Chủ nhật 11/10/2026 07:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tóm tắt: Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân là nguyên tắc Hiến định ở Việt Nam. Bài viết phân tích tình hình thực hiện nguyên tắc này trong thực tiễn, từ đó đưa ra các giải pháp thực hiện hiệu quả nguyên tắc này trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tóm tắt: Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân là nguyên tắc Hiến định ở Việt Nam. Bài viết phân tích tình hình thực hiện nguyên tắc này trong thực tiễn, từ đó đưa ra các giải pháp thực hiện hiệu quả nguyên tắc này trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Abstract: The principle that all state power belongs to the people is a constitutional principle in Vietnam. The article analyzes the implementation of this principle in practice, thereby proposing solutions to effectively implement this principle in the process of building and completing the Vietnamese socialist rule of law state.

1. Đặt vấn đề

Ở nước ta, tất cả “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[1], điều này đã được hiến định trong các bản Hiến pháp Việt Nam và trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và vận hành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta tại Điều thứ 1 đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Tinh thần của nguyên tắc ấy được kế thừa trong Hiến pháp năm 1959 bằng quy định tại Điều 4: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân”. Điều 6 Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Điều 2 Hiến pháp năm 1992 cũng khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Do yêu cầu của sự phát triển, quản lý đất nước trong tình hình mới, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, theo đó khoản 2 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.

Khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân đã được cụ thể hóa và ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật khác. Bên cạnh đó, lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể hai phương thức thực hiện quyền lực nhà nước, đó là nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước (Điều 6).

2. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ở nước ta thời gian qua

2.1. Kết quả thực hiện

Một là, pháp luật về bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ngày càng hoàn thiện[2]. Trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta đã thể chế hóa và ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 và trong hệ thống pháp luật mới được ban hành, sửa đổi. Việc thực hiện Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 có nhiều tiến bộ, đến nay, 100% xã, phường, thị trấn đã xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Bên cạnh đó, việc thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông đã được triển khai rộng khắp các đơn vị hành chính cấp xã; 95% xã, phường, thị trấn thực hiện niêm yết công khai các thủ tục hành chính, các khoản phí, lệ phí, đóng góp của dân, công khai các phương án sản xuất, việc giải quyết các thủ tục hành chính, chế độ chính sách[3].

Thời gian qua, khung khổ pháp lý bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ngày càng hoàn thiện. Bên cạnh việc khẳng định nhân dân thực hiện quyền lực thông qua thiết chế dân chủ đại diện (Quốc hội và Hội đồng nhân dân), Hiến pháp của Việt Nam qua các thời kỳ đều quy định một số hình thức dân chủ trực tiếp và luôn xác định dân chủ trực tiếp là cách thể hiện chân thực, nguyên vẹn nhất ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận trưng cầu dân ý, bãi miễn đại biểu dân cử, quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội của người dân. Hiến pháp năm 2013 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý để ban hành các văn bản pháp luật quan trọng về mở rộng dân chủ và phát huy dân chủ trực tiếp như: Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, Luật Trưng cầu dân ý năm 2015, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Thanh niên năm 2020… Bên cạnh đó, trong hiện nay, khi trình độ dân trí ngày càng cao, dân chủ ngày càng được mở rộng, Nhà nước ta đã và đang tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền làm chủ của nhân dân thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật. Sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, trong đó hàm chứa các nội dung về quyền con người, quyền công dân, cụ thể như: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Báo chí năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020… đã tạo bước tiến mới trong bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.

Hai là, việc thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân bằng dân chủ trực tiếp đã đạt được một số kết quả, cụ thể như: Việc triển khai Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 trong thực tiễn đã đạt được nhiều kết quả nhất định; nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp được thực hiện tốt nhất với sự tham gia, phối hợp tích cực giữa chính quyền xã, phường, thị trấn với nhân dân ở cộng đồng dân cư nông thôn. Thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân đã đạt được nhiều kết quả trong thực tế. Việc tiếp cận thông tin trong hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật được thực hiện chủ động, công khai, minh bạch; hoạt động hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật trong thời gian qua đã được thực thi khá tốt trên thực tế; các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khi xây dựng được cập nhật trên các phương tiện thông tin đại chúng để công dân tham gia đóng góp ý kiến. Bên cạnh đó, quyền làm chủ của nhân dân tiếp tục được củng cố và có những bước tiến quan trọng, quyền dân chủ trực tiếp thông qua hoạt động bầu cử, ứng cử; trưng cầu ý dân, bãi miễn đại biểu dân cử; tham gia vào quản lý nhà nước (đóng góp ý kiến; khiếu nại, tố cáo; đối thoại dân chủ; thảo luận, phản biện).

Ba là, việc thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước ngày càng đầy đủ, toàn diện và đạt được nhiều kết quả.

2.2. Một số hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân còn tồn tại một số hạn chế nhất định.

Một là, hạn chế trong thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân bằng dân chủ trực tiếp: Ở nước ta, quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thi hành các bản Hiến pháp luôn khẳng định tầm quan trọng của dân chủ trực tiếp. Trong thời gian qua, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành một số văn bản pháp luật như: Pháp lệnh Thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018... Tuy nhiên, một số hình thức dân chủ trực tiếp (bãi nhiệm đại biểu dân cử, sáng kiến công dân...) chưa có quy định cụ thể về quy trình, thủ tục thực hiện, làm hạn chế việc nhân dân tham gia thực hiện quyền lực bằng các hình thức dân chủ trực tiếp này.

Hai là, hạn chế trong thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân bằng dân chủ đại diện do bất cập trong quy định của pháp luật về các cơ quan đại biểu của nhân dân:

- Bất cập trong quy định của pháp luật về “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” trong hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 với chức năng thực hiện hoạt động “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” của Quốc hội trong Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Khoản 6 Điều 11 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định về các hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, trong đó có hoạt động “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn”. Theo khoản 3 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 thì: “Giám sát tối cao là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý. Giám sát tối cao được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội”. Như vậy, hoạt động giám sát tối cao được thực hiện thông qua các hoạt động “theo dõi, xem xét, đánh giá”, chính vì thế hoạt động “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” không thuộc các hoạt động của hoạt động giám sát. Hơn nữa, quy định về “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” được quy định cụ thể tại Điều 12, Điều 13 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), vì vậy, quy định việc “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” là một trong những nội dung của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 sẽ dẫn đến sự chồng chéo, trùng lặp về thực hiện chức năng, nhiệm vụ giữa “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” với tư cách là chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội với “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” với tư cách là nội dung của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội.

- Bất cập trong quy định của pháp luật về chức năng kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm trong hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội với chức năng kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Khoản 10 Điều 22 (về các hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) và khoản 6 Điều 37 (về các hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội) Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đều quy định: Kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Theo Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, sau khi chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát, căn cứ vào kết quả giám sát, chủ thể giám sát “xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”. Như vậy, hoạt động yêu cầu, kiến nghị là những hoạt động sau giai đoạn giám sát, tức là xử lý kết quả giám sát, chứ không phải là hoạt động giám sát. Mặc dù, hoạt động giám sát và xử lý kết quả giám sát có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không trùng lặp hay đồng nhất với nhau. Chính vì thế, việc quy định “kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm” đối với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trong thực hiện chức năng giám sát là chưa hợp lý. Hơn nữa, chức năng “kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm” đối với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội đã được quy định tại Điều 12, Điều 13 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Vì vậy, việc quy định nội dung này trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 dẫn đến sự trùng lặp, khó phân định rõ hoạt động “kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm” với tư cách là chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội với “kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm” với tư cách là chức năng, nhiệm vụ giám sát của các chủ thể này khi triển khai thực hiện trong thực tiễn.

Ba là, khoản 1 Điều 9 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chức năng “giám sát và phản biện xã hội”; khoản 6 Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 cũng quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước. Với cơ sở pháp lý trên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trực tiếp thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội và là đầu mối để tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để kiến nghị với Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, trách nhiệm giải trình việc tiếp thu ý kiến, kiến nghị hay không tiếp thu ý kiến, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chưa được quy định rõ ràng.

3. Giải pháp thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Một là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các thể chế, thiết chế thực hành dân chủ: Cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; giám sát, phản biện xã hội và sáng kiến công dân; biểu tình; hội; trưng cầu ý dân; bầu cử, ứng cử, bãi miễn. Việc xây dựng và hoàn thiện các thể chế thực hành dân chủ hoàn toàn phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, nhằm cụ thể hóa nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và tạo hành lang pháp lý đầy đủ để nhân dân thực hành quyền làm chủ của mình một cách thực chất, đầy đủ trong thực tế. Tuy nhiên, việc xây dựng và hoàn thiện các thể chế dân chủ cần phải gắn liền với trình độ văn hóa chính trị và văn hóa pháp lý của nhân dân nhằm bảo đảm sự “phù hợp, tương xứng” giữa quyền làm chủ của nhân dân với năng lực làm chủ của nhân dân.

Hai là, hoàn thiện thể chế và thiết chế dân chủ đại diện và các hình thức dân chủ đại diện: Trước hết, việc hoàn thiện này cần theo hướng thực chất, nâng cao trách nhiệm, đặc biệt trách nhiệm giải trình của các thiết chế dân chủ đại diện trước cử tri, lấy sự hài lòng của người dân, mức độ bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân làm tiêu chí đánh giá quan trọng nhất[4]. Hoàn thiện pháp luật về bầu cử theo hướng, đại biểu phải gắn bó suốt nhiệm kỳ và thực hiện lời hứa với nhân dân, phản ánh được ý chí nguyện vọng của nhân dân; đại biểu phải chịu sự giám sát của nhân dân, gắn trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn với sự tín nhiệm của nhân dân, trường hợp không hoàn thành được trách nhiệm, nhiệm vụ, vai trò đại diện quyền lợi, nguyện vọng của cử tri thì đại biểu phải bị bãi miễn. Bên cạnh đó, cũng cần nâng cao tính dân chủ của hoạt động bầu cử và chất lượng đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cơ sở đổi mới chế độ bầu cử theo hướng mỗi khu vực bầu cử chỉ bầu một đại biểu, hoàn thiện cơ chế ứng cử, chú trọng khuyến khích ứng cử, bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh cao trong bầu cử. Đổi mới tổ chức Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo hướng bảo đảm tốt hơn thể chế dân chủ đại diện như: Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoạt động thường xuyên và chuyên trách, hạn chế số lượng đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân kiêm nhiệm, là cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính; hoàn thiện cơ chế cử tri thực hiện quyền bãi nhiệm đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân khi các đại biểu này không còn được cử tri tín nhiệm. Trong thời gian tới, cần tiếp tục làm tốt công tác hệ thống hóa pháp luật nhằm rà soát, phát hiện, loại bỏ những quy phạm pháp luật mâu thuẫn, trùng lặp... nhằm bảo đảm tính khả thi của các văn bản pháp luật trong thực tiễn.

Ba là, nghiên cứu xây dựng cơ chế thực hiện vận động tranh cử trong hoạt động bầu đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân nhằm cung cấp đầy đủ thông tin và minh chứng năng lực bản thân làm cơ sở xác đáng cho cử tri lựa chọn chính xác người đại biểu cho quyền và lợi ích của nhân dân. Tuy nhiên, cần lưu ý, việc thực hiện vận động tranh cử trong hoạt động bầu đại biểu cơ quan dân cử là hoạt động chưa có tiền lệ ở Việt Nam, điều này đòi hỏi phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế bầu cử phù hợp với cơ chế này. Trong thời gian ngắn, cơ chế này khó được vận hành một cách thuận lợi trong thực tế. Vì vậy, để phù hợp với thực tiễn phát triển của Việt Nam, cần xác định lộ trình, có định hướng giai đoạn 2030 - 2045 sẽ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế thực hiện vận động tranh cử trong hoạt động bầu đại biểu cơ quan dân cử, nhằm cung cấp đầy đủ thông tin và minh chứng năng lực bản thân làm cơ sở xác đáng cho cử tri lựa chọn chính xác người đại biểu cho quyền và lợi ích của nhân dân, bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.

PGS.TS. Trần Quang Hiển
Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh



[1]. Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr. 698.

[2]. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2021), Bảo đảm thực hiện, phát huy quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tr. 24 - 25.

[3]. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2021), tlđd, tr. 26.

[4]. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2021), tlđd, tr. 43.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: