Thứ bảy 19/09/2026 17:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp giải quyết tình trạng hôn nhân cận huyết trên địa bàn tỉnh Tây Nguyên

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật về điều kiện kết hôn, thực trạng hôn nhân cận huyết trên địa bàn tỉnh Tây Nguyên, tác giả đề xuất một số giải pháp để giải quyết tình trạng này trên thực tiễn.

1. Quy định pháp luật về điều kiện kết hôn

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình (Điều 1); khuyến khích kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình (khoản 5 Điều 2); cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn (điểm b khoản 2 Điều 5). Pháp luật quy định cấm việc kết hôn đối với những hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Theo quy định của pháp luật, những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau (khoản 17 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014); những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba (khoản 18 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Bên cạnh quy định điều kiện kết hôn, pháp luật quy định các chế tài đảm bảo cho pháp luật được thực thi trong thực tiễn. Khi các chủ thể vi phạm điều cấm sẽ bị áp dụng chế tài của Nhà nước (chế tài hành chính, chế tài hình sự), tùy vào tính chất, mức độ của hành vi mà áp dụng chế tài để đạt hiệu quả trong việc giáo dục, răn đe đối với chủ thể vi phạm cũng như đối với cộng đồng.

Bên cạnh đó, nhằm nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật về hôn nhân và gia đình, góp phần giải quyết tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết, nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số, ngày 14/4/2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14/4/2015 phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2025”.

2. Thực trạng hôn nhân cận huyết trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên

Hôn nhân là một nét văn hóa đặc trưng của mỗi cộng đồng, dân tộc, do nhiều yếu tố, trong đó, điều kiện phát triển xã hội là một tiêu chí để đánh giá sự tiến bộ của hôn nhân. Trong luật tục đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên có nhiều yếu tố phù hợp với chế độ hôn nhân hiện đại theo quy định của pháp luật, như: Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, xem xét ý kiến người xung quanh đã có gia đình chưa… đề cao sự chung thủy vợ chồng, những trường hợp ngoại tình, “gian dâm” bị cộng đồng lên án và xử phạt nặng. Thực tiễn, chế độ hôn nhân một vợ, một chồng của dân tộc ở Tây Nguyên đã được xác lập vững chắc.

Trong quá trình triển khai, áp dụng pháp luật vào thực tế, do ảnh hưởng nhiều yếu tố, như vị trí địa lý, đi lại khó khăn, tập quán, luật tục, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa hiệu quả… ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật trên thực tiễn. Thực tiễn cho thấy, các báo cáo hàng năm của các địa phương, các chương trình giám sát, chương trình khảo sát về tình trạng hôn nhân cận huyết ngày càng giảm, đó là một dấu hiệu tích cực đối với chính sách pháp luật.

Khi tiếp cận hiện tượng hôn nhân cận huyết đa số các báo cáo thể hiện sự quan sát từ ngoài vào trong, tuy nhiên, nguyên nhân nội tại (luật tục, trình độ dân trí) chi phối hiện tượng vi phạm pháp luật. Để giải quyết triệt để tình trạng này cần có cách tiếp cận phù hợp, có thể là: Cách tiếp cận từ phía ngoài và cách tiếp cận từ phía trong.

Thứ nhất, tiếp cận vấn đề từ phía ngoài vào trong (từ chính sách và thực thi chính sách áp dụng cho một đối tượng) cho thấy có một số nguyên nhân sau:

(i) Địa bàn tỉnh Tây Nguyên, nhìn rộng hơn là dọc dãy Trường Sơn, đa số các dân tộc theo chế độ mẫu hệ. Thực chất, đây là cách tính nguồn gốc được tính theo dòng nữ, về tập tục tính theo dòng nữ xưa kia. Theo một số nghiên cứu thì việc xác định nguồn gốc tính theo nguồn gốc dòng nữ xuất hiện từ thời thị tộc[1].

(ii) Về điều kiện sinh hoạt. Thực tế cho thấy, hôn nhân cận huyết thường xảy ra ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở những địa bàn hẻo lánh; điều kiện sinh hoạt xã hội chưa phát triển so với các vùng có điều kiện vị trí thuận lợi; đời sống dân cư khó khăn, thiếu công ăn việc làm, hoạt động kinh tế chủ yếu làm nương rẫy, chưa áp dụng kiến thức khoa học vào đời sống, sản xuất; trình độ nhận thức, hiểu biết và trình độ dân trí của người dân còn thấp; điều kiện giao thông khó khăn, địa hình hiểm trở nên trai gái khác buôn làng ít có dịp gặp nhau.

(iii) Tác động của luật tục. Trong đời sống của người dân chịu chi phối nhiều luật tục chưa có khoa học kiểm chứng chi phối trong hành vi của người dân; một trong những hủ tục đó là do sự sắp xếp của gia đình hai bên; trong quan niệm của một bộ phận người dân còn cho rằng những người gần dòng máu lấy nhau thì gần gũi nhau hơn, thương yêu nhau hơn, khó bỏ nhau giữa chừng. Cùng với đó, nếu lấy cùng họ hàng thì của cải, ruộng đất không bị phân chia cho họ hàng người khác… Người dân chưa nhận thức được những hệ quả của việc kết hôn cùng huyết thống.

(iv) Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật một số nơi chưa phù hợp, người dân tiếp cận được thông tin pháp luật nhưng chưa hiểu; có nơi tình trạng “nới lỏng” pháp luật và các chế tài xử phạt vi phạm hôn nhân cận huyết thống chưa đủ mạnh để ngăn ngừa, răn đe tình trạng hôn nhân cận huyết thống, việc xử phạt chưa quyết liệt.

Thứ hai, tiếp cận vấn đề từ trong tiếp cận ra (luật tục ảnh hưởng và tác động đến hành vi, quan niệm của cộng đồng xảy ra tình trạng hôn nhân cận huyết).

Theo cách tiếp cận này cho thấy: Điều kiện sinh hoạt của đồng bào dân tộc chịu chi phối nhiều bởi luật tục, luật tục gần như in sâu vào trong tâm trí, chi phối hành vi và sinh hoạt hàng ngày. Trên địa bàn tỉnh Tây Nguyên, mỗi dân tộc có một luật tục riêng, trong mỗi dân tộc có nhánh (nhóm) riêng, cùng một dân tộc sinh sống ở những địa phương khác nhau sẽ có sự giao thoa với các nhánh và các dân tộc khác có những điểm riêng, như trong ngôn ngữ gọi là “phương ngữ”.

Về luật tục trong hôn nhân nhiều biểu hiện, nhưng với góc độ tiếp cận từ trong ra thì hôn nhân của đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên tồn tại hai hình thức là nội tộc hôn tộc người và ngoại tộc hôn dòng họ.

(i) Nội tộc hôn tộc người: Xét trong điều kiện sinh hoạt xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số là hôn nhân cùng dân tộc. Nguyên tắc nội hôn tộc người, luật tục chỉ cho phép nam, nữ kết hôn với những người trong cùng dân tộc. Những trường hợp hôn nhân ngoại tộc không được khuyến khích, thậm chí bị cấm đoán. Tuy nhiên, trải qua quá trình chung sống cùng địa vực, hình thành các mối quan hệ kinh tế, văn hóa ngày càng sâu rộng với các tộc người lân cận nên hôn nhân giữa các cư dân bản địa với nhau, giữa người bản địa với các dân tộc khác không còn là hiện tượng hiếm gặp. Cho đến nay, việc kết hôn với người ngoại tộc đã được đa số thành viên trong cộng đồng chấp nhận. Ðây là một sự thay đổi theo chiều hướng tiến bộ, giúp tăng cường sự hiểu biết, thúc đẩy mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc anh em.

(ii) Ngoại tộc hôn dòng họ: Nguyên tắc ngoại tộc hôn dòng họ cũng là một nguyên tắc cơ bản trong phong tục hôn nhân của nhiều dân tộc trên địa bàn tỉnh Tây Nguyên. Trong cách hiểu về huyết thống, thì người đồng bào ở Tây Nguyên hiểu theo trực quan “cùng dòng họ”, trên cơ sở cách hiểu luật tục nhiều dân tộc quy định dạng “không được kết hôn trong cùng một dòng họ”. Luật tục đa số tồn tại dạng cấm, đây là một dạng quy định cấm, vì đi theo quy định cấm là những hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt và sự phản ứng của cộng đồng.

Ví dụ: Một người họ Siu[2] ở Gia Lai thì không được kết hôn với người họ Siu sinh sống ở bất kỳ đâu, cho dù người đó sống ở địa phương khác cách xa về khoảng cách địa lý. Vì, theo quan niệm của người dân đó là cùng huyết thống. Đây cũng là một nội dung cần chú ý trong công tác tuyên truyền. Do nhận thức, cộng với cách tính theo dòng nữ nên việc kết hôn giữa con của người gái và con của người trai trong gia đình[3] được xem là loại hình hôn nhân ưu tiên để duy trì và bảo vệ tài sản trong gia đình, dòng họ[4].

Chính nguyên nhân nội tại bên trong của mỗi cộng đồng người quyết định đến quan điểm hôn nhân của cộng đồng, nếu thay đổi từ trong thì tình trạng hôn nhân cận huyết sẽ được giải quyết triệt để.

3. Một số giải pháp giải quyết tình trạng hôn nhân cận huyết trên địa bàn khu vực Tây Nguyên

Thứ nhất, về tổ chức việc thi hành pháp luật. Pháp luật được ban hành trên cơ sở khoa học và áp dụng chung cho mọi đối tượng, tuy nhiên, vì một số nguyên nhân nào đó (chủ yếu về địa lý) thì vẫn tồn tại một số luật tục ở một số địa bàn. Do vậy, chính quyền địa phương cần rà soát đối với những địa bàn có vùng kinh tế, điều kiện xã hội khó khăn để có biện pháp thi hành pháp luật phù hợp.

Thứ hai, tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật bằng các hình thức phù hợp. Việc hoàn thiện pháp luật là một chức năng của Nhà nước, nhưng để pháp luật đi vào cuộc sống thì cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật đến những vùng địa lý khó khăn, nhiều luật tục, tránh hiện tượng “cưỡi ngựa xem hoa”. Muốn làm được điều đó thì phải có sự phối hợp với các cấp chính quyền, các cơ quan trong hệ thống chính trị để có sự tiếp cận đến từng nhóm đối tượng cụ thể, mỗi nhóm đối tượng có trình độ, điều kiện kinh tế xã hội và nhận thức khác nhau thì cần có cách tiếp cận phù hợp. Đối với những vùng sâu, vùng xa trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần sử dụng hình ảnh trực quan nhiều hơn; chú trọng phát huy tối đa vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng. Công tác tuyên truyền vận động người dân về tình trạng hôn nhân cận huyết cần tiến hành thường xuyên.

Thứ ba, nâng cao dân trí vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Thực tế cho thấy thì hiện tượng hôn nhân cận huyết xảy ra ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, chịu sự tác động của nhiều luật tục chi phối, trong cách hiểu và thực hiện của người dân cũng chưa nhận thức được trên cơ sở khoa học. Vì vậy, cần đẩy mạnh việc nâng cao dân trí ở những vùng xảy ra hiện tượng này, áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất cũng là một cách tạo áp lực để người dân tự nâng cao kiến thức của mình trong sản xuất và sinh hoạt.

Thứ tư, xây dựng cây phả hệ cho mỗi gia đình. Đây là điều nên khuyến khích làm, trong sinh hoạt của cộng đồng, thì mỗi cá nhân cũng có lòng tự hào, tự trọng riêng về gia đình, dòng họ. Trong cuộc sống có sự so sánh giữa các chủ thể, điều này thể hiện tính tự tôn giữa làng này với làng khác, dân tộc này với dân tộc khác trên cùng địa vực. Bên cạnh đó, xây dựng cây phả hệ về mặt y học cũng theo dõi được sự di truyền, di cư… của một gia đình. Chính điều này nếu áp dụng đúng với một quy trình chuẩn thì không những xóa được tình trạng hôn nhân cận huyết mà có thể là một đòn bẩy trong xóa đói, giảm nghèo và đạt nhiều mục đích hơn nữa đối với những địa bàn khó khăn. Vì, khi đã hướng đến một “giá trị” thì người ta có kiến thức về sự vật, nhưng điều quan trọng người ta biết lưu giữ, phát huy, trong trường hợp này là giá trị văn hóa gia đình./.

ThS. Trần Đức Thú

Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Gia Lai


[1] Nghiên cứu các con đường đi lên của loài người từ mông muội qua dã man đến văn minh (Chương XIV), của L.H. Morgan, Nxb. Giáo dục Việt Nam.

[2] Người Jarai có một số họ chính như: Siu, Nay, Rơ Chăm, Rơ Mah, Rơ Lan, Ksor …. Người Ba Na có một số họ: Đinh, Hồ, Hà, Siu…

[3] Con cô, con cậu.

[4] Một số dân tộc vùng Tây Nguyên sau giải phóng năm 1975 mới có họ. Người Ba Na trước đây không mang họ, con sinh ra chỉ đặt tên.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: