Thứ tư 04/11/2026 04:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về các dạng quấy rối tình dục tại nơi làm việc

Bài viết tập trung phân tích, nhận diện các dạng quấy rối tình dục tại nơi làm việc, đồng thời chỉ rõ những bất cập, vướng mắc trong các quy định pháp luật liên quan và đưa ra một số kiến nghị về vấn đề này.

1. Đặt vấn đề

Vấn đề quấy rối tình dục (QRTD) tại nơi làm việc được ghi nhận và điều chỉnh lần đầu tiên tại Bộ luật Lao động năm 2012. Trước đó, Bộ luật Lao động năm 1994 chỉ có quy định nghiêm cấm người sử dụng lao động (NSDLĐ) có hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm của họ theo Điều 111, nếu nghiêm trọng ở mức độ hiếp dâm và cưỡng dâm xảy ra tại nơi làm việc sẽ bị xử lý theo pháp luật hình sự[1], còn thuật ngữ QRTD tại nơi làm việc và những quy định khác liên quan hoàn toàn không được đề cập trong pháp luật lao động Việt Nam cho đến khi Bộ luật Lao động năm 2012 được thông qua. Tuy đã có quy định trực tiếp nhưng Bộ luật Lao động năm 2012 chỉ bao gồm 04 điều quy định về quấy rối tình dục tại nơi làm việc: Điều 8 quy định nghiêm cấm “ngược đãi người lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc”; Điều 37 quy định “người lao động bị quấy rối tình dục có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”; Điều 182 quy định người lao động (NLĐ) giúp việc gia đình có nghĩa vụ “tố cáo với cơ quan có thẩm quyền nếu người sử dụng lao động có hành vi quấy rối tình dục”. Điều 183 nghiêm cấm NSDLĐ giúp việc gia đình “ngược đãi, quấy rối tình dục… đối với lao động là người giúp việc gia đình”. Nhìn chung, đây là một bước tiến vượt bậc trong việc giải quyết QRTD tại nơi làm việc, tuy nhiên, với những quy định còn mang tính nguyên tắc, chung chung, Bộ luật Lao động năm 2012 vẫn không thể ngăn chặn một cách hiệu quả hành vi QRTD và bảo vệ nạn nhân vì chưa đưa ra được một định nghĩa về QRTD và phạm vi của QRTD tại nơi làm việc, cũng như các chế tài riêng, đồng thời cũng chưa bắt buộc NSDLĐ có biện pháp ngăn chặn và thiết lập các thủ tục khiếu nại tại nơi làm việc[2].

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (nay là Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) với sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) lần đầu tiên xây dựng Bộ quy tắc ứng xử về QRTD tại nơi làm việc và ban hành vào ngày 25/5/2015. Bộ quy tắc này không chỉ là bản hướng dẫn chi tiết giúp NSDLĐ cũng như các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực lao động xác định và giải quyết tốt hơn các vụ việc QRTD tại nơi làm việc, mà còn tạo được một “làn sóng” bàn luận sôi nổi trong xã hội, từ đó, nâng cao nhận thức chung của mọi người về vấn nạn này. Tuy nhiên, Bộ quy tắc này chỉ mang tính tham khảo, chỉ dẫn và không có hiệu lực pháp lý nên không đủ tính răn đe, triệt để khi xử lý hành vi QRTD tại nơi làm việc.

Bộ luật Lao động năm 2019 đã dựa trên những nội dung của Bộ quy tắc ứng xử về QRTD tại nơi làm việc cũng như tham khảo các văn bản của ILO và pháp luật của các quốc gia để đưa ra những quy định chi tiết hơn về QRTD tại nơi làm việc, đặc biệt là định nghĩa cụ thể, rõ ràng về QRTD tại nơi làm việc và làm rõ phạm vi “nơi làm việc”. Ngoài việc tiếp tục kế thừa những quy định mang tính nguyên tắc về vấn đề QRTD tại nơi làm việc trong các điều khoản về hành vi bị nghiêm cấm, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của NLĐ và nghĩa vụ tố cáo của người giúp việc gia đình, Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung nhiều quy định mới để điều chỉnh hành vi này.

2. Nhận diện các dạng quấy rối tình dục tại nơi làm việc

2.1. Quấy rối tình dục đánh đổi

QRTD đánh đổi được ghi nhận là hành vi bị cấm theo quy định pháp luật lần đầu tiên vào năm 1976 bởi Tòa án quận Columbia, Washington DC, Hoa Kỳ. Tại đây, QRTD đánh đổi được định nghĩa là việc người bị quấy rối chịu đựng hành vi gây xúc phạm là điều kiện để người đó tiếp tục được làm việc. Định nghĩa này còn bó hẹp đối tượng đánh đổi chỉ dừng lại ở việc tiếp tục được làm việc nhưng sau này định nghĩa về hành vi này trong pháp luật Hoa Kỳ đã được ghi nhận mở rộng và phù hợp hơn, theo đó, QRTD đánh đổi tại nơi làm việc là những đề nghị, yêu cầu về tình dục hoặc những hành vi/ lời nói mang tính chất tình dục khi có một trong hai điều kiện: (i) Sự chấp thuận những đề nghị như trên có thể trực tiếp hoặc gián tiếp được coi là một điều khoản hoặc một điều kiện trong công việc của một người; (ii) Sự chấp thuận những đề nghị như trên là cơ sở cho những quyết định trong công việc ảnh hưởng đến cá nhân đó[3].

Theo Từ điển tiếng Việt, “đánh đổi” được hiểu là trao cái này để lấy cái khác. Nghĩa là, người đánh đổi phải mất một cái gì đó của mình để lấy cái mình mong muốn nhằm đạt được mục đích bản thân. Việc đánh đổi có thể chủ động xuất phát từ chính cá nhân của người đánh đổi hoặc có thể thông qua sự chấp thuận lời mời đánh đổi của người khác. Từ định nghĩa này, ta có thể hiểu, QRTD đánh đổi là hành vi trao đổi các lợi ích về tình dục để đạt được các lợi ích khác, với QRTD đánh đổi tại nơi làm việc, các lợi ích khác ở đây có thể là các lợi ích về công việc như được nhận vào làm việc, được tham gia các dự án, bố trí việc làm theo đúng nguyện vọng, đề bạt tăng lương trước thời hạn, đánh giá xếp loại công việc tốt… Bên cạnh những lời đề xuất, lời mời gọi trao đổi lợi ích, trong nhiều trường hợp, nạn nhân buộc phải đánh đổi để đối phó với những lời đe dọa trong công việc, như đe dọa sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động, không được tuyển dụng, xử lý kỷ luật, điều chuyển đến vị trí khác...

Thông thường, QRTD tại nơi làm việc xuất phát từ bên có quyền lực, tức là người có quyền hạn gây ảnh hưởng đến các điều khoản, điều kiện làm việc hoặc thu nhập của cá nhân của người bị quấy rối như NSDLĐ, người quản lý doanh nghiệp, người giám sát, cấp trên, đôi khi là đối tác và khách hàng.

Hai trong những tiêu chí căn bản xác định một hành vi là QRTD là thái độ không mong muốn, không hoan nghênh và cảm giác bị xúc phạm, sỉ nhục hoặc đe dọa được coi là hợp lý của người tiếp nhận. Trong trường hợp QRTD đánh đổi, việc xác định xem sự chấp thuận của người tiếp nhận hành vi có phải miễn cưỡng hay chứng minh cảm giác bị xúc phạm, sỉ nhục là hợp lý không dễ dàng, bởi nạn nhân là người hưởng lợi ích trực tiếp và thực tế có nhiều người thực sự mong muốn việc trao đi những lợi ích tình dục để đổi lấy lợi ích trong công việc. Theo tác giả, riêng đối với QRTD đánh đổi, một hướng các nhà làm luật có thể quy định đó là chỉ cần người bị quấy rối là người phụ thuộc trong quan hệ công việc với người quấy rối và chứng minh được người quấy rối chủ động đưa ra lời đề nghị, lời mời trao đổi thì xác định ngay hành vi của người đề nghị là hành vi quấy rối tình dục. Tức là, việc xác định một hành vi là hành vi QRTD trong trường hợp quan hệ tình dục đánh đổi sẽ không bị loại trừ trong trường hợp người bị tố cáo chứng minh việc người tiếp nhận hành vi chấp thuận một cách không miễn cưỡng, nếu lời gợi ý được đưa ra chủ động trước bởi người có quyền lực trong quan hệ phụ thuộc lao động. Việc quy định như vậy sẽ giúp loại bỏ triệt để những lời gợi ý tình dục trong quan hệ lao động bởi người có quyền lực vì kể cả trong trường hợp người phụ thuộc chấp nhận và thực hiện lời gợi ý một cách không miễn cưỡng thì người đưa ra đề nghị vẫn chịu mọi rủi ro.

2.2. Quấy rối tình dục tạo môi trường làm việc độc hại

Năm 1986, Ủy ban Cơ hội việc làm bình đẳng Hoa Kỳ và sau đó là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã quy định hành vi QRTD tạo môi trường làm việc độc hại là hành vi bị cấm. Theo đó, QRTD tạo môi trường làm việc độc hại được định nghĩa là hành vi QRTD đủ nghiêm trọng hoặc phổ biến để tạo ra môi trường làm việc khiến cho một người cảm thấy đáng sợ, thù địch hoặc bị lạm dụng[4]. Theo Khuyến nghị của ILO năm 2008, QRTD tạo môi trường làm việc độc hại được hiểu là hành vi QRTD tạo ra một môi trường làm việc ghê sợ, bị lạm dụng, bị công kích, làm nhục và can thiệp vào sự thực thi công việc của mọi người tại nơi làm việc. Theo pháp luật Úc, hành vi này được định nghĩa là hành vi QRTD tạo môi trường làm việc không thoải mái cho NLĐ hoặc ảnh hưởng đến năng suất lao động và niềm vui trong công việc của họ[5]. Có thể thấy, các định nghĩa của pháp luật các quốc gia và các tổ chức quốc tế về hành vi QRTD tạo môi trường làm việc độc hại được nhìn dưới góc độ cảm nhận của người bị quấy rối và những người xung quanh trong cùng môi trường làm việc, hơn là những hậu quả hoặc khả năng gây hậu quả về mặt sức khỏe cho NLĐ, điều này có những điểm khác biệt với quan niệm ở Việt Nam.

Theo Từ điển Tiếng Việt, “độc hại” được hiểu là có khả năng làm hại đến sức khỏe hoặc tinh thần con người. Khoản 5 Điều 3 Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015 quy định về yếu tố có hại trong lao động là “yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động”. Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu, QRTD tạo môi trường làm việc độc hại là hành vi QRTD tạo ra môi trường làm việc gây yếu tố bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe, ảnh hưởng xấu đến tâm, sinh lý của NLĐ trong quá trình thực hiện công việc. Như vậy, theo quan niệm tại Việt Nam, yếu tố sức khỏe, bệnh tật được nhấn mạnh.

Thông thường, các hành vi quấy rối thuộc nhóm này thường thể hiện qua những lời nhận xét thô thiển, lời đùa cợt hay việc phô bày vật phẩm, tài liệu phản cảm nhằm mục đích trêu đùa, cợt nhả khiến người bị quấy rối xấu hổ, bẽ mặt, nhục nhã. Hành vi này có thể được thực hiện bởi tất cả các chủ thể trong môi trường làm việc, là các đồng nghiệp với nhau, giữa cấp trên với cấp dưới, giữa nhân viên chính thức với thực tập sinh, giữa nhân viên và khách hàng... QRTD tạo ra môi trường độc hại không chỉ tác động trực tiếp đến người bị quấy rối mà còn ảnh hưởng đến những người xung quanh làm việc trong môi trường đó, gây nên sự thiếu thoải mái, ái ngại, dè chừng, khó xử trong doanh nghiệp, thậm chí đặt mọi người vào tình trạng cảnh giác cao độ hoặc gây ra cảm giác “sợ đi làm”, ảnh hưởng lớn sức khoẻ tâm lý, năng suất lao động và quan hệ lao động.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động (Nghị định số 145/2020/NĐ-CP), thì QRTD tại nơi làm việc có thể xảy ra dưới hai dạng như sau: (i) Trao đổi như đề nghị, yêu cầu, gợi ý, đe dọa, ép buộc đổi quan hệ tình dục lấy bất kỳ lợi ích nào liên quan đến công việc; (ii) Những hành vi có tính chất tình dục không nhằm mục đích trao đổi nhưng khiến môi trường làm việc trở nên khó chịu và bất an, gây tổn hại về thể chất, tinh thần, hiệu quả công việc và cuộc sống của người bị quấy rối.

Theo khoản 2 Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, QRTD tại nơi làm việc được chia thành 03 nhóm biểu hiện, cụ thể: (i) Hành vi mang tính thể chất gồm hành động, cử chỉ, tiếp xúc, tác động vào cơ thể mang tính tình dục hoặc gợi ý tình dục; (ii) QRTD bằng lời nói gồm lời nói trực tiếp, qua điện thoại hoặc qua phương tiện điện tử có nội dung tình dục hoặc có ngụ ý tình dục; (iii) QRTD phi lời nói gồm ngôn ngữ cơ thể; trưng bày, miêu tả tài liệu trực quan về tình dục hoặc liên quan đến hoạt động tình dục trực tiếp hoặc qua phương tiện điện tử.

Các biểu hiện của QRTD tại nơi làm việc được liệt kê cụ thể hơn trong Bộ quy tắc ứng xử về QRTD tại nơi làm việc, cụ thể: (i) QRTD bằng hành vi mang tính thể chất như tiếp xúc, hay cố tình đụng chạm không mong muốn, sờ mó, vuốt ve, cấu véo hay hôn cho tới tấn công tình dục, cưỡng dâm, hiếp dâm. (ii) QRTD bằng lời nói gồm các nhận xét không phù hợp về mặt xã hội, văn hóa và không được mong muốn, bằng những ngụ ý về tình dục như những truyện cười gợi ý về tình dục hay những nhận xét về trang phục hay cơ thể của một người nào đó khi họ có mặt hoặc hướng tới họ. Hình thức này còn bao gồm những lời đề nghị và những yêu cầu không mong muốn hay lời mời đi chơi mang tính cá nhân một cách liên tục. (iii) QRTD bằng hành vi phi lời nói gồm các hành động không được mong muốn như ngôn ngữ cơ thể khiêu khích, biểu hiện không đứng đắn, cái nhìn gợi tình, nháy mắt liên tục, các cử chỉ của ngón tay… Hình thức này cũng bao gồm việc phô bày các tài liệu khiêu dâm, hình ảnh, vật, màn hình máy tính, các áp phích, thư điện tử, ghi chép, tin nhắn liên quan đến tình dục.

3. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật về các dạng quấy rối tình dục tại nơi làm việc

Thứ nhất, theo quy định tại khoản 1 Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP thì QRTD tại nơi làm việc có thể xảy ra dưới hai dạng:

- Trao đổi như đề nghị, yêu cầu, gợi ý, đe dọa, ép buộc đổi quan hệ tình dục lấy bất kỳ lợi ích nào liên quan đến công việc: Việc quy định giới hạn hành vi trao đổi quan hệ tình dục để lấy bất kỳ lợi ích nào liên quan đến công việc rất hạn chế bởi tại khoản 9 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 đã định nghĩa QRTD tại nơi làm việc là hành vi có tính chất tình dục, đến khoản 1 Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP thì dạng QRTD trao đổi chỉ đặt ra đối với hành vi quan hệ tình dục. Hành vi quan hệ tình dục chỉ là một trong những hành vi có tính chất tình dục. Do đó, việc quy định như trên không hợp lý. Tác giả cho rằng, tất cả đề nghị, yêu cầu, gợi ý, đe dọa, ép buộc đổi hành vi có tính chất tình dục lấy bất kỳ lợi ích nào liên quan đến công việc cũng trở thành dạng QRTD này. Về mục đích của hành vi, ngoài trao đổi để đổi lấy bất kỳ lợi ích trong công việc còn có trường hợp trao đổi để không bị bất lợi trong công việc, điều kiện làm việc như việc điều chuyển, cách chức, chấm dứt hợp đồng lao động, môi trường làm việc hoặc các cơ sở vật chất để làm việc…

- Những hành vi có tính chất tình dục không nhằm mục đích trao đổi nhưng khiến môi trường làm việc trở nên khó chịu và bất an, gây tổn hại về thể chất, tinh thần, hiệu quả công việc và cuộc sống của người bị quấy rối: Việc quy định giới hạn rằng hành vi dạng này là “hoặc những hành vi không nhằm mục đích trao đổi”, tức là hoặc dạng QRTD thứ nhất hoặc dạng QRTD thứ hai theo quy định tại khoản 1 Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP sẽ gây ra nhiều khó khăn trong việc xác định hành vi QRTD tại nơi làm việc. Bởi vì, trên thực tế, hai dạng QRTD tại nơi làm việc này có thể xảy ra đồng thời, cùng lúc với nhau.

Thứ hai, những hướng dẫn trong Bộ quy tắc ứng xử về QRTD tại nơi làm việc chi tiết, đầy đủ và dễ xác định hơn so với quy định trong Nghị định số 145/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, có một số biểu hiện mà Bộ quy tắc này đưa ra nhưng mang tính chung chung, “mơ hồ”, rất khó để xác định trên thực tế, ví dụ như, làm thế nào để nhận biết được “cái nhìn gợi tình” hoặc “các cử chỉ của ngón tay mang tính tình dục” hoặc làm thế nào để phân biệt hành vi “nháy mắt liên tục” nhằm QRTD với việc nháy mắt với những ngụ ý khác… Theo quan điểm của tác giả, những hành vi “mơ hồ”, khó xác định không nên liệt kê vào biểu hiện QRTD tại nơi làm việc do sự khó khăn trong việc chứng minh, xử lý kỷ luật và có thể gây ra tình trạng đổ lỗi, vu cáo với những hành vi nhỏ, đơn giản như vậy.

Thứ ba, Bộ quy tắc ứng xử về QRTD tại nơi làm việc chỉ mang tính chất khuyến nghị, tham khảo, hướng dẫn, không có hiệu lực pháp lý. Trong khi đó, những quy định tại khoản 2 Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP chỉ mang tính chất định hướng chung. Vì vậy, xét trong các văn bản quy phạm pháp luật, kể cả trên lĩnh vực pháp luật lao động và các lĩnh vực có liên quan như pháp luật hành chính, vẫn chưa có quy định mô tả, liệt kê một cách cụ thể những hành vi bị coi là QRTD tại nơi làm việc.

Thứ tư, Bộ quy tắc ứng xử về QRTD tại nơi làm việc khẳng định: “Hình thức tồi tệ nhất của hành vi quấy rối tình dục là những hành vi tấn công có tính chất tình dục hoặc hiếp dâm được quy định trong pháp luật xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật hình sự”, tức là, QRTD có bao gồm các tội phạm tình dục như hiếp dâm, cưỡng dâm hay dâm ô. Tuy nhiên, trong các văn bản quy phạm pháp luật, chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Trên thực tế, theo nhận thức chung, mọi người thường cho rằng, QRTD là hành vi có mức độ nguy hiểm nhẹ hơn so với các tội phạm tình dục và không bao gồm nhóm này. Việc xác định QRTD có bao gồm các tội phạm tình dục hay không cần có cách hiểu thống nhất, để bảo đảm hiệu quả và công bằng trong xử lý kỷ luật lao động.

4. Một số kiến nghị

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP theo hướng: QRTD quy định tại khoản 9 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 có thể xảy ra dưới dạng trao đổi như đề nghị, yêu cầu, gợi ý, đe dọa, ép buộc đổi hành vi có tính chất tình dục lấy bất kỳ lợi ích nào liên quan đến công việc hoặc từ chối sẽ dẫn đến bất kỳ các bất lợi nào liên quan đến công việc; hoặc những hành vi khiến môi trường làm việc trở nên khó chịu và bất an, gây tổn hại về thể chất, tinh thần, hiệu quả công việc và cuộc sống của người bị quấy rối.

Thứ hai, dựa vào bản chất và đặc điểm của hành vi, QRTD tại nơi làm việc được chia ra làm 02 dạng là QRTD đánh đổi và QRTD tạo môi trường làm việc độc hại. Tại khoản 1 Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP cũng gián tiếp phân loại hai dạng này. Tuy nhiên, để dễ dàng nhận diện hành vi QRTD tại nơi làm việc, theo tác giả, việc đặt tên cho các dạng QRTD tại nơi làm việc là cần thiết. Tham khảo quan điểm của các tổ chức quốc tế và một số quốc gia trên thế giới, tác giả kiến nghị đặt tên hai dạng QRTD tại nơi làm việc là QRTD đánh đổi và QRTD tạo môi trường thù địch tương ứng với hai dạng QRTD tại nơi làm việc theo khoản 1 Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP.

Thứ ba, QRTD tại nơi làm việc có nhiều biểu hiện đa dạng, mà với mỗi ngành nghề khác nhau, ở những khu vực địa lý khác nhau, với những hình thức làm việc khác nhau, QRTD lại có những biểu hiện đặc thù khác nhau. Bởi vậy, đối với pháp luật lao động, việc quy định mang tính chất định hướng chung, còn lại đặt trách nhiệm xác định những hành vi cụ thể lên NSDLĐ là phù hợp. Tuy nhiên, đối với pháp luật hành chính hoặc hình sự nếu có định hướng hình sự hóa hành vi này, thì biểu hiện của QRTD phải được xác định rõ ràng, cụ thể làm căn cứ để người bị hại tố cáo và cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm./.

TS. Bùi Kim Hiếu

Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Theo “Báo cáo nghiên cứu: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ở Việt Nam: Bức tranh khái quát và khung pháp lý để giải quyết”, Trịnh Thị Năm, Trường Đại học Nội vụ, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, http://ifgs.vass.gov.vn/, truy cập ngày 12/12/2023.

[2]. Tài liệu Chuyên đề “Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ở Việt Nam: Bức tranh khái quát và khung pháp lý giải quyết”, Vụ Bình đẳng giới, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam, 2014, tr. 2.

[3]. TS. Nguyễn Thị Bích, Phạm Thuỳ Dương, “Một số kinh nghiệm quốc tế về hoàn thiện pháp luật liên quan đến nhận dạng hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc", Tạp chí Tòa án nhân dân số 2 (kỳ II tháng 01/2021), tr. 37.

[4]. TS. Nguyễn Thị Bích, Phạm Thuỳ Dương, Tlđd.

[5]. Australian Human Rights Commmission, “Sexual Harassment (A Code in Practice) - What is sexual harassment?”, https://humanrights.gov.au/our-work/sexual-harassment-code-practice-what-sexual-harassment#1_2_4.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 400), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tóm tắt: Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn một số bất cập, chồng chéo giữa các đạo luật về thẩm quyền, thủ tục, khiếu nại và kỹ thuật lập pháp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật. Nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng; từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định này trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Tóm tắt: Dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật[1] (dự thảo Luật) tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách, trong đó, chú trọng xác định vấn đề, mục tiêu, giải pháp, đánh giá tác động chính sách và bổ sung cơ chế đánh giá kết quả thực hiện sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích Chính sách 3 về đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật[2], đánh giá khả năng điều chỉnh kịp thời các quy định pháp luật trước những thay đổi của thực tiễn và việc sử dụng kết quả thi hành pháp luật để tiếp tục hoàn thiện chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, cơ chế theo dõi, đánh giá và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn thi hành chưa được quy định đầy đủ; bên cạnh đó, một số quy định còn thiếu thống nhất về phạm vi điều chỉnh, thuật ngữ và thẩm quyền. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng và đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm việc sửa đổi, bổ sung pháp luật được thực hiện kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn mà không làm gia tăng thủ tục.
Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng hiện nay, việc nghiên cứu di sản lập pháp truyền thống mang ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu phân tích Điều luật[I] “Quan lại nhận tiền của” thuộc Chương IX (Nhận hối lộ) trong Hoàng Việt luật lệ[II] nhằm làm rõ tư duy lập pháp và giá trị lịch sử của Điều luật. Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích Điều luật “Quan lại nhận tiền của”, đồng thời, so sánh với Quốc triều Hình luật, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Bộ luật Hình sự năm 2015[III]. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sử liệu học để thu thập tư liệu cổ luật; các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ các yếu tố cấu thành, giá trị, giới hạn lịch sử, đồng thời, so sánh Điều luật này với các quy định có liên quan. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.
Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Theo dõi chúng tôi trên: