Thứ năm 18/06/2026 02:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát huy vai trò của luật tục Tây Nguyên trong tổ chức, thực hiện pháp luật

Bài viết trình bày khái quát về luật tục Tây Nguyên và phân tích thực trạng vai trò của luật tục Tây Nguyên trong tổ chức, thực hiện pháp luật, từ đó, nhận diện một số thách thức và đưa ra các giải pháp để phát huy vai trò của luật tục Tây Nguyên trong tổ chức, thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay.


Tây Nguyên là một vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Tây Nguyên, đem lại hiệu quả tích cực, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các cộng đồng Tây Nguyên. Tây Nguyên là địa bàn sinh sống lâu đời của hơn 12 dân tộc thiểu số thuộc hai ngữ hệ khác nhau: Môn - Khơ Me (hay Nam Á) và Malayo-Polynésien (hay Nam Đảo). Chính văn hóa tộc người đa dạng đó là môi trường làm nảy sinh, tồn tại và phát triển của luật tục. Luật tục Tây Nguyên là bộ phận cốt lõi và định hình nhất của văn hóa Tây Nguyên. Nhận thức được tầm quan trọng đó của luật tục, Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương ở Tây Nguyên đã kết hợp chặt chẽ giữa luật tục và luật pháp trong quản lý, phát triển xã hội. Luật tục của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên có sức sống mãnh liệt, ăn sâu trong tiềm thức của đồng bào các dân tộc, trong cuộc sống buôn, bon, plây tạo nên tính cố kết cộng đồng ở vùng Tây Nguyên hết sức bền chặt. Luật tục Tây Nguyên cùng với pháp luật là những công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội cộng đồng. Mặc dù trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, pháp luật giữ vị trí thượng tôn nhưng pháp luật cũng phải tạo điều kiện để luật tục phát triển. Do đó, việc phát huy vai trò của luật tục Tây Nguyên để cùng với pháp luật nhằm quản lý xã hội ở nơi đây là việc hết sức quan trọng và cần thiết, góp phần khẳng định giá trị tri thức bản địa trong phát triển xã hội theo quan điểm bền vững.

1. Khái quát luật tục Tây Nguyên

“Luật tục là hệ thống các chuẩn mực, các quy ước xã hội được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài của mỗi cộng đồng, qua kinh nghiệm trong ứng xử với môi trường và ứng xử xã hội, được truyền từ đời này qua đời khác qua trí nhớ, qua thực hành xã hội, nhằm hướng dẫn, điều chỉnh, điều hòa các quan hệ xã hội người với người, giữa cá nhân với cộng đồng và cộng đồng này với cộng đồng khác”[1]. Luật tục được cả cộng đồng thừa nhận, tạo sự thống nhất và cố kết của mỗi cộng đồng nên luật tục được cộng đồng bảo đảm thực hiện. Người nào làm trái luật tục chẳng những bị xã hội chê cười, dị nghị, lên án, cộng đồng xa lánh mà còn bị chế tài xử phạt. Đó cũng là điểm khác biệt giữa luật tục và phong tục tập quán. Luật tục được hình thành từ phong tục tập quán liên quan trực tiếp tới các mối quan hệ xã hội then chốt, cơ bản.

Cơ cấu xã hội cơ bản của Việt Nam cổ truyền là: Nhà - Làng - Nước. Nếu như Nước có luật pháp (trước đây là phép vua) thì gia tộc, gia đình có “gia phong”, dòng họ có “tộc ước”, làng xã có “hương ước”, lệ làng, bản mường, bon, plây, buôn có “luật mường, luật tục”. Như vậy, luật tục được nảy sinh từ cơ cấu xã hội là buôn, làng. Tách khỏi môi trường buôn, làng thì luật tục sẽ không còn vai trò điều hòa các quan hệ cộng đồng nữa. Tính cộng đồng là nền tảng cơ bản cho sự tồn tại của buôn, làng; nền tảng cho sự ra đời và vận hành của luật tục và hương ước. Ở đó, buôn, làng là một cộng đồng cộng cư, cộng mệnh, cộng cảm và cùng sở hữu. Điều đó thể hiện sự cố kết, gắn bó chặt chẽ, đoàn kết của cộng đồng buôn, làng. Luật tục và hương ước được coi như là “cương lĩnh tinh thần” của cơ cấu buôn, làng của các dân tộc ở Việt Nam. Buôn, làng chính là hiệu lực theo không gian của luật tục và hương ước. “Đối với các dân tộc thiểu số, Nhà nước phong kiến không thiết lập hệ thống “trực trị” mà thông qua bộ máy quản lý truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi vùng mà chi phối các dân tộc hay vùng dân tộc đó”[2]. Đó là điều kiện thể hiện sức sống lâu dài, mãnh liệt cũng như vai trò quan trọng, không thể thiếu của luật tục và hương ước trong điều hòa các quan hệ cộng đồng buôn, làng.

Luật tục ở mỗi dân tộc có tên gọi riêng. Luật tục bao gồm luật truyền miệng của các dân tộc thiểu số ở miền núi và hương ước của người Việt ở miền xuôi. Luật tục Tây Nguyên là hình thức luật tục phổ biến ở các tộc người Tây Nguyên. Ngoài các đặc điểm của luật tục nói chung[3] thì luật tục Tây Nguyên có một số đặc trưng cơ bản sau:

- Về hình thức, luật tục Tây Nguyên tồn tại dưới dạng “lời nói vần” được tư duy và thể hiện bằng các hình ảnh cụ thể. Nhiều câu nói vần hợp thành một điều luật và nhiều điều luật hợp thành một bộ luật tục. Người Tây Nguyên lấy hình ảnh tự nhiên để nói về con người. Chính lời nói vần điệu, cách triết lý, so sánh đầy hình ảnh giúp người ta dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đi vào lòng người. Ví dụ: Để nói về người xử kiện, Luật tục M’nông có cách ví von: “Hai bên hòn đá, cá trê bơi giữa. Hai bên ngọn lúa, cây nêu đứng giữa. Bên gió bên bão, chiếc diều bay giữa” (Người xử kiện phải mềm dẻo như thân con cá trê, phải vượt cao lên như ngọn cây nêu, phải thăng bằng như cánh diều trước gió bão).

- Về phạm vi điều chỉnh, luật tục Tây Nguyên có phạm vi điều chỉnh khá rộng. Ví dụ: Luật tục Êđê có 236 điều, 11 chương là 11 vấn đề khác nhau (Những quy định chung về hình phạt và các tội; những vấn đề xúc phạm đến người đầu làng; cái tội của người đầu làng; các vi phạm lợi ích cộng đồng; hôn nhân; quan hệ cha mẹ - con cái; tội gian dâm; các trọng tội; của cải và tài sản; tội gây thiệt hại cho người và trâu bò; đất đai và chủ đất). Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, luật tục Tây Nguyên chỉ có hiệu lực trong không gian buôn, bon, plây. Trong khi đó, pháp luật có hiệu lực trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định.

- Về cách thức giải quyết bất đồng, tranh chấp của luật tục Tây Nguyên mang những nét riêng đáng chú ý. Trong cộng đồng buôn, bon, plây hay giữa các buôn, bon, plây, khi có việc gì khúc mắc và xích mích giữa các cá nhân, trước mắt, hai bên tự dàn xếp, bên có lỗi thì nói lời xin bên kia tha thứ, châm chước, còn bên kia cũng sẵn lòng bỏ qua, khôi phục hòa khí tốt đẹp trong buôn, bon, plây. Nếu không thỏa thuận được thì đưa ra buôn, bon, plây xét xử: “Sự việc nhỏ tụ tập ngay tại nhà phân xử. Sự việc to, vụ lớn mới đưa tới làng” (Luật tục Raglai). Mỗi buôn, bon, plây có người già chuyên xử kiện, vì họ là người có uy tín và thông thuộc luật tục. Cộng đồng của bên nguyên và bên bị cùng tham gia. Họ tới ngồi nghe, tranh luận, bênh vực cho người thuộc cộng đồng mình. Nếu bị thua, họ sẵn sàng đóng góp tiền bạc, của cải để đền bù cho bên kia. Do người Tây Nguyên lấy hình ảnh tự nhiên nói về con người nên yếu tố thần linh, tín ngưỡng rất quan trọng trong việc xét xử ở Tây Nguyên. Theo quan niệm của nhân dân, kẻ có tội trước hết là xúc phạm tới thần linh nên phải tạ tội bằng nghi lễ hiến tế (trâu, lợn, vịt, chó…); hình phạt nặng nhất đối với kẻ phạm tội là đuổi ra khỏi cộng đồng. Hơn nữa, không khí thiêng liêng cũng khiến con người dễ hòa giải hơn, góp phần tạo nên sự hòa hữu thực sự, tránh mọi xung đột, va chạm về sau. Vì vậy, cách thức giải quyết này vẫn còn những giá trị nhất định, được gìn giữ lâu dài.

2. Thực trạng vai trò của luật tục Tây Nguyên trong tổ chức, thực hiện pháp luật

Luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên có vai trò hết sức quan trọng và cần thiết để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội cộng đồng buôn, bon, plây. Trong Nhà nước pháp quyền, pháp luật giữ vị trí tối thượng. Pháp luật trở thành công cụ hàng đầu, quan trọng và có hiệu quả nhất, là công cụ không thể thay thế để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Luật tục là một bộ phận nằm trong khuôn khổ pháp luật, chịu sự chỉ đạo và chi phối của pháp luật. Nội dung của luật tục không được trái với pháp luật, hơn thế nữa, luật tục phải theo tinh thần của pháp luật. Do đó, luật tục không thể thay thế pháp luật để điều chỉnh quan hệ xã hội. Luật tục có vai trò phối hợp, hỗ trợ pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo nên sự ổn định và phát triển của cộng đồng buôn, bon, plây.

Luật tục Tây Nguyên đề cập đến những lĩnh vực xã hội và văn hóa rất rộng, như quan hệ con người với tài nguyên môi trường, các quan hệ cộng đồng, quan hệ hôn nhân và gia đình… Cho tới nay, về cơ bản, luật tục vẫn là cơ sở để quản lý và hòa giải các quan hệ xã hội nhưng phạm vi điều chỉnh và nội dung đã có nhiều thay đổi. Chẳng hạn, những vấn đề phức tạp như tranh chấp liên quan tới rừng, đất đai, tài nguyên… trước kia thuộc phạm vi điều chỉnh của luật tục thì nay chuyển sang cho chính quyền địa phương hoặc Tòa án. Luật tục ngày nay chỉ là cơ sở để hòa giải các quan hệ xã hội mang tính chất dân sự và bảo tồn các thuần phong mỹ tục, các nghi lễ trong phạm vi buôn, bon, plây. Khoản 2 Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán…”. Điều này càng khẳng định vai trò của luật tục trong việc tham gia vào hệ thống pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội dân sự. Tuy nhiên, việc áp dụng tập quán cũng không được trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật. Sở dĩ luật tục Tây Nguyên vẫn có vai trò hỗ trợ, phối hợp với pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội ở cộng đồng Tây Nguyên là bởi pháp luật dù phát triển tới đâu cũng không thể điều chỉnh được tất cả các quan hệ xã hội, nhất là ở buôn, bon, plây; Tây Nguyên là địa bàn có nhiều cộng đồng tộc người thiểu số sinh sống, nhiều sắc thái văn hóa khác nhau, còn pháp luật với tính chất quy tắc xử sự chung với phạm vi điều chỉnh tới cấp xã, không phải lúc nào cũng thích ứng và phù hợp với những đặc thù tộc người, phạm vi buôn, bon, plây; bên cạnh đó, xã hội càng phát triển thì tính chủ động tự quản của con người cần được phát huy, do vậy, bên cạnh pháp luật, luật tục với tư cách là các quy tắc xử sự mang tính tự quản, đã đáp ứng được nhu cầu con người trong xã hội hiện đại.

Tuy nhiên, hiện nay, luật tục Tây Nguyên đang gặp những thách thức làm ảnh hưởng tới vai trò hỗ trợ, phối hợp với pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội:

- Hiện nay, tại khu vực Tây Nguyên có nhiều dân tộc cùng chung sống, gồm dân tộc bản địa và dân tộc từ nơi khác đến. Sự xáo trộn cuộc sống, pha tạp văn hóa làm cho luật tục Tây Nguyên ngày càng bị lãng quên, không được coi trọng trong thực tế.

- Luật tục Tây Nguyên có phạm vi điều chỉnh trong một buôn, bon, plây. Các buôn, bon, plây không còn là xã hội biệt lập nữa mà đã từng bước hòa nhập vào hệ thống chung, rộng lớn, có nhiều tộc người cùng cư trú, sinh sống. Do đó, việc sử dụng luật tục để điều chỉnh các quan hệ dân sự của tất cả mọi người với nhiều tộc người khác nhau là một việc hết sức khó khăn.

- Mặt trái của nền kinh tế thị trường, hiện tượng đạo đức xuống cấp, vi phạm pháp luật nghiêm trọng có xu hướng tăng lên, điều này dẫn đến việc xét xử hay chế tài của luật tục không còn phù hợp và chưa phát huy được hiệu quả.

- Những kinh nghiệm quản lý cộng đồng của luật tục thường gắn liền với thế hệ người già cả, tuy có uy tín trong cộng đồng nhưng do vấn đề tuổi tác nên thường khó trong việc tiếp thu những yếu tố mới, vận dụng trong việc kết hợp giữa pháp luật và luật tục. Còn thế hệ trẻ thì nhanh nhạy trong tiếp thu cái mới nhưng lại chưa có kinh nghiệm trong việc ứng dụng luật tục vào việc quản lý cộng đồng.

3. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của luật tục Tây Nguyên trong tổ chức, thực hiện pháp luật

Một là, luật tục Tây Nguyên có hiệu lực trong phạm vi không gian buôn, bon, plây. Pháp luật có hiệu lực trong không gian nhỏ nhất là cấp xã. Luật tục chỉ phát huy tác dụng ổn định trật tự, duy trì bản sắc văn hóa của tộc người đó trong phạm vi buôn, bon, plây. Còn ngay cả toàn thể cộng đồng dân tộc người đó thì luật tục cũng chưa thể điều chỉnh được. Do đó, theo tác giả, không nên đặt vấn đề pháp luật hóa luật tục để áp dụng chung cho toàn xã hội. Chúng ta nên nâng cao nhận thức về giá trị tích cực, phù hợp với nguyên tắc cơ bản của pháp luật đối với luật tục, để từ đó, vận dụng luật tục trong giáo dục việc thực hiện pháp luật cho người dân tộc thiểu số. Khả năng nhận thức pháp luật của người dân tộc thiểu số đang còn rất nhiều hạn chế, nếu chúng ta biết sử dụng lời nói vần điệu, ngôn ngữ hình ảnh thiên nhiên gần gũi của luật tục để giáo dục người dân tộc thiểu số thực hiện pháp luật thì sẽ rất hiệu quả. Chẳng hạn, Điều 109 Luật tục Êđê coi trọng việc vợ chồng kết hôn, ăn ở bền vững, không được bỏ nhau: “Đã lấy vợ thì phải ở với vợ cho đến chết; đã cầm cần mời rượu thì phải vào cuộc cho đến khi rượu nhạt; đã đánh cồng thì phải đánh cho đến khi người ta giữ tay lại”. Có thể vận dụng điều này của luật tục để giáo dục thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình về quyền, nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ và chồng.

Hai là, ở Việt Nam, chính quyền được tổ chức đến cấp xã, còn ở buôn, bon, plây có các tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức tự quản cùng tham gia quản lý xã hội. Cá nhân làm trong các tổ chức này chính là những người bản địa. Do đó, cần phát huy vai trò những tổ chức này trong việc vận dụng luật tục để quản lý cộng đồng; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cả về nhận thức giá trị luật tục và hiểu biết pháp luật đối với những người làm trong các tổ chức này, những người già, người có uy tín trong cộng đồng. Đồng thời, đào tạo một tầng lớp trí thức là con em dân tộc ở Tây Nguyên để phát triển đội ngũ kế cận, vì chính họ sẽ là những lực lượng tiên phong, tận tụy, kiên trì và sẽ tạo độ tin cậy cao đối với cộng đồng của chính họ.

Ba là, luật tục Tây Nguyên là văn hóa của người dân tộc thiểu số tại đây. Khi thực hiện luật tục, dựa trên nguyên tắc tự nguyện của mỗi cá nhân, coi đó như là lương tâm, tình cảm, trách nhiệm, đạo đức của mỗi con người. Ở luật tục, không có nguyên tắc đa số lấn át thiểu số mà là sự cùng đồng thuận, cùng chấp nhận và cùng thực hiện. Do đó, chúng ta nhận thức rằng, luật tục là một hình thức văn hóa pháp luật, cần thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, giáo dục những giá trị tích cực của luật tục, thông qua nhiều không gian, diễn đàn dành cho người dân tộc thiểu số, để họ phát huy quyền làm chủ của mình trong cộng đồng. Từ đó, mới phát huy vai trò của luật tục để hỗ trợ, phối hợp với pháp luật trong quản lý xã hội cộng đồng buôn, bon, plây ở Tây Nguyên.

Việc vận dụng hệ thống tri thức bản địa thông qua luật tục không chỉ có ý nghĩa thực tiễn mà còn là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Tác động của luật tục là khách quan, không thể phủ nhận, do vậy, chúng ta cần phát huy tốt vai trò của luật tục trong đời sống xã hội hiện nay, góp phần tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu lực, hiệu quả ở các đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Để pháp luật thực sự là công cụ tối thượng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, điểu chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội, phát triển toàn diện Tây Nguyên trong thời kỳ quá độ, đổi mới thì cần phát huy vai trò của luật tục.

ThS. Dương Văn Quý
Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk


[1] Ngô Đức Thịnh, Luật tục trong đời sống các tộc người ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, năm 2014, tr.46 - 47.

[2] Ngô Đức Thịnh (2014), Sđd, tr. 37.

[3] Ngô Đức Thịnh (2014), Sđd, tr. 46 - 59.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thúc đẩy nghiên cứu khoa học có trách nhiệm trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo

Thúc đẩy nghiên cứu khoa học có trách nhiệm trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo

Sáng ngày 16/6, NGƯT.PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp, Tổng Biên tập Tạp chí Nghề luật và TS. Nguyễn Quang Vinh, Tổng Biên tập Tạp chí Quản lý nhà nước đồng chủ trì Hội nghị chào mừng Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam và Hội thảo khoa học "Đảm bảo đạo đức nghiên cứu và tính toàn vẹn học thuật trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo".
Đẩy mạnh phát triển nhà ở công nhân, nghiên cứu đề xuất “lương đủ sống”

Đẩy mạnh phát triển nhà ở công nhân, nghiên cứu đề xuất “lương đủ sống”

Sau khi Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam bế mạc, sáng ngày 05/6, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức họp báo thông tin kết quả Đại hội và trao đổi về nhiều nội dung được người lao động quan tâm như phát triển nhà ở xã hội, tiền lương, thời gian nghỉ ngơi và bảo vệ sức khỏe người lao động.
Bế mạc Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam thành công tốt đẹp

Bế mạc Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam thành công tốt đẹp

Sau 03 ngày làm việc khẩn trương, dân chủ và trách nhiệm, Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, nhiệm kỳ 2026 - 2031 bế mạc thành công tốt đẹp ngày 05/6 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (thành phố Hà Nội).
Công đoàn Việt Nam đồng hành với Chính phủ nâng cao năng suất lao động, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số

Công đoàn Việt Nam đồng hành với Chính phủ nâng cao năng suất lao động, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số

Trong khuôn khổ Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, sáng ngày 05/6, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức chương trình trao đổi, thảo luận giữa Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng với các đại biểu dự Đại hội, với chủ đề: “Công đoàn Việt Nam đồng hành với Chính phủ nâng cao năng suất lao động, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số”.
Ông Nguyễn Anh Tuấn tái đắc cử Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XIV

Ông Nguyễn Anh Tuấn tái đắc cử Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XIV

Sáng ngày 05/6, trong ngày làm việc thứ ba của Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031, Đại hội đã công bố kết quả Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XIV, gồm 135 Ủy viên Ban Chấp hành và 27 Ủy viên Ban Thường vụ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XIV.
Dự kiến bầu 135 Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XIV

Dự kiến bầu 135 Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XIV

Chiều ngày 04/6, Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031 tiếp tục chương trình làm việc với nội dung trình bày Đề án nhân sự Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa XIV và hướng dẫn thảo luận tại các đoàn đại biểu về công tác nhân sự.
Khai mạc trọng thể Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, đại diện cho gần 10 triệu đoàn viên cả nước

Khai mạc trọng thể Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, đại diện cho gần 10 triệu đoàn viên cả nước

Sáng 04/6, tại Hà Nội, Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam được khai mạc trọng thể với sự tham dự của 780 đại biểu ưu tú, đại diện cho gần 10 triệu đoàn viên công đoàn và người lao động cả nước.
780 đại biểu sẽ tham dự Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, nhiệm kỳ 2026 - 2031

780 đại biểu sẽ tham dự Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, nhiệm kỳ 2026 - 2031

Chiều ngày 29/5, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức họp báo cung cấp thông tin về Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Công đoàn triển khai gói hỗ trợ 100 tỷ đồng cho đoàn viên khó khăn, mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh nghề nghiệp

Công đoàn triển khai gói hỗ trợ 100 tỷ đồng cho đoàn viên khó khăn, mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh nghề nghiệp

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam dành 100 tỷ đồng từ nguồn tài chính công đoàn để hỗ trợ đoàn viên, người lao động mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh nghề nghiệp. Trường hợp mắc bệnh và có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ tối đa 2 triệu đồng/người.
Đổi mới tư duy tiếp cận trong nghiên cứu tổng kết, sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013

Đổi mới tư duy tiếp cận trong nghiên cứu tổng kết, sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013

Ngày 29/5, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Hội thảo quốc gia "Phương hướng sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013 phù hợp với thực tiễn, yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới" do PGS.TS. Nguyễn Hoàng Anh, Phó Hiệu trưởng Trường và GS.TS. Võ Khánh Vinh, Trường Đại học Kiểm sát đồng chủ trì. Tham dự Hội thảo có đại diện Ban Giám hiệu Trường, các bộ, ngành, trường đại học, viện nghiên cứu cùng các chuyên gia, nhà khoa học.
Những vấn đề pháp lý mới trước bối cảnh chuyển đổi số

Những vấn đề pháp lý mới trước bối cảnh chuyển đổi số

Sáng ngày 28/5, Trường Đại học Phenikaa tổ chức Hội thảo khoa học “Các vấn đề mới của Pháp luật kinh tế trong quá trình hội nhập và phát triển”. PGS.TS. Ngô Thị Hường, Phó Trưởng khoa Luật, Trường Đại học Phenikaa và TS. Trần Quang Huy, Trường Đại học Phenikaa đồng chủ trì Hội thảo. Hội thảo có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực pháp lý, cùng với các giảng viên và sinh viên khoa Luật, Trường Đại học Phenikaa.
Khởi công Dự án nhà ở xã hội Khánh Hòa: Tạo lập không gian sống văn minh, hiện đại cho người dân tỉnh Ninh Bình

Khởi công Dự án nhà ở xã hội Khánh Hòa: Tạo lập không gian sống văn minh, hiện đại cho người dân tỉnh Ninh Bình

Nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển nhà ở xã hội; chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cấp đô thị tỉnh Ninh Bình; đồng thời tạo quỹ nhà ở xã hội phục vụ người dân, đặc biệt là các đối tượng có thu nhập thấp, góp phần ổn định lâu dài, nâng cao chất lượng đời sống cho người dân, hướng tới mục tiêu "không ai bị bỏ lại phía sau", ngày 27/5/2026, Liên danh nhà đầu tư Công ty cổ phần đầu tư và phát triển dịch vụ bất động sản Thuận Thắng và Công ty cổ phần chế biến nông sản thực phẩm xuất khẩu Ninh Bình tổ chức Lễ khởi công và triển khai Dự án nhà ở xã hội Khánh Hòa tại phường Đông Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
Tuyên dương điển hình tiên tiến học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong các cấp công đoàn

Tuyên dương điển hình tiên tiến học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong các cấp công đoàn

Chiều ngày 19/5, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức Hội nghị Sơ kết 05 năm thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị và biểu dương điển hình tiên tiến học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết dự và phát biểu chỉ đạo.
Hội thảo quốc tế về bảo vệ dữ liệu cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và định hướng hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam

Hội thảo quốc tế về bảo vệ dữ liệu cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và định hướng hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam

Ngày 15/5, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh kết hợp với đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc tế “Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong kỷ nguyên số từ các khía cạnh pháp lý”. Hội thảo có sự tham gia nhiều giáo sư, chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành. TS. Lê Trường Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh và bà Mette Ekeroth, Phó Trưởng phái đoàn Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam đồng chủ trì Hội thảo.
Tuần lễ Trọng tài và Hòa giải Việt Nam 2026: Thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống giải quyết tranh chấp thay thế tại Việt Nam

Tuần lễ Trọng tài và Hòa giải Việt Nam 2026: Thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống giải quyết tranh chấp thay thế tại Việt Nam

Từ ngày 25 đến ngày 29/5/2026, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam tổ chức Tuần lễ Trọng tài & Hòa giải Việt Nam 2026 (Vietnam ADR Week 2026 - VAW 2026) với chủ đề "Trọng tài & ADR: Vươn tầm cao mới" (Arbitration & ADR: Embracing new heights). Sự kiện được kỳ vọng trở thành diễn đàn chuyên sâu quy tụ đông đảo đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức quốc tế, trung tâm trọng tài và hòa giải, hãng luật, doanh nghiệp, nhà đầu tư, chuyên gia, nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên trong và ngoài nước, dưới cả hình thức trực tiếp và trực tuyến.

Theo dõi chúng tôi trên: