Thứ bảy 05/09/2026 22:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả công tác xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân ở các cơ sở giam giữ

Thi đua chấp hành án phạt tù tại các cơ sở giam giữ là một trong những yêu cầu phạm nhân phải thực hiện theo quy định của pháp luật. Kết quả của việc thi đua chấp hành án phạt tù là cơ sở để thực hiện các chính sách của Nhà nước đối với phạm nhân theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Công tác xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân thuộc về cơ sở giam giữ phạm nhân theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành cho thấy một số khó khăn, vướng mắc cần có giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.

1. Quy định của pháp luật về công tác xếp loại chấp hành án phạt tù

Điều 35 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định: “1. Trong thời gian chấp hành án phạt tù, phạm nhân được nhận xét, đánh giá kết quả chấp hành án phạt tù theo tuần, tháng, quý, 06 tháng, 01 năm. Việc nhận xét, đánh giá phải bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, dân chủ và bảo đảm tính liên tục. 2. Căn cứ kết quả thực hiện các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, học tập, lao động cải tạo, kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân theo một trong các mức tốt, khá, trung bình, kém. 3. Kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù theo quý, 06 tháng, 01 năm phải bằng văn bản, được lưu hồ sơ phạm nhân. Phạm nhân lập công thì được nâng mức xếp loại chấp hành án phạt tù”.

Xếp loại chấp hành án phạt tù là một trong những nội dung của hoạt động thi hành án phạt tù. Đây là hoạt động quan trọng phản ánh kết quả cải tạo của từng phạm nhân, thể hiện sự ghi nhận đối với nỗ lực cải tạo của phạm nhân trong quá trình chấp hành án. Kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù là một trong các điều kiện quan trọng để áp dụng thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật như xem xét, quyết định cho phạm nhân được đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện, giảm thời hạn chấp hành án hay được hưởng những chế độ khác (tăng thời gian gặp thân nhân, gặp thân nhân tại phòng riêng...)

Thực hiện quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Nghị định số 133/2020/NĐ-CP ngày 09/11/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi hành án hình sự (Nghị định số 133/2020/NĐ-CP), Thông tư số 103/2021/TT-BCA ngày 01/11/2021 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân (Thông tư 103/2021/TT-BCA), các cơ sở giam giữ trong Công an nhân dân đã làm tốt công tác xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù cho phạm nhân, định kỳ, đột xuất thành lập các đoàn kiểm tra công tác xếp loại chấp hành án; tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật về công tác xếp loại cho phạm nhân... Theo đó, công tác xếp loại chấp hành án cho phạm nhân tại các trại giam hiện nay được thực hiện đúng quy định của pháp luật, các phạm nhân đủ điều kiện đều được tổ chức xếp loại, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của phạm nhân, không để xảy ra tình trạng đơn thư, khiếu nại liên quan đến kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù và thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với phạm nhân.

2. Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn

Một là, về tiêu chí xếp loại chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân được quy định cụ thể tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 19 Nghị định số 133/2020/NĐ-CP, và Thông tư số 103/2021/TT-BCA, một số tiêu chí còn mang tính chung chung, định tính, dẫn đến việc thực hiện nhận xét, xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân trở nên hình thức. Ví dụ, tiêu chí “ăn năn hối cải, nhận rõ tội lỗi, xác định đúng đắn thái độ, tư tưởng, yên tâm học tập, lao động, rèn luyện tiến bộ, nêu cao tinh thần vượt khó, phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội” hay tiêu chí “… tích cực ngăn chặn, đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, thái độ, hành vi sai phạm của phạm nhân khác”. Đây là những tiêu chí mang nặng định tính, chủ yếu phản ánh tâm lý, tư tưởng của phạm nhân. Việc đánh giá quá trình cải tạo theo các tiêu chí này có thể thông qua các hành vi cụ thể của phạm nhân nhưng để đánh giá đúng, đủ và khách quan với kết quả thực hiện các tiêu chí đó là rất khó khăn. Bởi thực tế đã chứng minh, vẫn còn những trường hợp phạm nhân được xếp loại khá, tốt và được giảm án, tha tù trước thời hạn có điều kiện, đặc xá nhưng lại tái phạm tội sau khi tái hòa nhập cộng đồng.

Hai là, các điểm a, b khoản 1 Điều 18 Nghị định 133/2020/NĐ-CP quy định: “a) Phạm nhân đã được nhận xét, đánh giá thái độ, kết quả chấp hành án phạt tù từ 04 ngày trở lên trong một tuần thì được xếp loại tuần. Xếp loại tuần vào ngày thứ Sáu hằng tuần. Thời gian xếp loại tuần tính từ ngày thứ Bảy tuần trước đến ngày thứ Sáu tuần sau đó; b) Phạm nhân đã được xếp loại từ 03 tuần trở lên trong một tháng thì được xếp loại tháng. Xếp loại tháng vào ngày 25 hằng tháng. Thời gian xếp loại tháng kể từ ngày 26 của tháng trước đến ngày 25 của tháng sau đó. Trường hợp phạm nhân đã chấp hành án phạt tù được 20 ngày trong 01 tháng, thì thời gian xếp loại được tính từ ngày 06 đến ngày 25 của tháng đó”. Thực tiễn áp dụng các quy định trên đã phát sinh những bất cập, mâu thuẫn, cụ thể: Nếu thời điểm phạm nhân đến trại chấp hành án rơi vào ngày thứ Ba (của tuần thứ 2 tháng có 04 tuần; tuần thứ 3 tháng có 05 tuần) thì phạm nhân chỉ chấp hành án 18 ngày đã được xếp loại 03 tuần và đủ điều kiện xếp loại tháng, trong khi đó lại có trường hợp phạm nhân đã chấp hành án đủ 20 ngày nhưng vì ngày phạm nhân đến trại chấp hành án vào ngày 06 rơi vào thứ Tư (của tuần thứ 2 tháng có 04 tuần; tuần thứ 3 tháng có 05 tuần) nên chỉ đủ điều kiện xếp loại 02 tuần và không được xếp loại tháng. Điều này ảnh hưởng đến tính bình đẳng trong thực hiện chính sách nhân đạo của pháp luật về thời gian xếp loại chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân.

Bên cạnh đó, điểm b khoản 1 Điều 18 Nghị định số 133/2020/NĐ-CP quy định mốc thời gian xếp loại tháng kể từ ngày 26 tháng trước đến ngày 25 tháng sau. Mốc thời gian để xếp loại tháng như vậy là không trùng với tháng, quý theo quy định của Bộ luật Lao động, Luật Kế toán, Luật Ngân sách nhà nước, gây khó khăn cho việc xác định phạm nhân có hoàn thành hoặc vượt định mức lao động được giao hay không, bởi kết quả tham gia lao động của phạm nhân trong tháng được tính từ ngày 01 đến ngày cuối tháng.

Ba là, điểm d khoản 2 Điều 19 Nghị định số 133/2020/NĐ-CP quy định “... tham gia đầy đủ 100% ngày công, lao động có chất lượng, hiệu quả, hoàn thành 100% định mức công việc và vượt định mức hoặc tiến độ được giao...” mới đạt tiêu chí, yêu cầu lao động để được xếp loại Tốt. Trên thực tế, nhiều phạm nhân không thể tham gia đầy đủ 100% ngày công vì các lý do khách quan hoặc được thực hiện các chế độ khác theo quy định, như: Thăm gặp thân nhân, nghỉ ốm, tham gia học tập, gián đoạn việc làm do thời tiết, hết việc làm... Ngoài ra, việc xác định vượt định mức lao động giữa các phạm nhân lao động trực tiếp, làm ra sản phẩm với phạm nhân làm công việc gián tiếp như vệ sinh, cấp dưỡng, trực sinh, kiểm tra sản phẩm… trong thực tiễn vẫn chưa thống nhất cách hiểu.

Cũng là một loại tiêu chí để phạm nhân được xếp loại Tốt, điểm e khoản 2 Điều 19 Nghị định số 133/2020/NĐ-CP quy định: “... trường hợp được miễn thi hành án hoặc bản án tuyên tạm giữ tiền bảo đảm thi hành án, số tiền đó bằng hoặc cao hơn số tiền phải khắc phục hoặc đã bị kê biên tài sản, cơ quan thi hành án dân sự xác nhận số tài sản kê biên đủ hoặc cao hơn để bảo đảm thi hành án hoặc cơ quan thi hành án dân sự có quyết định đình chỉ thi hành án hoặc quyết định kết thúc thi hành án, thì được coi là đã khắc phục xong hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra...”. Thông thường, xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc hoàn thiện các thủ tục liên quan như kê biên, tạm giữ tài sản, gửi xác nhận đến trại giam... thường kéo dài, không kịp thời, ảnh hưởng đến quyền lợi của phạm nhân khi không được xếp loại chấp hành án phạt tù.

Bốn là, pháp luật hiện hành chưa có quy định về việc thực hiện xếp loại chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng theo định kỳ hằng quý, 06 tháng. Điểm e khoản 2 Điều 19 Nghị định số 133/2020/NĐ-CP quy định: “Phạm nhân phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hằng tháng, đến kỳ xếp loại, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được nhận cấp dưỡng cư trú hoặc cơ quan thi hành án dân sự đang thụ lý vụ việc xác nhận là đã thực hiện xong đến thời điểm đó, thì được coi là đã tích cực khắc phục hậu quả”. Đây là cơ sở để các trại giam đối chiếu, đánh giá kết quả chấp hành án phạt tù về tiêu chí “tích cực khắc phục hậu quả”. Tuy nhiên, đối với những phạm nhân phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quý, 06 tháng thì có trường hợp đến kỳ xếp loại hằng tháng nhưng do thời điểm thực hiện việc cấp dưỡng vào giữa hoặc cuối kỳ (đối với quý, 06 tháng) nên chưa có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan thi hành án dân sự. Điều này dẫn đến việc những phạm nhân này không được xếp loại khá, tốt (nếu không thực hiện được những thủ tục, cam kết quy định tại Điều 9 Thông tư số 103/2021/TT-BCA), ảnh hưởng đến điều kiện để được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, đặc xá của phạm nhân.

Năm là, quy định về xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân tại Thông tư số 103/2021/TT-BCA còn mâu thuẫn với một số quy định khác của pháp luật, như: Khoản 1 Điều 63 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “... đã bồi thường một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt...”. Có ý kiến cho rằng, nếu áp dụng điều khoản này thì khắc phục “một phần hai” hay “một phần mười” cũng đều là “một phần”. Vì vậy, phạm nhân khắc phục ít hơn một phần hai trách nhiệm dân sự thì vẫn có thể được xét giảm thời hạn chấp hành án. Điều này sẽ mâu thuẫn với quy định về xếp loại khá tại Điều 9 Thông tư số 103/2021/TT-BCA (vì phải xếp loại khá trở lên thì phạm nhân mới được xét giảm thời hạn chấp hành án), nếu chưa khắc phục hoặc khắc phục được một phần trách nhiệm dân sự thì phạm nhân phải có đơn trình bày hoàn cảnh kinh tế gia đình đặc biệt khó khăn và cam kết sẽ khắc phục sau khi chấp hành xong án phạt tù (hoặc đã khắc phục được một phần hai trách nhiệm dân sự và có cam kết khắc phục sau khi chấp hành xong án phạt từ). Bên cạnh đó, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định về đơn trình bày hoàn cảnh kinh tế gia đình đặc biệt khó khăn mà chỉ có quy định về việc cơ quan thi hành án dân sự xác nhận chưa có điều kiện thi hành án (theo điều 44, 44a Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014, năm 2022).

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung quy định đối với các tiêu chí thuộc về vấn đề tâm lý, tư tưởng của phạm nhân. Tăng thêm các tiêu chí mang tính định lượng, giảm các tiêu chí mang tính định tính nhằm hạn chế tối đa tiêu cực trong việc nhận xét, xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân.

Thứ hai, sửa đổi nội dung trong việc xác định tham gia đầy đủ 100% ngày công lao động, hoàn thành 100% định mức công việc để được xếp loại Tốt tại Điều 19 Nghị định số 133/2020/NĐ-CP nhằm phù hợp, thống nhất với các quy định khác trong thực hiện các chế độ, chính sách khác của phạm nhân như thăm gặp thân nhân, liên lạc với thân nhân bằng điện thoại, tham gia học tập... đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế tại các cơ sở giam giữ thuộc Bộ Công an.

Thứ ba, bổ sung hướng dẫn quy định cụ thể về việc thực hiện xếp loại chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng theo định kỳ hằng quý, 06 tháng để bảo đảm tính thống nhất với các quy định pháp luật hiện hành về nghĩa vụ cấp dưỡng của phạm nhân.

Thứ tư, điều chỉnh, sửa đổi mốc thời gian xếp loại tuần, tháng, quý để bảo đảm hơn nữa sự bình đẳng trong xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân, không để xảy ra trường hợp mâu thuẫn giữa phạm nhân chấp hành án 18 ngày và 20 ngày như đã phân tích ở phần trên. Bên cạnh đó, cần điều chỉnh để có sự thống nhất, phù hợp với hệ thống pháp luật chung của nước ta, đặc biệt là một số bộ luật, luật có liên quan trực tiếp điều chỉnh một số nội dung trong công tác thi hành án phạt tù như Bộ luật Hình sự, Luật Thi hành án dân sự, Bộ luật Lao động…

ThS. Võ Huỳnh Khuyên

Khoa Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp,

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Ảnh: internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: