Thứ hai 07/09/2026 04:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến góp ý đối với Đề cương chi tiết Luật Luật sư thay thế Luật Luật sư năm 2006

Một trong các nhiệm vụ và giải pháp được xác định trong Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã xác định: “Hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư, bảo đảm để luật sư thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của pháp luật...”.

Trong bài viết này, trên cơ sở các nghiên cứu cá nhân và thực tiễn hành nghề luật sư tại địa phương, tác giả đóng góp một số ý kiến đối với một số nội dung trong Dự kiến Đề cương chi tiết Luật Luật sư thay thế[1] (gọi tắt là Dự thảo) như sau:

- Đối với quy định tại Điều 12 Dự thảo về đào tạo nghề luật sư: Đối với nội dung quy định về cơ sở đào tạo nghề luật sư thì ngoài việc bổ sung quy định cơ sở đào tạo nghề luật sư là cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Tư pháp thì nên bao gồm cả cơ sở đào tạo nghề luật sư thuộc Liên đoàn Luật sư Việt Nam, đồng thời, giao Chính phủ quy định chi tiết trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 2 Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư. Điều này đảm bảo sự đa dạng trong tổ chức cơ sở đào tạo nghề luật sư, tạo sự chủ động của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong hoạt động đào tạo nghề luật sư góp phần phát triển tổ chức xã hội nghề nghiệp và phù hợp với định hướng tinh giản biên chế bộ máy của Nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước nên chỉ tập trung vào nhiệm vụ quản lý nhà nước và quan điểm nâng cao vai trò, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư thể hiện trong Nghị quyết số 27-NQ/TW của Đảng.

Mặt khác, với tư cách là một tổ chức đại diện cho quyền lợi của đội ngũ luật sư trong cả nước, Liên đoàn Luật sư Việt Nam cần có quyền chủ động tổ chức đào tạo nguồn lực để phát triển nghề luật sư của tổ chức mà mình đại diện là phù hợp.

- Đối với quy định tại Điều 14 Dự thảo về tập sự hành nghề luật sư: Ngoài việc mở rộng và quy định cụ thể hơn về các công việc luật sư tập sự được thực hiện trong thời gian tập sự như tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng trong các vụ án ở cấp huyện thì cần có quy định dẫn chiếu đến các đạo luật tố tụng tương ứng để xác định về quyền, nghĩa vụ, tư cách tham gia tố tụng của luật sư tập sự để không bị xung đột giữa Luật Luật sư và các luật tố tụng. Nếu chỉ dừng lại quy định các nội dung về tập sự hành nghề luật sư trong Luật Luật sư mà không có quy định cụ thể trong các đạo luật tố tụng tương ứng thì khi thực hiện sẽ gặp khó khăn, bởi về nguyên tắc, tất cả các hoạt động tố tụng dân sự, hình sự, hành chính đều phải tuân theo quy định trong các đạo luật tương ứng.

- Đối với quy định tại Điều 16 Dự thảo về người được miễn giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư: Theo tác giả, nên chọn Phương án 2 theo hướng tất cả các đối tượng muốn trở thành luật sư đều phải tập sự hành nghề luật sư, không được miễn mà chỉ được giảm thời gian tập sự tương ứng với các chức danh được giảm và thời gian giữ chức danh để được giảm tương tự như đối với quy định về giảm thời gian đào tạo nghề luật sư tại Điều 13 Dự thảo. Quy định như Phương án 2 góp phần và phù hợp với định hướng nâng cao chất lượng luật sư trong Nghị quyết số 27-NQ/TW của Đảng.

Đối với quy định tại Điều 17 Dự thảo về cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, nên cân nhắc và xem xét lại đối với việc “bổ sung quy định chứng chỉ hành nghề luật sư có thời hạn 05 năm hoặc 10 năm và có thể được xem xét gia hạn/cấp lại khi đủ điều kiện quy định” vì sẽ làm gia tăng chi phí tuân thủ và không cần thiết đối với những người đã hành nghề luật sư liên tục, không có thời gian gián đoạn trong quá trình hành nghề.

Việc thống kê và quản lý số lượng người được cấp chứng chỉ hành nghề và người đang hành nghề thực tế hoàn toàn có thể thực hiện được bằng việc xây dựng cơ sở dữ liệu về luật sư và ứng dụng công nghệ mà hoàn toàn không cần đến việc giới hạn thời hạn của chứng chỉ hành nghề luật sư.

- Đề nghị bổ sung 01 điều về nội dung hợp đồng lao động giữa luật sư và tổ chức hành nghề luật sư: Tác giả đề nghị bổ sung 01 điều về nội dung hợp đồng lao động giữa luật sư ký với tổ chức hành nghề luật sư vào sau Điều 23 Dự thảo để làm rõ tính đặc thù của hợp đồng lao động được ký kết giữa 02 bên bởi vì hoạt động nghề nghiệp của luật sư khi thực hiện dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, thực hiện vụ, việc tham gia tố tụng…) có tính đặc thù và không hoàn toàn phù hợp với định nghĩa về hợp đồng lao động tại khoản 1 Điều 13 (việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, giám sát, điều hành) và các quy định về nội dung của hợp đồng lao động được quy định tại Điều 21 Bộ luật Lao động năm 2019.

Theo Dự thảo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Luật sư năm 2006 của Bộ Tư pháp còn tình trạng một số luật sư vừa ký hợp đồng lao động làm việc cho một tổ chức hành nghề luật sư, vừa ký hợp đồng hợp tác với một tổ chức hành nghề luật sư khác hoặc trên thực tế, có nhiều trường hợp không ký hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động mà ký hợp đồng công tác hoặc hợp đồng vụ việc, thậm chí có luật sư không có duy trì bất cứ hình thức hành nghề nào theo quy định của Luật Luật sư[2].

Một trong những nguyên nhân tồn tại tình trạng này là do đặc thù của hoạt động nghề nghiệp của luật sư khi thực hiện công việc chuyên môn. Đặc biệt thể hiện rõ nét trong hoạt động thực hiện vụ việc tham gia tố tụng, luật sư hoàn toàn chủ động và thực hiện theo nguyên tắc độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan, tuân theo Hiến pháp và pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư[3]. Thêm vào đó, thù lao của luật sư được nhận khi luật sư thực hiện vụ việc được xác định trên cơ sở từng vụ việc cụ thể mà rất ít trường hợp nhận lương/tiền công theo tháng và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động như người lao động trong các loại hình doanh nghiệp khác.

Đồng thời, vì xác định luật sư làm việc theo hợp đồng lao động nên cũng cần làm rõ việc luật sư có được giao kết cùng lúc nhiều hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 19 Bộ luật Lao động năm 2019 hay không để làm rõ sự tương thích khi đối chiếu với quy định tại Điều 46 Dự thảo.

- Đối với quy định về luật sư làm việc cho cơ quan nhà nước tại Mục 5 Dự thảo: Tại mục số 5 của Dự thảo đã bổ sung quy định về luật sư làm việc cho cơ quan nhà nước để bảo vệ lợi ích công theo hình thức hợp đồng lao động. Vì vậy, tương tự như nội dung về hợp đồng lao động giữa luật sư và tổ chức hành nghề luật sư đã phân tích trên đây, cũng cần làm rõ những nội dung cần có trong hợp đồng lao động ký kết giữa cơ quan nhà nước và luật sư. Cần lưu ý rằng, luật sư là một nghề tự do, mang tính chủ động cao, nên nếu quy định luật sư ký hợp đồng làm việc cho cơ quan nhà nước không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho đối tượng khác thì rất khó để thu hút được những luật sư có trình độ tham gia vào loại hình làm việc này./.

Luật sư Thiều Hữu Minh

Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng

Ảnh: internet

[1] Hồ sơ Đề nghị xây dựng được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội.

[2] Bộ Tư pháp, Dự thảo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Luật sư, tr. 12.

[3] Điều 5 Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: