan trọng đó, trong phạm vi bài viết này, xin được trao đổi một số vấn đề về thực trạng công tác xử lý văn bản quy phạm pháp luật và vai trò của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong việc nâng cao hiệu quả xử lý văn bản trái pháp luật trong thời gian vừa qua.

Theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP), thì việc kiểm tra văn bản được thực hiện theo phương thức là tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền. Tương ứng với các phương thức này, hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật có thể phân loại thành tự xử lý văn bản của cơ quan, người đã ban hành văn bản đó và xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản. Tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP các quy định cụ thể về xử lý văn bản trái pháp luật đã được thể hiện tương đối đầy đủ[1].

1. Thực trạng công tác xử lý văn bản quy phạm trái pháp luật

1.1. Một số kết quả

Từ quy định của Chính phủ, tại các bộ, ngành, địa phương cũng ban hành các văn bản hướng dẫn, quy chế phối hợp nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật liên quan đến công tác này tại cơ quan, địa phương mình, tạo hệ thống cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ giúp các cơ quan triển khai thực hiện thuận lợi trong thực tiễn, do đó, hoạt động xử lý văn bản được thực hiện khá bài bản, tương đối hiệu quả và đạt được một số kết quả nhất định. Từ năm 2003 đến năm 2017, các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương đã thực hiện xử lý đối với 6.234 văn bản trái pháp luật, trong đó có 1.027 văn bản được xử lý theo kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra. Với kết quả này cho thấy:

Thứ nhất, việc xử lý văn bản trái pháp luật do mình ban hành/liên tịch ban hành hoặc xử lý văn bản trái pháp luật thông qua kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra ngày càng được các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương quan tâm thực hiện, trong đó, có không ít trường hợp, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản trái pháp luật đã tích cực, khẩn trương xử lý ngay sau khi trao đổi, thống nhất với cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản mặc dù cơ quan có thẩm quyền kiểm tra chưa có kết luận chính thức (nhất là các văn bản nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận xã hội, báo chí, truyền thông)[2]. Việc làm này đã đóng góp tích cực vào việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm chất lượng của hệ thống pháp luật.

Thứ hai, hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật đã được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng đến các lĩnh vực thường xuyên liên quan, ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, bám sát yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ. Ví dụ: Xử lý vi phạm hành chính, đầu tư (năm 2005); ngoại hối, tỷ giá, lãi suất (các năm 2011, 2012); điều kiện kinh doanh, ngành nghề kinh doanh có điều kiện (các năm 2014, 2016); nông nghiệp và phát triển nông thôn, doanh nghiệp khởi nghiệp (năm 2016); thuế, phí, hải quan, văn hóa, y tế, giáo dục - đào tạo, giao thông - vận tải, nội vụ, lao động - thương binh - xã hội (năm 2017).

Thứ ba, hoạt động này cũng thể hiện sự kết nối liên thông giữa kiểm tra văn bản với xây dựng và theo dõi thi hành pháp luật, giữa công tác “tiền kiểm” (thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật) với công tác “hậu kiểm” (kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật), góp phần từng bước nâng cao chất lượng của văn bản quy định chi tiết, khả năng phát hiện sai sót và phản ứng chính sách kịp thời hơn nhất là việc xử lý đối với các văn bản có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, lợi ích của Nhà nước, xã hội. Do đó, hoạt động này luôn nhận được sự ủng hộ, thu hút sự quan tâm từ xã hội, vai trò của cơ quan kiểm tra văn bản ngày càng được khẳng định.

Thứ tư, công tác theo dõi, đôn đốc việc xử lý văn bản trái pháp luật được quan tâm chỉ đạo thực hiện thường xuyên, sát sao và quyết liệt. Qua đó, các bộ, ngành, địa phương đã có chuyển biến tích cực trong nhận thức về thực hiện các quy định của pháp luật về xử lý văn bản trái pháp luật, hiệu quả hoạt động này được nâng cao.

1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

- Hoạt động xử lý văn bản quy phạm trái pháp luật vẫn còn tồn tại, hạn chế tương đối phổ biến đó là:

+ Trong một số trường hợp cụ thể, việc xử lý văn bản trái pháp luật còn chưa kịp thời, còn mang tính đối phó, hình thức, không đúng quy định của pháp luật, thậm chí có trường hợp giải trình quanh co hoặc cá biệt có trường hợp thiếu thiện chí trong phối hợp thực hiện kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra dẫn đến tình trạng có văn bản thời hạn xử lý bị kéo dài hàng năm. Hậu quả của cách thức xử lý như vậy dẫn đến việc văn bản có nội dung trái pháp luật tiếp tục được áp dụng trong thực tiễn và tiếp tục gây tác động tiêu cực cho xã hội, cho đối tượng chịu sự điều chỉnh của văn bản. Theo đó, việc khắc phục hậu quả do thực hiện văn bản trái pháp luật gây ra gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là trường hợp liên quan đến tài chính.

+ Quy trình kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật còn chưa khoa học, chưa chặt chẽ; chưa có cơ chế, trình tự, thủ tục để cơ quan kiểm tra văn bản công bố công khai thông tin văn bản đã kiểm tra, đặc biệt là thông tin về văn bản có nội dung trái pháp luật quá hạn nhiều lần nhưng chưa xử lý.

+ Kết quả của công tác xử lý văn bản trái pháp luật chưa được khai thác, gắn kết với hoạt động xây dựng, ban hành, tổ chức theo dõi thi hành pháp luật; sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong hoạt này còn bị cắt khúc, chưa đồng bộ nên chưa phát huy được hiệu quả, sức mạnh trong kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lý và tính khả thi của văn bản.

+ Vấn đề phản hồi thông tin kết quả xử lý văn bản trái pháp luật cho cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và công bố kết quả xử lý văn bản trái pháp luật chưa được thực hiện nghiêm túc, còn chậm trễ, chưa kịp thời.

- Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân sau:

+ Các cơ quan tập trung chủ yếu vào nhiệm vụ xây dựng, ban hành và một phần về kiểm tra văn bản, mà chưa thực sự chú trọng đến việc xử lý văn bản có nội dung trái pháp luật, do đó, công tác xử lý văn bản trái pháp luật chưa đảm bảo tính đồng bộ, toàn diện và hiệu quả. Hơn nữa, đội ngũ công chức làm nhiệm vụ này chưa được bố trí đầy đủ, chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao, đặc biệt là trong tình hình nhiều địa phương không còn tổ chức pháp chế tại các sở, ngành.

+ Sự quan tâm đầu tư của một số lãnh đạo bộ, ngành, địa phương chưa thỏa đáng, quyết tâm chính trị chưa cao trong việc chỉ đạo thực hiện xử lý văn bản có nội dung trái pháp luật, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng đối với công tác này còn mờ nhạt.

+ Công tác theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương xử lý văn bản trái pháp luật còn chưa thực sự quyết liệt đến cùng, dẫn đến việc xử lý không đúng hình thức, mang tính chất đối phó, không bảo đảm thời hạn, thậm chí có trường hợp không xử lý văn bản trái pháp luật nhưng chưa có biện pháp chấn chỉnh dẫn đến tình trạng hạn chế, yếu kém nêu trên bị kéo dài nhiều năm.

+ Một trong những nguyên nhân cơ bản là vấn đề xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật trong thực tế chưa được thực hiện. Mặc dù, Chính phủ đã có quy định nhưng cách thức, trình tự, thủ tục xem xét, xử lý cụ thể dẫn đến lúng túng trong triển khai, do đó, cơ quan, người ban hành văn bản trái pháp luật chưa nghiêm túc trong nhận thức về trách nhiệm của mình đối với việc đã ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật.

Trước đây, theo quy định của điểm c khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 17 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền đình chỉ văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Nhưng hiện nay, theo quy định của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ ở mức độ kiến nghị, đề nghị xử lý văn bản trái pháp luật. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đối với Bộ Tư pháp, mà trực tiếp là ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong việc giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp triển khai thực hiện nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về công tác kiểm tra, xử lý văn bản đã được Quốc hội, Chính phủ giao.

2. Vai trò của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong xử lý văn bản trái pháp luật

Với vai trò là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp triển khai thực hiện nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về công tác kiểm tra, xử lý văn bản, trong thời gian qua, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tăng cường kết nối với hệ thống cơ quan kiểm tra văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ (tổ chức pháp chế) và địa phương (Sở Tư pháp) kịp thời nắm thông tin, nhất là tình hình xử lý văn bản trái pháp luật của các bộ, ngành, địa phương; chủ động, tích cực theo dõi, đôn đốc sát sao, quyết liệt các bộ, ngành, địa phương trong xử lý văn bản trái pháp luật, thông qua đó, có phương thức phù hợp trong việc yêu cầu cơ quan ban hành văn bản xử lý dứt điểm các văn bản trái pháp luật, tránh tình trạng kéo dài việc xử lý hoặc không xử lý văn bản trái pháp luật; phối hợp chặt chẽ với tổ chức pháp chế các bộ, ngành, Sở Tư pháp để phát hiện, cảnh báo kịp thời văn bản trái pháp luật trong quá trình soạn thảo, thẩm định, ban hành văn bản, giúp các bộ, ngành, địa phương phòng ngừa văn bản có thể phát sinh nội dung trái pháp luật. Theo đó, cùng với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Bộ Tư pháp trong những năm qua, đến nay công tác xử lý văn bản đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, tình trạng dây dưa kéo dài thời hạn xử lý văn bản trái pháp luật đã dần được khắc phục.

Đặc biệt, từ năm 2013, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thường xuyên báo cáo Bộ trưởng Bộ Tư pháp trình Thủ tướng Chính phủ cho ý kiến chỉ đạo xử lý thông qua hình thức báo cáo tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ đối với một số trường hợp đã có kiến nghị xử lý và được đôn đốc nhiều lần nhưng chậm được xem xét, xử lý dứt điểm. Thông qua cách thức này, Chính phủ có bức tranh tổng thể về công tác kiểm tra, xử lý văn bản, nhất là việc xử lý văn bản trái pháp luật. Năm 2017, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã báo cáo Bộ trưởng Bộ Tư pháp kiến nghị Thủ tướng Chính phủ thực hiện việc xử lý đối với 19 văn bản trái pháp luật do bộ, ngành, địa phương ban hành đã có kết luận kiến nghị xử lý từ năm 2014 nhưng chậm được xử lý (trước đây, vào năm 2006, lần đầu tiên Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã thực hiện quyền đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ đối với 14 văn bản trái pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính của 06 địa phương). Nhờ đó, công tác xử lý văn bản trái pháp luật đã có chuyển biến tích cực hơn, nhiều trường hợp văn bản có nội dung trái pháp luật được cơ quan, người ban hành văn bản đó tiếp thu xử lý ngay sau khi trao đổi, thảo luận mà không chờ đến khi có văn bản chính thức của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, về cơ bản, sau khi nhận được kiến nghị của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, bộ, ngành, địa phương có văn bản trái pháp luật đều được xem xét, xử lý hoặc có thông tin phản hồi đúng thời hạn. Thực tế cho thấy, việc xử lý văn bản trái pháp luật kịp thời, triệt để đã góp phần đảm bảo tính nghiêm minh trong quản lý nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, công dân qua đó lòng tin của nhân dân với cơ quan quản lý nhà nước ngày càng được củng cố.

Nguyễn Thị Việt Nga

Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Tài liệu tham khảo:

[1]. Đối tượng văn bản được xử lý, nguyên tắc xử lý văn bản, trách nhiệm (thẩm quyền), thủ tục, hình thức xử lý văn bản trái pháp luật, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan/ người ban hành văn bản trái pháp luật, công bố kết quả xử lý văn bản trái pháp luật.

[2]. Ví dụ: Công văn số 283/NTBD-PQL ngày 18/5/2007 của Cục Nghệ thuật biễu diễn; Quyết định số 1268/QĐ-BGDĐT ngày 20/4/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đính chính Thông tư số 05/2016/TT-BGDĐT ngày 21/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định thời gian tập sự theo chức danh nghề nghiệp giáo viên, giảng viên...

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Bất cập trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Bộ luật Tố tụng dân sự Vướng mắc cần tháo gỡ để nâng cao hoạt động tranh tụng của luật sư tại phiên toà hình sự Hoàn thiện thẩm quyền của hội đồng giám đốc thẩm theo tinh thần cải cách tư pháp Bàn về thẩm quyền đề nghị miễn thi hành án khoản tiền phạt theo Bộ luật Hình sự Những vướng mắc trong phối hợp thực hiện quy định về “cưỡng chế trả giấy tờ” Sự cần thiết và quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật Báo cáo thống kê thi hành án dân sự - Một số vấn đề từ thực tiễn Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về phiên tòa giám đốc thẩm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: