Thứ tư 02/09/2026 18:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến Phiếu lý lịch tư pháp

Bài viết này khái quát về đơn giản hóa thủ tục hành chính và phân tích thực trạng về thủ tục hành chính liên quan đến Phiếu lý lịch tư pháp, từ đó, đưa ra một số đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa các quy định, thủ tục hành chính liên quan đến Phiếu lý lịch tư pháp trong thời gian tới.

1. Thực trạng thủ tục hành chính liên quan đến Phiếu lý lịch tư pháp

1.1. Thủ tục hành chính về Phiếu lý lịch tư pháp

Điều 44 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 quy định rõ ràng về thẩm quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, theo đó, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong các trường hợp: Công dân Việt Nam mà không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú; người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam. Sở Tư pháp thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong các trường hợp: Công dân Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở trong nước; Công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài; Người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam.

Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 cũng quy định về thủ tục, thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo yêu cầu của người dân, cơ quan, tổ chức. Hiện nay, Phiếu lý lịch tư pháp đang được cấp thông qua ba phương thức khác nhau gồm trực tiếp, bưu chính, trực tuyến và đang thí điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua ứng dụng VNeID. Thủ tục và thành phần hồ sơ cấp Phiếu lý lịch tư pháp đã được đơn giản hóa tối đa. Đối với phương thức yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp hoặc qua bưu chính, cá nhân, cơ quan, tổ chức, chỉ cần nộp bản sao Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân/Căn cước/Hộ chiếu và Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp (bỏ Sổ hộ khẩu theo quy định của Luật Cư trú năm 2020). Trường hợp yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và qua ứng dụng VNeID, cá nhân, cơ quan, tổ chức không phải nộp bản sao giấy tờ tùy thân mà chỉ phải điền ba trường thông tin bắt buộc (họ và tên, ngày tháng năm sinh, nơi thường trú) tại Tờ khai tương tác yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp; các thông tin khác sẽ được khai thác tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; trường hợp không khai thác được thông tin tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì công dân mới phải thực hiện khai đầy đủ thông tin.

Tính đến 31/12/2023, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp đã cấp 3.771.695 Phiếu lý lịch tư pháp, trong đó, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia cấp 33.626 Phiếu lý lịch tư pháp, Sở Tư pháp cấp 3.738.069 Phiếu lý lịch tư pháp. Trong năm 2023, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và 63 Sở Tư pháp đã cấp 1.158.575 Phiếu lý lịch tư pháp (tăng 13% so với cùng kỳ năm 2022). Một số địa phương có nhu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp tăng rất cao như Hà Nội (tăng 150%), Bình Định (tăng 33%), Quảng Ninh (tăng 30%)... Trong bối cảnh nguồn nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất của Sở Tư pháp còn hạn chế thì việc tiếp nhận một số lượng lớn hồ sơ đã gây tình trạng quá tải cho bộ phận làm công tác lý lịch tư pháp tại các địa phương.

1.2. Thủ tục hành chính liên quan đến Phiếu lý lịch tư pháp

Hiện nay, có 154 thủ tục hành chính liên quan đến Phiếu lý lịch tư pháp, trong đó, có 06 thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp, còn 138 thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp của 15 lĩnh vực, bao gồm: (i) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực khoa học công nghệ (09 thủ tục hành chính); (ii) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực ngoại giao (04 thủ tục hành chính); (iii) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực nội vụ (15 thủ tục hành chính); (iv) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn (02 thủ tục hành chính); (v) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực tài chính (28 thủ tục hành chính); (vi) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực thông tin và truyền thông (02 thủ tục hành chính); (vii) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực tư pháp (28 thủ tục hành chính); (viii) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực xây dựng (02 thủ tục hành chính); (ix) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực y tế (08 thủ tục hành chính); (x) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực ngân hàng nhà nước (19 thủ tục hành chính); (xi) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch (03 thủ tục hành chính); (xii) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội (19 thủ tục hành chính); (xiii) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực công an (05 thủ tục hành chính); (xiv) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực quốc phòng (02 thủ tục hành chính); (xv) Thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong lĩnh vực giao thông vận tải (03 thủ tục hành chính).

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có quyền yêu cầu cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp Phiếu phục vụ mục đích tiến hành tố tụng, quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã. Tuy nhiên, hiện nay, do nhận thức của một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân về Phiếu lý lịch tư pháp và pháp luật về lý lịch tư pháp chưa đầy đủ nên các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chưa chủ động thực hiện quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 mà chủ yếu yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức, người dân phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp.

2. Đề xuất đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến Phiếu lý lịch tư pháp

Trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước theo yêu cầu của Đảng và Chính phủ đề ra, công cuộc cải cách tổng thể nền hành chính quốc gia nói chung, cải cách thủ tục hành chính nói riêng đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả hoạt động có liên quan đến thủ tục hành chính nhà nước, trong đó có công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp của cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cho công dân, cơ quan, tổ chức. Đảng và Nhà nước ta xem cải cách thủ tục hành chính là là khâu quan trọng của quá trình cải cách nền hành chính nhà nước. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 đã đưa ra mục tiêu: “Cải cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả quy định thủ tục hành chính liên quan đến người dân, doanh nghiệp; thủ tục hành chính nội bộ giữa cơ quan hành chính nhà nước; rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thành phần hồ sơ và tối ưu hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin; bãi bỏ các rào cản hạn chế quyền tự do kinh doanh, cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường đầu tư kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, minh bạch; đổi mới và nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong giải quyết thủ tục hành chính. Đẩy mạnh thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử để người dân, doanh nghiệp có thể thực hiện dịch vụ mọi lúc, mọi nơi, trên các phương tiện khác nhau”; đồng thời chủ trương cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính có Phiếu lý lịch tư pháp cũng được Thủ tướng Chính phủ yêu cầu thực hiện tại Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 09/7/2023 về việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuân lợi cho người dân, doanh nghiệp, theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu: “Rà soát, sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền, hoặc đề xuất, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, sửa đổi các quy định, thủ tục hành chính liên quan đến Phiếu lý lịch tư pháp thuộc ngành, lĩnh vực quản lý để cắt giảm yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp không hợp lý trong thực hiện thủ tục hành chính; các cơ quan nhà nước chủ động thực hiện quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp, không yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức, người dân phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp”.

Để khắc phục tình trạng bất cập trong tăng cường cải cách thủ tục hành chính trong việc tiếp nhận, giải quyết yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp nhằm tạo thuận lợi, giảm thời gian, chi phí xã hội cho người dân, cần thiết phải hiểu đúng các quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 về Phiếu lý lịch tư pháp, để từ đó có những đề xuất đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến Phiếu lý lịch tư pháp cho phù hợp, khả thi.

Vì vậy, việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp đòi hỏi phải bảo đảm các yếu tố sau:

Một là, cần rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính liên quan đến Phiếu lý lịch tư pháp trong các trường hợp không cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, các phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính cần được đánh giá kỹ lưỡng để bảo đảm tính khả thi và phát huy hiệu quả trên thực tế. Đồng thời, các bộ, ngành có thủ tục hành chính đánh giá về sự cần thiết hay không cần thiết của Phiếu lý lịch tư pháp trong thủ tục hành chính ở các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý và về tính khả thi của phương án cắt giảm, đơn giản hóa quy định, thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp.

Hai là, đơn giản hóa thủ tục hành chính có yêu cầu nộp Phiếu lý lịch tư pháp theo hướng, thay vì yêu cầu người dân nộp Phiếu lý lịch tư pháp, trong trường hợp cần xác minh thêm thông tin, cơ quan, tổ chức tự yêu cầu cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp hoặc yêu cầu cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp Phiếu lý lịch tư pháp để hoàn thiện hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính.

Ba là, bổ sung quy định về giá trị sử dụng của Phiếu lý lịch tư pháp điện tử tại Kho dữ liệu cá nhân trên Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc trên các ứng dụng có thủ tục hành chính./.

Nguyễn Hồng Linh

Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 405), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.

Theo dõi chúng tôi trên: