Thứ tư 18/03/2026 01:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Thành phố Hà Nội và giải pháp hoàn thiện

Bài viết về một số bất cập trong quy định pháp luật về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, góp phần bảo vệ quyền lợi của trẻ em, đồng thời bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

1. Một số vấn đề lý luận về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Định nghĩa về hình phạt là vấn đề quan trọng trong khoa học pháp lý. Việc quy định đầy đủ, chính xác khái niệm hình phạt không chỉ bảo đảm nhận thức thống nhất về hình phạt mà còn góp phần bảo đảm mục đích và hiệu quả của hình phạt trong thực tiễn áp dụng, đồng thời tối ưu hóa hiệu quả phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hình phạt, cụ thể: Ở góc độ ngôn ngữ, theo Đại từ điển tiếng Việt thì hình phạt được hiểu là “hình thức trị tội tương ứng với tội trạng của phạm nhân”[1]. Tiếp cận dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo PGS.TS. Trịnh Tiến Việt thì: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, do Tòa án quyết định áp dụng trong bản án có hiệu lực pháp luật đối với người hoặc pháp nhân thương mại bị kết án có nội dung tước bỏ hay hạn chế quyền, lợi ích của các chủ thể tương ứng đó, qua đó nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm[2]. Trong khi đó, ở góc độ lập pháp hình sự, tại Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015) quy định: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó[3].

Ngoài những định nghĩa trên, còn có nhiều quan điểm khác về hình phạt từ các góc độ khác nhau. Việc phân tích và so sánh các quan điểm này là cần thiết để có được một định nghĩa đầy đủ và chính xác về hình phạt, phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật. Tác giả tán thành với khái niệm “hình phạt” của PGS.TS. Trịnh Tiến Việt vì khái niệm này bao hàm đầy đủ các đặc điểm của hình phạt, phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật và thể hiện được mục đích và hiệu quả của hình phạt.

Theo GS.TSKH. Lê Văn Cảm: Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm[4]. Người dưới 18 tuổi là một nhóm đối tượng đặc biệt trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, do đang trong giai đoạn phát triển về thể chất và tâm sinh lý, họ có những đặc điểm tâm lý khác biệt so với người trưởng thành, dẫn đến khả năng nhận thức và kiểm soát hành vi còn hạn chế. Về mặt tâm lý, những người này dễ bị kích động, lôi kéo bởi những hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm, nhưng cũng dễ thay đổi, thích nghi với hoàn cảnh mới và dễ giáo dục, cải tạo. Ở đối tượng này, ý thức phạm tội thường chưa được hình thành rõ nét[5]. Vì những đặc điểm tâm lý này, pháp luật hình sự Việt Nam đã có những quy định riêng về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Hình phạt áp dụng cho người dưới 18 tuổi phạm tội có những đặc điểm riêng biệt so với hình phạt áp dụng cho người trưởng thành như: Mức hình phạt thấp hơn so với người đã thành niên phạm tội tương tự; hạn chế tối đa việc áp dụng hình phạt tù; ưu tiên áp dụng các biện pháp giáo dục, răn đe không tước tự do; bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dưới 18 tuổi trong quá trình áp dụng hình phạt; mục đích chính là giúp người chưa thành niên nhận thức được sai trái, sửa chữa lỗi lầm và tái hòa nhập cộng đồng. Những đặc điểm này thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi và thiên về giáo dục, cải tạo hơn trừng phạt. Do đó, các loại hình phạt và mức phạt thường nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội tương tự. Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu khái niệm “hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” như sau: Hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, được quy định trong Bộ luật Hình sự, do Tòa án có thẩm quyền xét xử và quyết định áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người dưới 18 tuổi phạm tội.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những điều chỉnh và hoàn thiện quan trọng về hệ thống hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Theo quy định tại Điều 98 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hệ thống hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội gồm 04 loại hình phạt: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn. Đồng thời, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng quy định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Cụ thể:

Thứ nhất, hình phạt cảnh cáo.

Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định một điều luật riêng về việc áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Khi Tòa án áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì sẽ áp dụng Điều 34 Bộ luật Hình sự năm 2015 giống như người đã thành niên. Điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và chưa đến mức miễn hình phạt. Hình phạt này mang tính giáo dục sâu sắc, thể hiện sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với hành vi phạm tội. Hình phạt này không gây thiệt hại về tài sản hay hạn chế thể chất, nhưng có thể gây ra những thiệt hại nhất định về mặt tinh thần. Hình phạt cảnh cáo được Tòa án tuyên đọc công khai tại phòng xét xử. Trong một số trường hợp nhất định, quyết định cảnh cáo có thể được công bố trên phương tiện truyền thông, nơi làm việc hoặc nơi cư trú của người dưới 18 tuổi phạm tội.

Thứ hai, hình phạt tiền.

Điều 99 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hình phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau: Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng... Có thể thấy, phạt tiền là việc Tòa án buộc người dưới 18 tuổi phạm tội nộp một khoản tiền nhất định theo quy định của pháp luật để sung vào công quỹ Nhà nước. Mục đích của hình phạt này là giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội có ý thức tuân thủ pháp luật. Đối tượng áp dụng là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội, có thu nhập hoặc tài sản riêng. Hình phạt này được áp dụng cho tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015[6]. Mức phạt tối đa không quá một phần hai mức phạt tiền mà điều luật quy định, Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định về mức tối thiểu.

Thứ ba, hình phạt cải tạo không giam giữ.

Hình phạt cải tạo không giam giữ là một hình phạt nghiêm khắc hơn các hình phạt không giam giữ khác nhưng nhẹ hơn tù có thời hạn. Mục đích của hình phạt này là nhằm giúp người phạm tội sửa chữa sai lầm, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội. Hình phạt này được quy định chung tại Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 và quy định cụ thể về áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đối tượng áp dụng là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý; có nơi làm việc ổn định hoặc nơi cư trú rõ ràng và Tòa án xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ sẽ không khấu trừ thu nhập của người bị kết án, những người bị áp dụng hình phạt này có nghĩa vụ lao động phục vụ cộng đồng, thời gian phục vụ không quá 04 giờ/ngày và 05 ngày/tuần.

Thứ tư, hình phạt tù có thời hạn.

Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt nặng nhất trong hệ thống hình phạt áp dụng cho người dưới 18 tuổi phạm tội. Hình phạt này tước tự do, cách ly người phạm tội khỏi xã hội trong một thời gian nhất định và được áp dụng khi các biện pháp giáo dục và hình phạt khác không đạt hiệu quả. Tù có thời hạn là giam người bị kết án ở các trại giam, tức là cách ly người đó ra khỏi môi trường, đời sống xã hội bình thường để giáo dục và cải tạo họ. Sự hạn chế tự do của người bị kết án tù có thời hạn là nội dung pháp lý chủ yếu của loại hình phạt này. Về điều kiện áp dụng, Bộ luật Hình sự năm 2015 không có quy định cụ thể về điều kiện áp dụng đối với người dưới 18 tuổi, việc áp dụng hình phạt này tương tự như người đã thành niên theo Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 và không áp dụng đối với người phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng, do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng.

So với người đã thành niên thì người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn so với người đã thành niên đối với tội phạm tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất. Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định mức phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, theo đó: Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì mức hình phạt tù cao nhất không được vượt quá 18 năm nếu điều luật áp dụng quy định tù chung thân hoặc tử hình. Mức hình phạt tù cao nhất không được vượt quá ba phần tư mức phạt tù quy định nếu điều luật áp dụng quy định tù có thời hạn. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì mức hình phạt tù cao nhất không được vượt quá 12 năm nếu điều luật áp dụng quy định tù chung thân hoặc tử hình. Mức hình phạt tù cao nhất không được vượt quá một phần hai mức phạt tù quy định nếu điều luật áp dụng quy định tù có thời hạn.

Khi xử lý vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội, Tòa án cần ưu tiên áp dụng hình phạt nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội, tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất. Nhằm bảo đảm ưu tiên áp dụng các biện pháp giáo dục và các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn (cải tạo không giam giữ, cảnh cáo, phạt tiền). Hình phạt tù có thời hạn chỉ được áp dụng khi các biện pháp trên không đủ để đáp ứng mục tiêu phòng ngừa.

2. Thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Thành phố Hà Nội và những khó khăn, vướng mắc

Thành phố Hà Nội là trung tâm kinh tế - xã hội phát triển hàng đầu Việt Nam với tốc độ phát triển nhanh chóng và mật độ dân số cao nhất cả nước, kéo theo tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp. Theo thống kê từ năm 2019 đến năm 2023, Cơ quan điều tra đã khởi tố 38.539 vụ án, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp phê chuẩn quyết định khởi tố 61.970 bị can[7]. Số lượng người dưới 18 tuổi phạm tội tại Thành phố Hà Nội giai đoạn 2019 - 2023 có biến động bất ổn định, với xu hướng đa dạng về loại hình, phức tạp về tính chất và nguy hiểm về hành vi và thủ đoạn. Các đối tượng thường thực hiện các tội phạm xâm phạm trật tự xã hội, nhân phẩm, sức khỏe con người và sở hữu, gây bức xúc trong xã hội. Theo báo cáo của Cơ quan điều tra - Công an Thành phố Hà Nội, trong giai đoạn 05 năm (2019 - 2023), trên địa bàn Thành phố Hà Nội ghi nhận 3.035 trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội, chiếm tỷ lệ 4,9% so với tổng số người phạm tội. Cụ thể, nhóm từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi có 168 bị can bị khởi tố, chiếm 0,27% tổng số người phạm tội; nhóm từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi có 2.867 bị can bị khởi tố, chiếm 4,63% tổng số người phạm tội. Đáng chú ý, trong năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp của Thành phố Hà Nội đã truy tố 1.420 bị can là người dưới 18 tuổi[8].

Theo Báo cáo thống kê của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, trong năm 2023, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã thụ lý 1.089 vụ án với 1.089 bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi. Trong đó, 841 bị cáo đã được xét xử sơ thẩm và 09 bị cáo được đình chỉ xét xử. Việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm Thành phố Hà Nội cho thấy: Hình phạt tù có thời hạn từ 03 năm trở xuống là phổ biến nhất, với 324 bị cáo (chiếm 38,53%), phạt tù cho hưởng án treo dành cho 427 bị cáo (chiếm 50,77%). Hình phạt tù từ trên 03 năm đến 07 năm được áp dụng cho 61 bị cáo (chiếm 7,25%) và không có trường hợp nào bị áp dụng hình phạt tù trên 07 năm. Ngoài ra, còn có các hình phạt khác như cải tạo không giam giữ áp dụng cho 29 bị cáo (chiếm 3,45%) và không có trường hợp nào bị áp dụng hình phạt cảnh cáo hay phạt tiền[9]. Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm trong giai đoạn 2018 - 2023 đã thụ lý 57 vụ án với 80 bị cáo là người dưới 18 tuổi. Riêng năm 2023, số vụ án tăng lên 14 vụ, chiếm tỷ lệ 20,6% tổng số vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi do Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử. Trong đó, hình phạt tù có thời hạn từ 03 năm trở xuống cũng là hình phạt được áp dụng phổ biến nhất với 57 bị cáo (chiếm 63,64%); phạt tù có thời hạn từ trên 03 năm đến 07 năm là 11 bị cáo (chiếm 12,36%); cải tạo không giam giữ là 05 bị cáo (chiếm 5,92%), không có bị cáo nào được áp dụng hình phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền[10].

Trong những năm qua, Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hà Nội luôn quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc, quy định riêng khi xét xử vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi. Xác định người dưới 18 tuổi là đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ và giáo dục, Hội đồng xét xử đã cân nhắc kỹ lưỡng khi áp dụng hình phạt bảo đảm nhân đạo, khoan hồng trong chính sách hình sự, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi theo quy định của Nhà nước Việt Nam.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy, hoạt động áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm của Thành phố Hà Nội tuy đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần được khắc phục như:

Một là, tỷ lệ áp dụng các hình phạt không tước tự do (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ) còn thấp so với hình phạt tù. Xu hướng chung của hệ thống pháp luật hình sự về việc tăng cường áp dụng hình phạt không tước tự do cho người dưới 18 tuổi phạm tội chưa được thực hiện hiệu quả. Một số thẩm phán và hội thẩm có xu hướng xem trọng hình phạt tù, dẫn đến việc áp dụng hình phạt tù không cần thiết, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

Hai là, vẫn còn trường hợp Tòa án áp dụng hình phạt nặng hơn so với hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi. Điển hình như vụ án xảy ra vào ngày 12/4/2020, nhóm của Phạm Đình P (gồm 09 người) mang theo hung khí đi tìm nhóm của Phạm Văn N để đánh nhau. Khi phát hiện nhóm đối thủ, nhóm của Phạm Đình P đuổi theo và dùng nhiều loại hung khí tấn công anh Lê Mạnh T, khiến anh bị thương nặng và tử vong sau đó. Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án Nguyễn Văn M và Nguyễn Hồng Đ về tội giết người với mức án 10 năm tù. Tòa án phúc thẩm đã kết án Nguyễn Quốc A về tội giết người với mức án 07 năm tù. Tuy nhiên, cả hai bản án đều được đánh giá là vi phạm pháp luật vì đã áp dụng mức hình phạt cao hơn quy định đối với người chưa thành niên phạm tội. Theo đó, việc Tòa án áp dụng mức án 10 năm tù cho Nguyễn Văn M và Nguyễn Hồng Đ là vượt quá mức án tối đa 09 năm tù quy định cho người từ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt. Việc áp dụng mức án 07 năm tù cho Nguyễn Quốc A là vượt quá mức án tối đa 04 năm tù quy định cho người từ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt[11]. Những sai phạm của Tòa án đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của các bị cáo và vi phạm nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.

Ba là, thiếu đồng bộ trong áp dụng hình phạt. Mức hình phạt áp dụng cho cùng một hành vi có thể khác nhau giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện. Đơn cử như các vụ án sau: Vụ án thứ nhất, khoảng 15 giờ ngày 31/3/2022, tại số 01 lô 02 khu liền kề N, ngõ 67 đường P, phường V, quận N, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Đăng G sinh ngày 22/4/2004 (khi phạm tội 17 tuổi 11 tháng 09 ngày) đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, trị giá 17.000.000 đồng. G đã bị Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm xét xử về tội trộm cắp tài sản, xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng G 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án[12]. Vụ án thứ hai, khoảng 17 giờ 20 phút ngày 30/9/2022, tại quán điện tử X phường C, quận B, Thành phố Hà Nội, bị cáo Đỗ Hồng Q (sinh ngày 07/12/2004) đã có hành vi lấy chìa khóa mượn của anh H đi ra khu vực cửa quán, dùng chìa khóa mở khóa lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha trị giá 14.000.000 đồng. Bị cáo khai nhận tội, vật chứng đã được thu hồi và khắc phục trả bị hại đầy đủ, bị hại không có yêu cầu bồi thường về dân sự. Tòa án đã xét xử Q về tội trộm cắp tài sản, xử phạt bị cáo Đỗ Hồng Q 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án[13]. Sự chênh lệch trong hình phạt này khiến cho tính răn đe, giáo dục của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội giảm sút. Đồng thời, nó cũng vi phạm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, ảnh hưởng đến sự công bằng trong xét xử. Nguyên nhân do quá trình xem xét, đánh giá tài liệu chứng cứ và quan điểm pháp luật còn khác biệt, cách hiểu, cách áp dụng pháp luật và nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội chưa thống nhất.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện nay chưa có quy định cụ thể về áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Việc áp dụng hình phạt cảnh cáo cho đối tượng này dựa trên quy định chung tại Điều 34 Bộ luật Hình sự năm 2015 dành cho người đã thành niên. Do đó, tác giả kiến nghị bổ sung quy định chi tiết về áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội bằng một điều luật riêng tại Mục 4 Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm bảo đảm tính logic và hệ thống trong văn bản luật, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của người dưới 18 tuổi và nhấn mạnh mục đích giáo dục, răn đe và hướng đến cải tạo. Theo đó, điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với người dưới 18 tuổi có thể được quy định theo hai nhóm độ tuổi: (i) Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: Có thể áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng; (ii) Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: Áp dụng theo quy định chung tại Điều 34 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đồng thời, kiến nghị bỏ điều kiện “nhưng chưa đến mức miễn hình phạt” tại Điều 34 Bộ luật Hình sự năm 2015 để mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt cảnh cáo cho người dưới 18 tuổi phạm tội.

Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định cụ thể về mức phạt tiền tối thiểu đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Điều này đã gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật và tạo ra sự thiếu thống nhất trong thực tiễn. Do đó, tác giả đề xuất bổ sung quy định cụ thể về mức phạt tiền tối thiểu đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Điều 99 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm bảo đảm tính thống nhất và khả thi trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Đồng thời cũng bảo đảm tính răn đe và đáp ứng được tính ổn định cao cho quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng cần có quy định cụ thể nhằm hướng dẫn việc xác định tình hình tài sản của người phạm tội và quy định rõ chủ thể có trách nhiệm xác định tình hình tài sản của người phạm tội.

Thứ ba, hiện nay Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định cụ thể về các hoạt động giáo dục, đào tạo và lao động phục vụ cộng đồng trong quá trình chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Điều này vô hình trung đã làm hạn chế hiệu quả giáo dục, rèn luyện và tái hòa nhập cộng đồng của người dưới 18 tuổi phạm tội. Do đó, tác giả kiến nghị bổ sung quy định cụ thể về các hoạt động giáo dục, đào tạo và lao động phục vụ cộng đồng trong quá trình chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Cụ thể, đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải tham gia các khóa học đào tạo nghề, tham gia chương trình giáo dục về ý thức tuân thủ pháp luật. Còn đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì bắt buộc thực hiện các công việc lao động phục vụ cộng đồng. Với thời hạn lao động tối thiểu là 48 giờ và tối đa là 320 giờ, không quá 03 giờ trong một ngày và không quá 03 ngày trong 1 tuần. Tòa án xem xét độ tuổi và tình trạng sức khỏe để quyết định nội dung công việc và thời hạn lao động phù hợp. Ngoài ra, cần bổ sung thời hạn tối thiểu áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ với thời hạn là 06 tháng và không quá một phần hai thời hạn tối đa mà khung hình phạt được áp dụng quy định.

Thứ tư, tăng cường ban hành các giải đáp nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm và tổ chức tập huấn kỹ năng cho các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án. Việc này giúp bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong áp dụng hình phạt.

Thứ năm, tăng cường công tác tuyển dụng và đào tạo, bồi dưỡng, khuyến khích nghiên cứu, tham gia hội thảo chuyên đề, rèn luyện đạo đức, xử lý vi phạm đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức./.

ThS. Hoàng Văn Nhất

Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp

Hoàng Bảo Ngọc

Đại học Quốc gia Hà Nội

Ảnh: internet


[1] Đại từ điển tiếng Việt (1998), Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr. 808.

[2] Trịnh Tiến Việt (2022), “Trách nhiệm hình sự và hình phạt - Giáo trình sau đại học”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

[3] Xem Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Lê Văn Cảm (2020), “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

[5] Nguyễn Ngọc Hòa (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần chung), Nxb. Tư pháp, tr. 382.

[6] Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[7] Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội (2019 - 2023), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 2019, 2020, 2021, 2022, 2023.

[8] Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội (2023), Báo cáo thông kê tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội.

[9] Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội (2023), Báo cáo thống kê người dưới 18 tuổi phạm tội bị xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội năm 2023.

[10] Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội (2023), Thống kê tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội.

[11] Xem thêm Thông báo số 102/TB-VKSTC-V7 ngày 22/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc rút kinh nghiệm vụ án hình sự Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án hình sự phúc thẩm để xét xử lại.

[12] Tòa án nhân dân quận N, Thành phố Hà Nội (2022), Bán án số 119/2022/HS-ST ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân quận N đã xét xử bị cáo Nguyễn Đăng G về tội trộm cắp tài sản.

[13] Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hà Nội (2023), Bản án số 36/2023/HSST ngày 28/02/2023 của Tòa án nhân dân quận B đã xét xử bị cáo Đỗ Hồng Q về tội trộm cắp tài sản.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain)… làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Công an xã ở khu vực biên giới

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ cơ bản của quản lý nhà nước và là cầu nối giữa pháp luật với người dân. Trong giai đoạn hiện nay, khi yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát huy vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật ngày càng cao, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã càng đóng vai trò quan trọng. Bài viết nghiên cứu thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới, xác định những kết quả đạt được và khó khăn, vướng mắc gặp phải. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của lực lượng Công an xã ở khu vực biên giới trong thời gian tới.
Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Ngành Tư pháp thành phố Huế và những đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trải qua 35 năm xây dựng và phát triển, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Thành ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố và tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, toàn ngành Tư pháp thành phố Huế đã triển khai thực hiện các mục tiêu với tinh thần vào cuộc “từ sớm, từ xa”, tập trung giải quyết, xử lý kịp thời những vấn đề mới phát sinh, thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ “hàng rào kỹ thuật” về các vấn đề pháp lý, nhất là lĩnh vực trực tiếp gắn liền với người dân, doanh nghiệp; góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển của thành phố Huế, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh đóng góp quan trọng trong hành trình phát triển kinh tế - xã hội

Trong bức tranh tổng thể phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, Sở Tư pháp ngày càng thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong tham mưu xây dựng thể chế, kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc thông qua những hoạt động chuyên môn sâu, rộng và tinh thần đổi mới sáng tạo không ngừng, góp phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện, bền vững của địa phương.
Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng

Tóm tắt: Kết luận giám định tư pháp là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng, được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án, vụ việc, giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm. Bài viết phân tích quy định của pháp luật và thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của đối tượng này nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan và hiệu quả trong hoạt động tố tụng.
Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Nguyên tắc áp dụng có đi có lại trong pháp luật tương trợ tư pháp và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Việc tương trợ tư pháp được cơ quan chức năng triển khai và áp dụng theo các điều ước quốc tế (song phương và đa phương) mà Việt Nam là thành viên, trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại.
Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Luật áp dụng trong hoạt động tương trợ tư pháp

Trong hoạt động tương trợ tư pháp (TTTP) giữa các quốc gia, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (được yêu cầu) ngoài việc áp dụng pháp luật nước mình, có phải áp dụng pháp luật nước ngoài hay không và điều kiện áp dụng ra sao là vấn đề luôn được đặt ra dưới khía cạnh tư pháp quốc tế, cũng như trong hoạt động tố tụng dân sự quốc tế nói chung.
Thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp

Thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp

Từ ngày 01/7/2025, chính quyền địa phương ở Việt Nam được tổ chức theo mô hình 02 cấp: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh) và xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (cấp xã).
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật cho các tổ chức, cá nhân khu vực phía Nam

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật cho các tổ chức, cá nhân khu vực phía Nam

Đối với khu vực phía Nam - nơi tập trung đông dân cư, nhiều trung tâm kinh tế trọng điểm và có sự đa dạng về điều kiện kinh tế - xã hội đang đối mặt với thách thức không nhỏ trong việc nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và kỹ năng, nghiệp vụ pháp luật cho các tổ chức, cá nhân. Đây không chỉ là nhiệm vụ của hệ thống chính trị mà còn là trách nhiệm xã hội của các cơ sở đào tạo pháp luật trong cả nước, trong đó có Trường Cao đẳng Luật miền Nam (sau đây gọi là Trường) - với vai trò là cơ sở đào tạo pháp luật thuộc Bộ Tư pháp xác định sứ mệnh đồng hành cùng địa phương, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật tại chỗ thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật.
Công tác đào tạo cao đẳng, trung cấp pháp luật; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho các tổ chức, cá nhân khu vực miền Trung - Tây Nguyên - Kết quả và định hướng

Công tác đào tạo cao đẳng, trung cấp pháp luật; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho các tổ chức, cá nhân khu vực miền Trung - Tây Nguyên - Kết quả và định hướng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ “then chốt”, trong đó, giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò quan trọng trong đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, các nghị định hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật có liên quan đã tạo hành lang pháp lý cho đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, trong đó có ngành Luật. Nhiều nghị quyết của Bộ Chính trị nhấn mạnh, cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ pháp luật có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn để nâng cao hiệu quả quản lý và thực thi pháp luật. Miền Trung - Tây Nguyên là khu vực rộng lớn, đa dạng về văn hóa - xã hội, với nhiều địa bàn đặc thù như vùng cao, vùng biên giới, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Đây cũng là những nơi chịu nhiều tác động tiêu cực từ điều kiện kinh tế, thiên tai, hạ tầng giáo dục và pháp lý chưa đồng đều. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường công tác đào tạo pháp luật và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ cơ sở, người dân và các đối tượng chuyên môn tại khu vực này không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn, mà còn thể hiện trách nhiệm xã hội sâu sắc của ngành Tư pháp, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo bền vững và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từ cơ sở
Trường Đại học Luật Hà Nội - Trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật cho ngành Tư pháp và đất nước

Trường Đại học Luật Hà Nội - Trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật cho ngành Tư pháp và đất nước

Kể từ khi thành lập (ngày 10/11/1979) đến nay, được sự tin tưởng của Đảng và Nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội tự hào là một trong những cơ sở đào tạo và nghiên cứu pháp luật hàng đầu của Việt Nam và tiếp tục được Chính phủ xác định là trường trọng điểm đào tạo cán bộ pháp luật theo Quyết định số 1156/QĐ-TTg ngày 30/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tổng thể “Tiếp tục xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật”.
Đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Học viện Tư pháp là cơ sở đào tạo nghề luật đầu tiên trực thuộc Bộ Tư pháp và cũng là trung tâm lớn nhất đào tạo chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp của đất nước, trải qua 27 năm, hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp và bổ trợ tư pháp của Học viện Tư pháp đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp nhiều vào sự phát triển nguồn nhân lực tư pháp của đất nước, Bộ, ngành Tư pháp và xã hội.
Thực trạng công tác phòng, chống tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong bối cảnh mới

Thực trạng công tác phòng, chống tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong bối cảnh mới

Tội phạm về ma túy đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự tại các địa phương, trong đó có tỉnh Quảng Trị - địa bàn có vị trí chiến lược, đường biên giới dài và chịu tác động trực tiếp của quá trình hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh cải cách bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn, hiệu quả, công tác phòng, chống tội phạm về ma túy tại Quảng Trị đứng trước yêu cầu mới về tổ chức bộ máy, phương thức quản lý và cơ chế phối hợp. Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn công tác phòng, chống tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh thời gian gần đây, bài viết phân tích những khó khăn, hạn chế và vướng mắc phát sinh, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm về ma túy tại địa phương.
Văn phòng Bộ Tư pháp: Tự hào truyền thống - Đổi mới phát triển

Văn phòng Bộ Tư pháp: Tự hào truyền thống - Đổi mới phát triển

Văn phòng Bộ Tư pháp (sau đây gọi tắt là Văn phòng) - đơn vị có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và quản lý các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, tổng hợp, theo dõi, đôn đốc các đơn vị thuộc Bộ thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Bộ đã được phê duyệt; tham mưu, điều phối, thực hiện công tác truyền thông đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và quản lý báo chí, xuất bản; tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, công tác hành chính, văn thư, lưu trữ, bảo vệ bí mật nhà nước, quản trị, tài chính, bảo vệ, quân sự, y tế của cơ quan Bộ theo quy định của pháp luật. Văn phòng được giao nhiệm vụ tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Văn phòng chính là “cầu nối” giữa Lãnh đạo Bộ và các đơn vị thuộc Bộ, góp phần bảo đảm sự vận hành thông suốt, hiệu quả trong toàn ngành Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: