Thứ năm 20/08/2026 04:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự khác nhau giữa thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân so với thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức trong hoạt động thi hành án dân sự

Trong bài viết này, tác giả phân tích và so sánh thủ tục thông báo trực tiếp cho người được thông báo là cá nhân với khi thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức theo các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự hiện nay.

1. Thủ tục thông báo trong hoạt động thi hành án dân sự

Thông báo trong thi hành án dân sự là cách thức để thông tin đến các đương sự hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về các quyết định, văn bản thi hành án, hay các thông tin khác liên quan đến việc thi hành án. Mục đích của việc thông báo là để những người này biết về quyền và nghĩa vụ của mình để thực hiện theo quy định của pháp luật. Do vậy, việc thông báo cần phải được thực hiện một cách minh bạch, kịp thời, chính xác và đúng pháp luật để đảm bảo quá trình thi hành án được diễn ra suôn sẻ và hiệu quả.

Hiện nay, pháp luật về thi hành án quy định khá chi tiết, chặt chẽ về trình tự thủ tục thông báo. Các vấn đề liên quan đến thông báo được quy định từ Điều 39 đến Điều 43 Luật Thi hành án dân sự; Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 15/3/2020 của Chính phủ (sau đây gọi là Nghị định số 62/2015/NĐ-CP); Điều 2 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự...

2. Thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân

Quy định về thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân trong hoạt động thi hành án được quy định tại Điều 40 Luật Thi hành án dân sự hiện hành, cụ thể như sau:

“1. Văn bản thông báo cho cá nhân phải được giao trực tiếp và yêu cầu người đó ký nhận hoặc điểm chỉ.

2. Trường hợp người được thông báo vắng mặt thì văn bản thông báo được giao cho một trong số những người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với người đó, bao gồm vợ, chồng, con, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, cậu, dì, anh, chị, em của đương sự, của vợ hoặc chồng của đương sự.

Việc giao thông báo phải lập thành biên bản. Ngày lập biên bản là ngày được thông báo hợp lệ.

Trường hợp người được thông báo không có người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng người đó từ chối nhận văn bản thông báo hoặc người được thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về thì người thực hiện thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được thông báo, có chữ ký của người chứng kiến và thực hiện việc niêm yết công khai theo quy định tại Điều 42 của Luật này.

3. Trường hợp người được thông báo đã chuyển đến địa chỉ mới thì phải thông báo theo địa chỉ mới của người được thông báo”.

Như vậy, theo quy định trên thì việc thông báo trực tiếp cho cá nhân có thể thực hiện bằng cách giao trực tiếp văn bản thông báo cho người được thông báo, hoặc thông báo thông qua người thân thích theo quy định, cụ thể:

- Thủ tục thông báo trực tiếp cho người được thông báo. Khi giao (thông báo) thì người thực hiện việc thông báo phải yêu cầu người nhận phải ký nhận hoặc điểm chỉ. Tuy nhiên, trong thực tế thường xảy ra trường hợp người được thông báo từ chối nhận văn bản và từ chối việc ký nhận vào biên bản do người thực hiện thông báo lập. Trong trường hợp này, trên thực tế người thực hiện việc thông báo (chấp hành viên, thừa phát lại hoặc thư ký) sẽ nói rõ nội dung được thông báo cho đương sự nghe sau đó lập biên bản và có người chứng kiến, thì xem như mục đích của việc thông báo đã đạt được. Như vậy, việc người được thông báo không đồng ý nhận văn bản và không đồng ý ký tên vào biên bản cũng không ảnh hưởng đến mục đích của việc thông báo, vì chính bản thân họ đã được nghe về nội dung cần thông báo đã biết được quyền và nghĩa vụ của mình trong văn bản cần thông báo, nên họ vẫn phải có nghĩa vụ thực hiện theo các quyền và nghĩa vụ đã được nghe (thông báo). Hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này tại khoản 4 Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định “Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan từ chối không nhận thông báo thì người thực hiện thông báo trực tiếp phải lập biên bản, có chữ ký của người chứng kiến và việc thông báo được coi là hợp lệ”.

Các quy định trên phản ánh nguyên tắc để xác định việc thông báo đã được thực hiện, dù người nhận có nhận hay từ chối không nhận, vấn đề quan trọng ở đây là họ đã được thông báo và đã nắm được thông tin. Biên bản lập ra trong trường hợp này là bằng chứng cho việc thông báo đã diễn ra đúng quy định của pháp luật.

- Thủ tục, giao thông báo cho người thân thích nhận thay. Trường hợp này cần đáp ứng được các điều kiện sau:

Một là, người được thông báo vắng mặt tại thời điểm, địa điểm người có thẩm quyền thực hiện việc thông báo.

Hai là, người được thông báo có người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với người đó. Người thân thích gồm có: Vợ, chồng, con, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, cậu, dì, anh, chị, em của đương sự, của vợ hoặc chồng của đương sự.

Ba là, người thân thích đồng ý nhận thay, cam kết giao tận tay hoặc thông báo ngay cho người được thông báo[1].

Bốn là, người thân thích nhận thay phải đồng ý ký nhận vào biên bản.

3. Thủ tục thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức

Quy định của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 41, cụ thể như sau:

“Trường hợp người được thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản thông báo phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này ký nhận. Trường hợp cơ quan, tổ chức được thông báo có người đại diện tham gia việc thi hành án hoặc cử người đại diện nhận văn bản thông báo thì những người này ký nhận văn bản thông báo. Ngày ký nhận là ngày được thông báo hợp lệ”.

Theo quy định trên thì việc thông báo cho cơ quan, tổ chức phải được giao trực tiếp cho người có thẩm quyền nhận thông báo (người này có thể là người đại diện theo pháp luật; người được cơ quan, tổ chức ủy quyền; người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó) và điều quan trọng là người này phải ký nhận thì việc thông báo mới được xem là hợp lệ. Do vậy, nếu họ không ký nhận thì xem như không thể thực hiện được việc thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức.

Hiện nay, có khá nhiều người cho rằng trong trường hợp người nhận thông báo cho cơ quan, tổ chức từ chối nhận văn bản, không ký tên thì áp dụng khoản 4 Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để thực hiện tương tự như thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân. Có nghĩa là khi người nhận thông báo cho cơ quan, tổ chức từ chối nhận văn bản, không ký tên thì người thực hiện thông báo chỉ cần lập biên bản về việc thông báo và có người chứng kiến thì xem như đã thông báo hợp lệ, mục đích thông báo đã đạt được. Tuy nhiên, với các quy định về thông báo trong hoạt động thi hành án dân sự như hiện nay (thủ tục thông báo trong thi hành án dân sự hiện nay có một số điểm khác với quy định về thông báo trong Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015), tác giả cho rằng cách hiểu và thực hiện như vậy là không đúng theo quy định của pháp luật vì các lý do sau:

Thứ nhất, người nhận thông báo cho cơ quan, tổ chức họ không phải là đương sự mà đương sự chính là cơ quan, tổ chức (pháp nhân phải thi hành án hoặc được thi hành án). Về mặt pháp lý, việc thi hành án không ảnh hưởng trực tiếp đến người nhận thông báo, mà ảnh hưởng đến cơ quan, pháp nhân họ đang đại diện.

Thứ hai, Điều 41 đã quy định rõ khi thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức thì những người nhận thông báo cho cơ quan, tổ chức đó phải ký nhận thì việc thông báo mới được xem là hợp lệ. Do vậy, nếu họ từ chối nhận thì xem như mục đích của việc thông báo không đạt được, không thực hiện được việc thông báo.

Vì vậy, trường hợp thông báo cho cơ quan, tổ chức mà người nhận thông báo từ chối nhận văn bản và ký nhận thì người thực hiện thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc thông báo trực tiếp để tiến hành niêm yết công khai theo quy định tại Điều 42 Luật Thi hành án dân sự, chứ không áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP được vì quy định này chỉ áp dụng cho “đương sự” và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tác giả thấy rằng việc quy định về cách thức thông báo trực tiếp cho cá nhân, cơ quan, tổ chức như trên của Luật Thi hành án dân sự hiện nay là chặt chẽ, phù hợp và bảo đảm được quyền lợi cho các bên đương sự trong quá trình tổ chức thi hành án.

4. Sự khác nhau giữa thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân so với thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức trong hoạt động thi hành án dân sự

Từ các quy định cụ thể của pháp luật về thi hành án dân sự hiện nay như đã phân tích ở trên thì thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân so với thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức trong hoạt động thi hành án dân sự có một số điểm khác biệt như sau:

Trong thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân thì có thể thực hiện giao văn bản cần thông báo trực tiếp cho họ. Trường hợp họ từ chối nhận, từ chối ký nhận thì chỉ cần lập biên bản và có chữ ký của người chứng kiến thì việc thông báo được coi là hợp lệ. Trường hợp, người được thông báo vắng mặt thì có thể giao cho người thân thích đủ điều kiện theo quy định để nhận thay.

Còn khi thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức thì những người nhận thông báo phải nhận văn bản thông báo và ký nhận thì mới được xem là thông báo hợp lệ. Nếu họ không nhận văn bản và không ký nhận thì phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc thông báo trực tiếp để tiến hành thủ tục niêm yết công khai theo quy định. Trường hợp, những người nhận thông báo vắng mặt thì không được giao thông báo cho người thân thích của họ nhận thay.

Thông qua những phân tích trên, có thể thấy rằng pháp luật về thi hành án dân sự đã có sự phân biệt rõ ràng về thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân và thủ tục thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức cả về mặt lập pháp (quy định ở các điều luật khác nhau) và cả về thủ tục thực hiện. Sự khác biệt này không chỉ góp phần vào hiệu quả của việc tổ chức thi hành án mà còn thể hiện sự chặt chẽ và đầy đủ thủ tục thông báo trong hoạt động thi hành án dân sự, góp phần đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan trong quá trình thi hành án. Do vậy, trong quá trình tổ chức thi hành án trên thực tế các chấp hành viên cần nắm vững và áp dụng chính xác để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng và chặt chẽ cho hồ sơ thi hành án.

Hồ Quân Chính

Học viện Tư pháp


[1] Khoản 5 Điều 2 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những bước chuyển dịch mang tính chiến lược, yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn liền với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng trở nên cấp bách. Trong tiến trình đó, hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) giữ vai trò nền tảng trong việc hiện thực hóa công bằng xã hội và bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế. Để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã ban các hành kế hoạch và tổ chức triển khai các nội dung của Luật Trợ giúp pháp lý, góp phần thực hiện quyền con người, quyền công dân. Trong 06 tháng đầu năm 2026, công tác TGPL tại Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã đạt được những kết quả đáng kể.
Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống thi hành án dân sự Việt Nam (19/7/1946 - 19/7/2026) là dịp để nhìn lại chặng đường hình thành, xây dựng và phát triển của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) - bộ phận cấu thành không thể tách rời của nền tư pháp Việt Nam. Trải qua 80 năm, Hệ thống THADS không ngừng được củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cơ chế pháp lý, đóng góp quan trọng vào công cuộc bảo vệ công lý, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong tiến trình đó, mối quan hệ phối hợp giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan THADS luôn giữ vai trò trung tâm, là “sợi chỉ đỏ” kết nối hoạt động xét xử với hoạt động thi hành án, bảo đảm mỗi bản án, quyết định của Tòa án không chỉ dừng lại trên văn bản mà thực sự đi vào cuộc sống, phát huy giá trị, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, trong bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang đặt ra ngày càng cấp thiết, việc tổng kết, phân tích công tác phối hợp giữa hai thiết chế này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Đổi mới tư duy, quy trình, nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án dân sự phục vụ hiệu quả cho việc hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, chuyển đổi số và sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ mới đối với Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS). Theo đó, công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ không chỉ giải đáp khó khăn, vướng mắc trong từng vụ việc cụ thể mà còn phải bảo đảm thống nhất nhận thức, áp dụng pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, chỉ đạo, điều hành trong toàn Hệ thống THADS. Thực tiễn cho thấy, chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ có tác động trực tiếp đến chất lượng tổ chức thi hành án và kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, việc đổi mới tư duy, quy trình và nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ THADS là yêu cầu cấp thiết, góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam ghi nhận dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự, đồng thời, thiết lập cơ chế giám định tư pháp nhằm phục vụ hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự còn bộc lộ nhiều hạn chế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, nghiên cứu làm rõ những bất cập, hạn chế trong hoạt động giám định tư pháp đối với dữ liệu điện tử trong tư pháp hình sự Việt Nam, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên mới, việc tăng cường nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, đặc biệt, cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng.
Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Phiên tòa giả định được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác tuyên truyền pháp luật về trợ giúp pháp lý cho trẻ em nói riêng và chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung, góp phần xây dựng đất nước công bằng, xã hội văn minh trong kỷ nguyên mới.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp là tổ chức cơ sở đoàn trực thuộc Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Chính phủ, nơi hội tụ, tập hợp đội ngũ cán bộ trẻ đầy nhiệt huyết, có trình độ chuyên môn cao, hoạt động trong lĩnh vực pháp luật. Lĩnh vực pháp luật được xác định là một trong những nền tảng vững chắc để khởi tạo xã hội thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Việt Nam trong sạch, vững mạnh, toàn diện. Qua đó, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị làm “nòng cốt” để Nhân dân làm chủ được vận hành thông suốt, góp phần hiện thực hóa khát vọng đi lên chủ nghĩa xã hội của Nhân dân.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain)… làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ cơ bản của quản lý nhà nước và là cầu nối giữa pháp luật với người dân. Trong giai đoạn hiện nay, khi yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát huy vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật ngày càng cao, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã càng đóng vai trò quan trọng. Bài viết nghiên cứu thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới, xác định những kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc gặp phải. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới trong thời gian tới.
Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trải qua 35 năm xây dựng và phát triển, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Thành ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố và tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, toàn ngành Tư pháp thành phố Huế đã triển khai thực hiện các mục tiêu với tinh thần vào cuộc “từ sớm, từ xa”, tập trung giải quyết, xử lý kịp thời những vấn đề mới phát sinh, thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ “hàng rào kỹ thuật” về các vấn đề pháp lý, nhất là lĩnh vực trực tiếp gắn liền với người dân, doanh nghiệp; góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển của thành phố Huế, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Trong bức tranh tổng thể phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, Sở Tư pháp ngày càng thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong tham mưu xây dựng thể chế, kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc thông qua những hoạt động chuyên môn sâu, rộng và tinh thần đổi mới sáng tạo không ngừng, góp phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện, bền vững của địa phương.
Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Tóm tắt: Kết luận giám định tư pháp là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng, được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án, vụ việc, giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm. Bài viết phân tích quy định của pháp luật và thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của đối tượng này nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan và hiệu quả trong hoạt động tố tụng.
Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Việc tương trợ tư pháp được cơ quan chức năng triển khai và áp dụng theo các điều ước quốc tế (song phương và đa phương) mà Việt Nam là thành viên, trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại.
Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Trong hoạt động tương trợ tư pháp (TTTP) giữa các quốc gia, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (được yêu cầu) ngoài việc áp dụng pháp luật nước mình, có phải áp dụng pháp luật nước ngoài hay không và điều kiện áp dụng ra sao là vấn đề luôn được đặt ra dưới khía cạnh tư pháp quốc tế, cũng như trong hoạt động tố tụng dân sự quốc tế nói chung.

Theo dõi chúng tôi trên: