Thứ sáu 16/01/2026 17:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự - Một số đề xuất, kiến nghị

Việc thực hiện tương trợ tư pháp (TTTP) về dân sự được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế về TTTP mà Việt Nam là thành viên. Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 được Quốc hội ban hành tại kỳ họp thứ 2,

Việc thực hiện tương trợ tư pháp (TTTP) về dân sự được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế về TTTP mà Việt Nam là thành viên. Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 được Quốc hội ban hành tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XII. Sau gần 10 năm thực hiện, pháp luật về TTTP trong lĩnh vực dân sự tiếp tục được hoàn thiện đáp ứng yêu cầu hội nhập toàn cầu và khu vực, nhất là trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Công ước năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước Tống đạt). Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này gồm Nghị định số 92/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Tương trợ tư pháp, Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự (Thông tư liên tịch số 12)[1]. Bài viết này sẽ tập trung đánh giá những bước phát triển mới, đồng thời phân tích những điểm còn vướng mắc về pháp luật TTTP trong lĩnh vực dân sự, từ đó, đưa ra một số đề xuất góp phần tiếp tục hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới.

1. Pháp luật Việt Nam về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự

1.1. Tiếp nhận và chuyển yêu cầu tương trợ tư pháp

a. Về việc gửi hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự ra nước ngoài

Cơ quan có thẩm quyền[2] của Việt Nam trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện TTTP tại Điều 13 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007. Theo đó, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, Bộ Tư pháp nếu thấy hồ sơ đã đầy đủ và hợp lệ[3] sẽ có văn bản chuyển các yêu cầu này đến Bộ Ngoại giao (trường hợp yêu cầu được gửi đến các nước chưa có hiệp định TTTP với Việt Nam) hoặc cơ quan trung ương hay cơ quan khác được chỉ định (trong trường hợp yêu cầu được gửi đến các nước đã có điều ước quốc tế về TTTP với Việt Nam).

Đối với các yêu cầu gửi đến các nước chưa có hiệp định với Việt Nam, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ ủy thác tư pháp do Bộ Tư pháp chuyển đến. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm chuyển hồ sơ ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền nước ngoài trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ ủy thác tư pháp.

Khi nhận được phản hồi từ phía cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, các phản hồi đó sẽ được chuyển ngược lại cho cơ quan có thẩm quyền trong nước theo quy trình ngược lại trên đây.

b. Về việc thực hiện yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Yêu cầu TTTP từ phía cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài được tiếp nhận qua 02 kênh là Bộ Ngoại giao (từ các nước chưa có điều ước quốc tế về TTTP với Việt Nam) hoặc trực tiếp từ Bộ Tư pháp (từ các nước có điều ước quốc tế về TTTP với Việt Nam).

Khi nhận được yêu cầu từ nước ngoài, trong thời hạn 05 ngày, Bộ Ngoại giao sẽ chuyển yêu cầu cho Bộ Tư pháp để thực hiện. Bộ Tư pháp sau khi nhận được hồ sơ của Bộ Ngoại giao (hoặc các yêu cầu tự mình tiếp nhận), trong thời hạn 10 ngày làm việc sẽ xem xét và chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để thực hiện[4]. Pháp luật cũng quy định chặt chẽ thời hạn để ràng buộc trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền thực hiện yêu cầu của phía nước ngoài[5].

Việc chuyển trả kết quả thực hiện từ cơ quan có thẩm quyền trong nước cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài được thực hiện theo quy trình ngược lại.

Mặc dù quy định một quy trình chặt chẽ như trên nhưng thực tế, đa số các yêu cầu không đảm bảo về mặt thời gian và cơ quan có thẩm quyền trong nước cũng chưa thực sự nghiêm túc thực hiện, dẫn đến giảm hiệu quả công tác TTTP và ảnh hưởng đến hình ảnh của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế. Chẳng hạn, tổng hợp số liệu thống kê các yêu cầu TTTP với Đài Loan cho thấy, phía Việt Nam thực hiện cho Đài Loan đạt xấp xỉ 60% tỷ lệ có kết quả, trong khi phía Đài Loan thực hiện có kết quả cho Việt Nam đạt khoảng 90%.

Báo cáo công tác TTTP trong những năm gần đây đã chỉ ra nhiều nguyên nhân của thực trạng này. Trước hết, đó là sự đầu tư, quan tâm và nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của TTTP ở các bộ, ngành và địa phương còn chưa đồng đều. Đội ngũ cán bộ làm công tác TTTP còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Trình độ của một bộ phận cán bộ thực hiện hoạt động TTTP chưa đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng xử lý công việc, chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu, nhiệm vụ của hoạt động TTTP. Ngoài ra, việc bố trí cán bộ, kinh phí và các điều kiện cần thiết cho hoạt động này còn chưa tương xứng. Kể từ khi Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 được ban hành, số lượng đội ngũ cán bộ ở các cơ quan trung ương hầu như không được bổ sung, trong khi hoạt động TTTP ngày càng phức tạp về nội dung, gia tăng về khối lượng với yêu cầu ngày càng cao, cơ sở vật chất, kỹ thuật bố trí cho công tác TTTP vẫn chưa có sự phát triển theo kịp với yêu cầu phát triển của hoạt động này.

1.2. Nguyên tắc có đi có lại đã không “bó” các cơ quan có thẩm quyền trong nước

Trong trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về TTTP trong cùng lĩnh vực thì việc thực hiện TTTP có thể được thực hiện dựa trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không được trái pháp luật Việt Nam và tập quán quốc tế.

Trước đây, Điều 4 Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15/9/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 có quy định trình tự, thủ tục việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại. Tuy nhiên, quy định này khi đi vào thực tế lại vấp phải nhiều khó khăn, các Tòa án hầu như không nhận được trả lời chính thức về việc áp dụng nguyên tắc này dẫn đến ảnh hưởng công tác xét xử của Tòa án. Để khắc phục vướng mắc này, Thông tư liên tịch số 12 đã có những tháo gỡ nhất định, theo đó, cơ quan có thẩm quyền Việt Nam có thể từ chối thực hiện TTTP về dân sự cho nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại trong TTTP về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007. Thông tư liên tịch số 12 cũng quy định cụ thể thẩm quyền quyết định việc áp dụng có đi có lại.

1.3. Pháp luật tương trợ tư pháp đã tách được quy trình gửi hồ sơ tống đạt cho công dân Việt Nam ở nước ngoài ra khỏi quy trình tương trợ tư pháp về dân sự

Trước khi ban hành Thông tư liên tịch số 12, việc thực hiện tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện như quy trình thực hiện ủy thác tư pháp đối với công dân nước ngoài ở nước sở tại và phải qua nhiều khâu trung gian. Quy trình này mất nhiều thời gian, làm ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng trong nước. Trong khi đó, về bản chất, việc tống đạt cho công dân Việt Nam ở nước ngoài hoàn toàn do cơ quan có thẩm quyền Việt Nam thực hiện, không thông qua kênh TTTP của nước sở tại.

Hiện nay, quy trình này đã được cải thiện, theo đó, việc tống đạt văn bản tố tụng cho công dân Việt Nam ở nước ngoài sẽ do cơ quan có thẩm quyền trong nước gửi thẳng đến cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Văn bản quy định về trình tự, thủ tục, lập và gửi yêu cầu này sẽ do Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Ngoại giao hướng dẫn riêng.

1.4. Quy trình nộp chi phí cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã được quy định rõ ràng

Pháp luật Việt Nam đã quy định rõ 02 nhóm chi phí thực tế bao gồm: Chi phí trong nước và chi phí tại nước ngoài. Chi phí trong nước như: Dịch thuật, công chứng, giám định thì đương sự tự thanh toán trực tiếp theo thực tế phát sinh. Chi phí tại nước ngoài là chi phí phát sinh theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài như: Phí thực hiện ủy thác tư pháp cho Việt Nam (theo quy định pháp luật của nước đó) và các chi phí phát sinh khác (khi thực hiện ủy thác tư pháp theo phương thức đặc biệt) thì tùy vào các trường hợp cụ thể.

Trường hợp chi phí thực tế đã xác định được theo quy định của phía nước ngoài tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác tư pháp của Việt Nam lập hồ sơ như: Hoa Kỳ (95 đô la Hoa Kỳ), Canada (100 đô la Canada)…, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác tư pháp của Việt Nam thông báo người có nghĩa vụ nộp chi phí thực hiện ủy thác tư pháp của Việt Nam thanh toán chi phí này với cơ quan có thẩm quyền nước ngoài phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc gia liên quan.

Trường hợp chi phí thực tế chưa xác định được tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác tư pháp của Việt Nam lập hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác tư pháp của Việt Nam thông báo cho người có nghĩa vụ nộp chi phí thực hiện ủy thác tư pháp của Việt Nam phải nộp tạm ứng 03 triệu đồng tại cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi cơ quan có thẩm quyền ủy thác tư pháp về dân sự của Việt Nam có trụ sở. Số tiền tạm ứng này được thanh toán cho chi phí thực tế theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài và các chi phí phục vụ việc chuyển tiền ra nước ngoài do cơ quan thi hành án dân sự thực hiện.

Việc thu nộp các chi phí thực tế là một nội dung quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện ủy thác tư pháp. Do không có cơ chế đóng chi phí theo yêu cầu của phía nước ngoài nên nhiều hồ sơ ủy thác tư pháp của phía Việt Nam gửi đi không được thực hiện. Do đó, quy định này đã khắc phục được các khó khăn, vướng mắc trước đây khi chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về việc thu chi phí thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự.

Tuy nhiên, với quy định này, các cơ quan có thẩm quyền ở trong nước khi lập hồ sơ yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp cần nắm được thông tin về chi phí theo yêu cầu của nước đó, nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Công ước Tống đạt. Thông tin về chi phí của hơn 70 quốc gia là thành viên của Công ước được đăng tải trên trang thông tin của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế và bằng tiếng nước ngoài. Điều này tạo ta các khó khăn nhất định đối với các cơ quan lập hồ sơ. Thực tế, trong 6 tháng đầu năm 2017, tỷ lệ hồ sơ được Bộ Tư pháp gửi trả lại các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện là 210/550 yêu cầu (chiếm 38%).

Bên cạnh đó, công tác theo dõi thi hành pháp luật mới được thực hiện một phần, chủ yếu tập trung vào công tác xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, tiến độ của hoạt động này cũng chưa đúng kế hoạch. Công tác báo cáo, kiểm điểm, đánh giá, rút kinh nghiệm còn chưa được các bộ, ngành đầu tư tương xứng với yêu cầu. Công tác tổ chức đoàn liên ngành kiểm tra việc thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự tại các Tòa án nhân dân và cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài, một trong những nhiệm vụ quản lý nhà nước về TTTP mới chỉ được triển khai bước đầu và chưa thường xuyên.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp

Để công tác TTTP tiếp tục được cải thiện và đáp ứng yêu cầu hội nhập cần tổng hợp nhiều biện pháp, bao gồm cả công tác quản lý nhà nước, xây dựng và hoàn thiện pháp luật, đàm phán ký kết các điều ước quốc tế, nâng cao nhận thức của các cơ quan có thẩm quyền trong công tác TTTP. Trong đó, trước mắt cần chú trọng thực hiện các giải pháp sau:

Một là, cần đơn giản hóa hơn nữa việc tiếp nhận và xử lý các yêu cầu TTTP của Việt Nam gửi ra nước ngoài, giúp giảm tải công việc cho các cán bộ làm công tác TTTP ở trung ương và địa phương trong bối cảnh biên chế không tăng. Để làm được việc này, một mặt, các cơ quan cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xử lý hồ sơ, có phần mềm khai thác và sử dụng tại mỗi cơ quan, sau đó mã số hóa và liên thông các phần mềm. Điều này giúp cắt giảm số lần cập nhật thông tin về hồ sơ, thuận tiện trong tra cứu và tiết kiệm cho ngân sách.

Hai là, đối với nguyên tắc có đi có lại, trong khi liên Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao chưa thể cùng công khai thông tin làm căn cứ cho cơ quan có thẩm quyền quyết định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại, Bộ Ngoại giao nên có hướng dẫn tạm thời. Theo đó, Bộ Ngoại giao có thể phối hợp với các cơ quan có liên quan, xây dựng văn bản hướng dẫn các cơ quan có thẩm quyền trong nước tự động áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong việc thực hiện và gửi các yêu cầu TTTP về dân sự, trừ khi Bộ Ngoại giao có thông báo khác. Giải pháp này làm cho cơ quan có thẩm quyền trong nước không phải lúng túng trong khi lập hồ sơ, đồng thời, tránh việc Bộ Ngoại giao thường xuyên phải trả lời các cơ quan đối với từng vụ việc về một vấn đề tương tự.

Ba là, đối với việc tiếp nhận và xử lý các yêu cầu tống đạt văn bản của nước ngoài, cần sớm ban hành quy định về cơ chế tống đạt thông qua thừa phát lại để giảm bớt gánh nặng cho cơ quan nhà nước. Như đã phân tích ở trên, hiện nay, nguồn nhân lực cho công tác TTTP ở cả trung ương và địa phương còn mỏng, yêu cầu TTTP kể từ khi gia nhập Công ước Tống đạt sẽ tiếp tục tăng (trong vòng 08 tháng, kể từ khi Công ước có hiệu lực, Bộ Tư pháp đã tiếp nhận khoảng 200 yêu cầu), trong khi đó, xu thế của các nước thường thực hiện thông qua đơn vị ngoài Nhà nước. Công ước cho phép việc thực hiện qua đơn vị ngoài Nhà nước được phép thu phí của nước ngoài. Do đó, việc Việt Nam cho phép tống đạt văn bản của nước ngoài thông qua thừa phát lại như tống đạt văn bản tố tụng trong nước như hiện nay sẽ làm giảm công việc cho cơ quan nhà nước, đồng thời, tăng nguồn thu cho các cơ quan thừa phát lại.

Bốn là, việc tuyên truyền, phổ biến các quy định về TTTP trong lĩnh vực dân sự nói chung và quy trình thực hiện theo quy định mới của Công ước Tống đạt và Thông tư liên tịch số 12 nói riêng cần được chú trọng và bảo đảm kinh phí. Theo các quy định này, cơ quan có thẩm quyền trong nước cần quan tâm nhiều vấn đề khi thực hiện lập và chuyển hồ sơ ra nước ngoài như: Thu chi phí, nộp tạm ứng, chuyển tiền ra nước ngoài, việc xác định ngôn ngữ, xác định địa chỉ của cơ quan tiếp nhận của nước ngoài... Đây là các vấn đề hoàn toàn mới, nếu chưa được hướng dẫn sẽ làm cho các cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ lúng túng và dễ sai sót trong thực hiện.

Năm là, liên ngành ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành quy định về tống đạt văn bản cho công dân Việt Nam ở nước ngoài để hướng dẫn cơ quan có thẩm quyền trong nước thực hiện thống nhất.

ThS. Dương Thị Bích Đào

Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Thay thế Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15/9/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ tư pháp.

[2]. Là các cơ quan theo quy định tại Điều 10 Thông tư liên tịch số 12.

[3]. Hồ sơ không đầy đủ và hợp lệ theo quy định sẽ được trả lại cho cơ quan đã lập hồ sơ để hoàn thiện theo quy định tại Điều 14 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007.

[4]. Danh sách các cơ quan có thẩm quyền được quy định tại Điều 17 Thông tư liên tịch số 12.

[5]. Khoản 3 Điều 20 Thông tư liên tịch số 12.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Giải trừ trách nhiệm của công chức thuế, tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp

Luật số 56/2024/QH15 bổ sung quy định về trách nhiệm của công chức thuế theo hướng giải trừ trách nhiệm cho công chức thuế khi có gian lận trong kê khai, cung cấp thông tin tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp chân chính.

Cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là địa phương luôn nỗ lực, tích cực thực hiện cải cách thủ tục hành chính, với mục tiêu tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, trong đó phải kể đến lĩnh vực cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Điều này được thể hiện rõ nét qua sự quyết tâm, chủ động, sáng tạo trong triển khai, thực hiện các văn bản, quy định nhằm cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi số và những khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết bàn về những vấn đề cơ bản của quyền riêng tư và sự cần thiết phải bảo vệ quyền riêng tư; phân tích các vấn đề pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân theo pháp luật quốc tế, từ đó đúc kết và đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: