1. Thi hành án liên quan đến quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất
Thứ nhất, nhiều hợp đồng thế chấp giữa bên vay và bên cho vay là tổ chức tín dụng, ngân hàng đều chỉ căn cứ vào các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan có thẩm quyền cấp mà không tiến hành kiểm tra, thẩm định, đối chiếu với diện tích thực tế, do vậy, khi phát sinh tranh chấp ở giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án tiến hành đo đạc, xác định ranh giới thửa đất thì không ít trường hợp diện tích thực tế khác với diện tích được xác định trên giấy chứng nhận, khác với hợp đồng thế chấp giữa bên vay và bên cho vay. Có trường hợp thì diện tích sử dụng thực tế lớn hơn, có trường hợp nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy chứng nhận; có trường hợp tài sản thế chấp là công trình kiến trúc trên thực tế không đúng với hợp đồng thế chấp.
Thứ hai, trường hợp tài sản thế chấp là đất sử dụng lâu dài và đất trồng cây hàng năm khác, gắn liền với công trình kiến trúc: Công trình kiến trúc xây dựng không đúng theo giấy cấp phép xây dựng hoặc ở các vùng nông thôn, các trường hợp xây dựng trước đây không cần xin cấp phép xây dựng, do vậy, nhiều trường hợp công trình xây dựng chồng lấn trên phần đất là đất trồng cây hàng năm khác hoặc không xây dựng trên phần đất được cấp sử dụng lâu dài (đất thổ cư). Tuy nhiên, hợp đồng thế chấp khi vay vốn vẫn xác định tài sản thế chấp nằm trên đất được cấp phép xây dựng, hoặc đúng trên phần đất được xác định là đất sử dụng lâu dài.
Thứ ba, trường hợp do trước đây, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có phương tiện máy móc chính xác để xác định ranh giới, vị trí mốc giới giữa các hộ gia đình nên nhiều trường hợp, các hộ gia đình xây dựng công trình kiên cố trên phần đất có sự chồng lấn lẫn nhau và trên thực tế vẫn sinh sống ổn định, không tranh chấp. Khi phát sinh tranh chấp giữa bên vay và bên cho vay, chấp hành viên tổ chức thi hành án, tiến hành kê biên, thẩm định giá, xác định diện tích, ranh giới thửa đất phát hiện tài sản thế chấp không đúng so với sơ đồ, trích lục thửa đất.
Từ những sai xót, vi phạm trong quá trình cấp đất, cấp phép xây dựng và hợp đồng thế chấp tài sản để vay vốn, khi phát sinh tranh chấp, đương sự khởi kiện ra Tòa, nhiều trường hợp, Tòa án cũng chỉ căn cứ vào chứng cứ do các bên đương sự cung cấp để xem xét, phán quyết, không xem xét thực tế hiện trạng tài sản thế chấp nên đến giai đoạn thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án gặp rất nhiều khó khăn khi kê biên, xử lý tài sản. Phần lớn những việc như vậy đều thuộc diện án có điều kiện thi hành nhưng lại rất khó tổ chức thi hành dứt điểm, kéo dài thời gian tổ chức thi hành án, không bảo đảm tiến độ, dẫn tới đương sự phản ánh, kiến nghị, khiếu nại đến nhiều cơ quan, ban, ngành, ảnh hưởng đến chỉ tiêu được giao đối với chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.
2. Thi hành án liên quan đến việc xử lý một phần hai giá trị tài sản tịch thu sung vào ngân sách nhà nước và trả lại một phần hai giá trị tài sản cho người có quyền lợi liên quan
Trong một số vụ việc, vật chứng vụ án là phương tiện phạm tội. Tòa án tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một phần hai giá trị tài sản, đồng thời, trả lại một phần hai giá trị tài sản cho người là đồng sở hữu của tài sản đó. Hiện nay, nhiều cơ quan thi hành án dân sự địa phương có những cách xử lý khác nhau và còn tồn tại những bất cập, cần có hướng dẫn để bảo đảm việc thực hiện được thống nhất, đúng quy định pháp luật, cụ thể:
Một là, đối với tài sản Tòa án tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước toàn bộ tài sản là phương tiện phạm tội thì cơ quan thi hành án dân sự chỉ cần bàn giao sang cơ quan tài chính cùng cấp, việc xử lý tài sản đó được coi là xong. Tuy nhiên, đối với tài sản Tòa án tuyên tịch thu sung vào ngân sách một phần hai giá trị, trả lại cho đồng sở hữu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự một phần hai giá trị, có những cơ quan thi hành án dân sự cũng thực hiện bàn giao sang cơ quan tài chính để xử lý. Việc xử lý tài sản này có thể kéo dài cả năm không xử lý xong, tài sản trả cho các đồng sở hữu không thực hiện được, dẫn tới nhiều việc thi hành án tồn đọng, kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ, chỉ tiêu được giao của chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.
Hai là, cũng là trường hợp xử lý tài sản sung vào ngân sách nhà nước một phần hai giá trị, trả lại một phần hai giá trị cho người có quyền lợi liên quan là đồng sở hữu tài sản nhưng lại có cách xử lý khác. Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá tài sản, sau đó thông báo quyền ưu tiên cho đồng sở hữu được mua tài sản đó, nếu đồng sở hữu không có nhu cầu mua tài sản chung, chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện ký hợp đồng đối với tổ chức bán đấu giá để xử lý tài sản. Việc xử lý như vậy thì cơ quan thi hành án sẽ chủ động hơn, đẩy nhanh được tiến độ tổ chức thi hành án, song cũng còn tồn tại một số bất cập:
- Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Thông tư số 200/2016/BTC ngày 09/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, kinh phí cưỡng chế thi hành án dân sự: Chi phí cho việc thẩm định giá, thẩm định giá lại tài sản, giám định tài sản, bán đấu giá tài sản… do người phải thi hành án chịu. Trên thực tế, một số tài sản có giá trị không lớn nhưng các khoản chi phí thẩm định giá, bán đấu giá lớn, thậm chí còn lớn hơn giá bán tài sản. Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự các địa phương còn có cách áp dụng khác nhau: Có trường hợp chấp hành viên thuyết phục đồng sở hữu được trả lại một phần hai giá trị tự nguyện trả các khoản chi phí thẩm định giá, bán đấu giá nhưng không phải trường hợp nào người được nhận lại tài sản sẵn sàng chịu các khoản chi phí đó, họ cho rằng, bản thân họ là người sở hữu hợp pháp tài sản đó, họ không có nghĩa vụ phải chịu các chi phí khi cơ quan thi hành án xử lý tài sản (vì họ không phải là người phải thi hành án), khi đó thì nguồn kinh phí để xử lý tài sản lấy từ nguồn nào cũng gây rất nhiều khó khăn cho chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.
- Đối với trường hợp như trên, có cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên vẫn tiến hành thuê tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá tài sản để xử lý tài sản, sau đó trả lại một phần hai giá trị cho đồng sở hữu, người có quyền lợi liên quan, các chi phí thẩm định giá, bán đấu giá được lấy từ một phần hai giá trị tài sản sung vào ngân sách nhà nước, số tiền còn lại sau khi đã trừ các khoản chi phí được nộp vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng thuận lợi, có những tài sản giá trị thấp, sau khi thẩm định giá, bán đấu giá, trả lại một phần hai giá trị cho người được nhận lại tài sản theo bản án, quyết định thi hành án, số tiền còn lại không đủ để trả các khoản chi phí thẩm định giá, bán đấu giá và đương nhiên cũng không còn khoản tiền để sung vào ngân sách nhà nước. Nguồn kinh phí để thuê tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá trong những trường hợp này hiện cũng chưa có quy định cụ thể lấy từ nguồn nào, dẫn tới việc tổ chức thi hành án còn khó khăn, bất cập.
Trên đây là một số khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn của hoạt động thi hành án dân sự tại địa phương, rất mong nhận được hướng dẫn, chỉ đạo của cấp có thẩm quyền để đẩy nhanh tiến độ thi hành án, bảo đảm quyền lợi của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, hạn chế đơn thư khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu mong đợi của xã hội./.
Trần Ngọc Bản
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên