Thứ hai 18/05/2026 17:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vướng mắc, bất cập trong quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Bài viết thể hiện một số vướng mắc, bất cập giữa Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự) với các quy định khác của pháp luật và bất cập khung hình phạt về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng.

1. Vướng mắc, bất cập trong quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự

Theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định tình tiết định khung hình phạt như sau: “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng”.

Còn tại khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 như sau: “Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” (có hiệu lực từ 01/01/2020), tức là không cho phép người sử dụng rượu, bia hoặc các thực phẩm có cồn khi tham gia giao thông với bất kỳ lý do nào.

Như vậy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự chưa thống nhất với Luật Giao thông đường bộ, quy định như Điều 260 Bộ luật Hình sự đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng cần phải chứng minh được trong máu hoặc hơi thở của người gây tai nạn có nồng độ cồn, đồng thời, nồng độ cồn đó là do uống rượu, bia chứ không phải do nguyên nhân khác. Thực tế, khó có thể chứng minh nếu trong trường hợp kết quả xét nghiệm của người gây tai nạn có nồng độ cồn (ở mức thấp) nhưng người này đưa ra lời khai không sử dụng rượu, bia mà chỉ sử dụng thực phẩm có cồn (như uống thuốc chữa bệnh, uống siro…) thì sẽ không đủ căn cứ để buộc tội theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” là hành vi vi phạm và bị nghiêm cấm, do đó, Bộ luật Hình sự cũng cần sửa đổi, thống nhất, phù hợp theo quy định của Luật Giao thông đường bộ.

2. Xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do vi phạm Điều 260 và Điều 138 Bộ luật Hình sự

Tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự thì hành vi vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân từ 31% trở lên là đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, còn theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Ví dụ: Trường hợp Hồ Trọng N điều khiển ô tô tham gia giao thông đường bộ nhưng vi phạm quy định về giới hạn tốc độ, quy định về sử dụng làn đường... gây ra tai nạn giao thông hậu quả làm 01 người bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 60%, Nguyễn Văn M có hành vi vô ý gây thương tích cho một người với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 31%.

Có thể thấy cả N và M đều có hành vi gây thương tích cho người khác với lỗi vô ý, tuy nhiên, hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của N gây tổn hại cho sức khỏe người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 60% không thuộc trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Hành vi của M tuy hậu quả gây tổn thương cơ thể của người khác với tỷ lệ thấp hơn (31%) thì phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Điều này không công bằng đối với các hành vi xảy ra trong thực tế bởi vì hậu quả xảy ra của N là lớn hơn và cả 2 hành vi đều với lỗi vô ý, tuy nhiên, hành vi gây ra hậu quả lớn hơn lại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nghiên cứu quy định tại khoản 1 Điều 108 (tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác) và khoản 1 Điều 202 (tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ) Bộ luật Hình sự năm 1999 và Mục 4 Chương I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự cho thấy, cùng mức cấu thành vật chất là tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân từ 31% trở lên thì tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 202 được Bộ luật Hình sự năm 1999 đánh giá có tính nguy hiểm cao hơn nhiều so với quy định tại khoản 1 Điều 108. Điều đó được thể hiện rõ hơn tại quy định về hình phạt, cụ thể khoản 1 Điều 108 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt từ cảnh cáo đến cao nhất là tù có thời hạn đến 02 năm, trong khi đó, khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt tiền là mức thấp nhất và mức cao nhất là 05 năm tù.

Có thể thấy, trong nhiều trường hợp, hành vi điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ tham gia giao thông nhưng vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ sẽ tiềm ẩn tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn hành vi vô ý gây thương tích đơn thuần, bởi, nó xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, trong khi đó, hành vi vô ý gây thương tích thường mang tính đơn lẻ nhiều hơn.

3. Bất cập trong định khung hình phạt tại Điều 260 Bộ luật Hình sự

Ví dụ: Minh C lái xe ô tô vi phạm quy định về giao thông đường bộ, gây tai nạn hậu quả làm 01 người chết, 02 người bị thương với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của 02 người là 121%. Do vậy với hậu quả do Minh C gây ra sẽ bị xử lý theo điểm a, điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự (khung hình phạt 01 đến 05 năm). Còn trong trường hợp, Văn T gây tai nạn làm 02 người bị thương với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của 02 người là 122% thì sẽ bị truy tố theo điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự (khung hình phạt từ 03 năm đến 10 năm).

Có thể thấy rằng hậu quả do Văn T gây ra nhẹ hơn (02 người bị thương với tổng tỷ lệ 122%) so với hậu quả do Minh C gây ra (01 người chết, 02 người bị thương 121%) nhưng B bị xử lý nặng hơn so với A là không phù hợp.

Tương tự như vậy là trường hợp 02 người chết, 02 người bị thương mà tổng tỷ lệ thương tích là 200% sẽ bị xử lý theo điểm đ, điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, còn trường hợp 03 người bị thương (tổng tỷ lệ thương tích là 201% trở lên) sẽ bị xử lý theo điểm b khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quy định này cũng cần được kịp thời xem xét, sửa đổi cho phù hợp.

Đặng Đình Thái

Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 4

Ảnh: internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên mới, việc tăng cường nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, đặc biệt, cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng.
Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Phiên tòa giả định được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác tuyên truyền pháp luật về trợ giúp pháp lý cho trẻ em nói riêng và chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung, góp phần xây dựng đất nước công bằng, xã hội văn minh trong kỷ nguyên mới.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp vững bước trong kỷ nguyên mới

Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp là tổ chức cơ sở đoàn trực thuộc Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Chính phủ, nơi hội tụ, tập hợp đội ngũ cán bộ trẻ đầy nhiệt huyết, có trình độ chuyên môn cao, hoạt động trong lĩnh vực pháp luật. Lĩnh vực pháp luật được xác định là một trong những nền tảng vững chắc để khởi tạo xã hội thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Việt Nam trong sạch, vững mạnh, toàn diện. Qua đó, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị làm “nòng cốt” để Nhân dân làm chủ được vận hành thông suốt, góp phần hiện thực hóa khát vọng đi lên chủ nghĩa xã hội của Nhân dân.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain)… làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ cơ bản của quản lý nhà nước và là cầu nối giữa pháp luật với người dân. Trong giai đoạn hiện nay, khi yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát huy vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật ngày càng cao, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã càng đóng vai trò quan trọng. Bài viết nghiên cứu thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới, xác định những kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc gặp phải. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới trong thời gian tới.
Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trải qua 35 năm xây dựng và phát triển, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Thành ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố và tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, toàn ngành Tư pháp thành phố Huế đã triển khai thực hiện các mục tiêu với tinh thần vào cuộc “từ sớm, từ xa”, tập trung giải quyết, xử lý kịp thời những vấn đề mới phát sinh, thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ “hàng rào kỹ thuật” về các vấn đề pháp lý, nhất là lĩnh vực trực tiếp gắn liền với người dân, doanh nghiệp; góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển của thành phố Huế, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Trong bức tranh tổng thể phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, Sở Tư pháp ngày càng thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong tham mưu xây dựng thể chế, kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc thông qua những hoạt động chuyên môn sâu, rộng và tinh thần đổi mới sáng tạo không ngừng, góp phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện, bền vững của địa phương.
Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Tóm tắt: Kết luận giám định tư pháp là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng, được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án, vụ việc, giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm. Bài viết phân tích quy định của pháp luật và thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của đối tượng này nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan và hiệu quả trong hoạt động tố tụng.
Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Việc tương trợ tư pháp được cơ quan chức năng triển khai và áp dụng theo các điều ước quốc tế (song phương và đa phương) mà Việt Nam là thành viên, trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại.
Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Trong hoạt động tương trợ tư pháp (TTTP) giữa các quốc gia, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (được yêu cầu) ngoài việc áp dụng pháp luật nước mình, có phải áp dụng pháp luật nước ngoài hay không và điều kiện áp dụng ra sao là vấn đề luôn được đặt ra dưới khía cạnh tư pháp quốc tế, cũng như trong hoạt động tố tụng dân sự quốc tế nói chung.
Thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp

Thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp

Từ ngày 01/7/2025, chính quyền địa phương ở Việt Nam được tổ chức theo mô hình 02 cấp: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh) và xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (cấp xã).
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật cho các tổ chức, cá nhân khu vực phía Nam

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật cho các tổ chức, cá nhân khu vực phía Nam

Đối với khu vực phía Nam - nơi tập trung đông dân cư, nhiều trung tâm kinh tế trọng điểm và có sự đa dạng về điều kiện kinh tế - xã hội đang đối mặt với thách thức không nhỏ trong việc nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và kỹ năng, nghiệp vụ pháp luật cho các tổ chức, cá nhân. Đây không chỉ là nhiệm vụ của hệ thống chính trị mà còn là trách nhiệm xã hội của các cơ sở đào tạo pháp luật trong cả nước, trong đó có Trường Cao đẳng Luật miền Nam (sau đây gọi là Trường) - với vai trò là cơ sở đào tạo pháp luật thuộc Bộ Tư pháp xác định sứ mệnh đồng hành cùng địa phương, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật tại chỗ thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật.
Công tác đào tạo cao đẳng, trung cấp pháp luật; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho các tổ chức, cá nhân khu vực miền Trung - Tây Nguyên - Kết quả và định hướng

Công tác đào tạo cao đẳng, trung cấp pháp luật; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho các tổ chức, cá nhân khu vực miền Trung - Tây Nguyên - Kết quả và định hướng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ “then chốt”, trong đó, giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò quan trọng trong đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, các nghị định hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật có liên quan đã tạo hành lang pháp lý cho đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, trong đó có ngành Luật. Nhiều nghị quyết của Bộ Chính trị nhấn mạnh, cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ pháp luật có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn để nâng cao hiệu quả quản lý và thực thi pháp luật. Miền Trung - Tây Nguyên là khu vực rộng lớn, đa dạng về văn hóa - xã hội, với nhiều địa bàn đặc thù như vùng cao, vùng biên giới, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Đây cũng là những nơi chịu nhiều tác động tiêu cực từ điều kiện kinh tế, thiên tai, hạ tầng giáo dục và pháp lý chưa đồng đều. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường công tác đào tạo pháp luật và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ cơ sở, người dân và các đối tượng chuyên môn tại khu vực này không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn, mà còn thể hiện trách nhiệm xã hội sâu sắc của ngành Tư pháp, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo bền vững và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từ cơ sở
Trường Đại học Luật Hà Nội - Trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật cho ngành Tư pháp và đất nước

Trường Đại học Luật Hà Nội - Trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật cho ngành Tư pháp và đất nước

Kể từ khi thành lập (ngày 10/11/1979) đến nay, được sự tin tưởng của Đảng và Nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội tự hào là một trong những cơ sở đào tạo và nghiên cứu pháp luật hàng đầu của Việt Nam và tiếp tục được Chính phủ xác định là trường trọng điểm đào tạo cán bộ pháp luật theo Quyết định số 1156/QĐ-TTg ngày 30/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tổng thể “Tiếp tục xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật”.

Theo dõi chúng tôi trên: