Chủ nhật 24/05/2026 23:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tóm tắt: Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân là nguyên tắc Hiến định ở Việt Nam. Bài viết phân tích tình hình thực hiện nguyên tắc này trong thực tiễn, từ đó đưa ra các giải pháp thực hiện hiệu quả nguyên tắc này trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tóm tắt: Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân là nguyên tắc Hiến định ở Việt Nam. Bài viết phân tích tình hình thực hiện nguyên tắc này trong thực tiễn, từ đó đưa ra các giải pháp thực hiện hiệu quả nguyên tắc này trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Abstract: The principle that all state power belongs to the people is a constitutional principle in Vietnam. The article analyzes the implementation of this principle in practice, thereby proposing solutions to effectively implement this principle in the process of building and completing the Vietnamese socialist rule of law state.

1. Đặt vấn đề

Ở nước ta, tất cả “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[1], điều này đã được hiến định trong các bản Hiến pháp Việt Nam và trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và vận hành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta tại Điều thứ 1 đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Tinh thần của nguyên tắc ấy được kế thừa trong Hiến pháp năm 1959 bằng quy định tại Điều 4: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân”. Điều 6 Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Điều 2 Hiến pháp năm 1992 cũng khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Do yêu cầu của sự phát triển, quản lý đất nước trong tình hình mới, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, theo đó khoản 2 Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.

Khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân đã được cụ thể hóa và ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật khác. Bên cạnh đó, lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể hai phương thức thực hiện quyền lực nhà nước, đó là nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước (Điều 6).

2. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ở nước ta thời gian qua

2.1. Kết quả thực hiện

Một là, pháp luật về bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ngày càng hoàn thiện[2]. Trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta đã thể chế hóa và ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 và trong hệ thống pháp luật mới được ban hành, sửa đổi. Việc thực hiện Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 có nhiều tiến bộ, đến nay, 100% xã, phường, thị trấn đã xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Bên cạnh đó, việc thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông đã được triển khai rộng khắp các đơn vị hành chính cấp xã; 95% xã, phường, thị trấn thực hiện niêm yết công khai các thủ tục hành chính, các khoản phí, lệ phí, đóng góp của dân, công khai các phương án sản xuất, việc giải quyết các thủ tục hành chính, chế độ chính sách[3].

Thời gian qua, khung khổ pháp lý bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ngày càng hoàn thiện. Bên cạnh việc khẳng định nhân dân thực hiện quyền lực thông qua thiết chế dân chủ đại diện (Quốc hội và Hội đồng nhân dân), Hiến pháp của Việt Nam qua các thời kỳ đều quy định một số hình thức dân chủ trực tiếp và luôn xác định dân chủ trực tiếp là cách thể hiện chân thực, nguyên vẹn nhất ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận trưng cầu dân ý, bãi miễn đại biểu dân cử, quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội của người dân. Hiến pháp năm 2013 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý để ban hành các văn bản pháp luật quan trọng về mở rộng dân chủ và phát huy dân chủ trực tiếp như: Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, Luật Trưng cầu dân ý năm 2015, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Thanh niên năm 2020… Bên cạnh đó, trong hiện nay, khi trình độ dân trí ngày càng cao, dân chủ ngày càng được mở rộng, Nhà nước ta đã và đang tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền làm chủ của nhân dân thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật. Sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, trong đó hàm chứa các nội dung về quyền con người, quyền công dân, cụ thể như: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Báo chí năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020… đã tạo bước tiến mới trong bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.

Hai là, việc thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân bằng dân chủ trực tiếp đã đạt được một số kết quả, cụ thể như: Việc triển khai Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 trong thực tiễn đã đạt được nhiều kết quả nhất định; nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp được thực hiện tốt nhất với sự tham gia, phối hợp tích cực giữa chính quyền xã, phường, thị trấn với nhân dân ở cộng đồng dân cư nông thôn. Thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân đã đạt được nhiều kết quả trong thực tế. Việc tiếp cận thông tin trong hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật được thực hiện chủ động, công khai, minh bạch; hoạt động hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật trong thời gian qua đã được thực thi khá tốt trên thực tế; các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khi xây dựng được cập nhật trên các phương tiện thông tin đại chúng để công dân tham gia đóng góp ý kiến. Bên cạnh đó, quyền làm chủ của nhân dân tiếp tục được củng cố và có những bước tiến quan trọng, quyền dân chủ trực tiếp thông qua hoạt động bầu cử, ứng cử; trưng cầu ý dân, bãi miễn đại biểu dân cử; tham gia vào quản lý nhà nước (đóng góp ý kiến; khiếu nại, tố cáo; đối thoại dân chủ; thảo luận, phản biện).

Ba là, việc thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước ngày càng đầy đủ, toàn diện và đạt được nhiều kết quả.

2.2. Một số hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân còn tồn tại một số hạn chế nhất định.

Một là, hạn chế trong thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân bằng dân chủ trực tiếp: Ở nước ta, quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thi hành các bản Hiến pháp luôn khẳng định tầm quan trọng của dân chủ trực tiếp. Trong thời gian qua, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành một số văn bản pháp luật như: Pháp lệnh Thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018... Tuy nhiên, một số hình thức dân chủ trực tiếp (bãi nhiệm đại biểu dân cử, sáng kiến công dân...) chưa có quy định cụ thể về quy trình, thủ tục thực hiện, làm hạn chế việc nhân dân tham gia thực hiện quyền lực bằng các hình thức dân chủ trực tiếp này.

Hai là, hạn chế trong thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân bằng dân chủ đại diện do bất cập trong quy định của pháp luật về các cơ quan đại biểu của nhân dân:

- Bất cập trong quy định của pháp luật về “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” trong hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 với chức năng thực hiện hoạt động “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” của Quốc hội trong Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Khoản 6 Điều 11 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định về các hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, trong đó có hoạt động “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn”. Theo khoản 3 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 thì: “Giám sát tối cao là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý. Giám sát tối cao được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội”. Như vậy, hoạt động giám sát tối cao được thực hiện thông qua các hoạt động “theo dõi, xem xét, đánh giá”, chính vì thế hoạt động “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” không thuộc các hoạt động của hoạt động giám sát. Hơn nữa, quy định về “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” được quy định cụ thể tại Điều 12, Điều 13 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), vì vậy, quy định việc “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” là một trong những nội dung của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 sẽ dẫn đến sự chồng chéo, trùng lặp về thực hiện chức năng, nhiệm vụ giữa “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” với tư cách là chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội với “lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm” với tư cách là nội dung của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội.

- Bất cập trong quy định của pháp luật về chức năng kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm trong hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội với chức năng kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Khoản 10 Điều 22 (về các hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) và khoản 6 Điều 37 (về các hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội) Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đều quy định: Kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Theo Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, sau khi chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát, căn cứ vào kết quả giám sát, chủ thể giám sát “xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”. Như vậy, hoạt động yêu cầu, kiến nghị là những hoạt động sau giai đoạn giám sát, tức là xử lý kết quả giám sát, chứ không phải là hoạt động giám sát. Mặc dù, hoạt động giám sát và xử lý kết quả giám sát có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không trùng lặp hay đồng nhất với nhau. Chính vì thế, việc quy định “kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm” đối với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trong thực hiện chức năng giám sát là chưa hợp lý. Hơn nữa, chức năng “kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm” đối với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội đã được quy định tại Điều 12, Điều 13 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Vì vậy, việc quy định nội dung này trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 dẫn đến sự trùng lặp, khó phân định rõ hoạt động “kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm” với tư cách là chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội với “kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm” với tư cách là chức năng, nhiệm vụ giám sát của các chủ thể này khi triển khai thực hiện trong thực tiễn.

Ba là, khoản 1 Điều 9 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chức năng “giám sát và phản biện xã hội”; khoản 6 Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 cũng quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước. Với cơ sở pháp lý trên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trực tiếp thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội và là đầu mối để tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để kiến nghị với Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, trách nhiệm giải trình việc tiếp thu ý kiến, kiến nghị hay không tiếp thu ý kiến, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chưa được quy định rõ ràng.

3. Giải pháp thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Một là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các thể chế, thiết chế thực hành dân chủ: Cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; giám sát, phản biện xã hội và sáng kiến công dân; biểu tình; hội; trưng cầu ý dân; bầu cử, ứng cử, bãi miễn. Việc xây dựng và hoàn thiện các thể chế thực hành dân chủ hoàn toàn phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, nhằm cụ thể hóa nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và tạo hành lang pháp lý đầy đủ để nhân dân thực hành quyền làm chủ của mình một cách thực chất, đầy đủ trong thực tế. Tuy nhiên, việc xây dựng và hoàn thiện các thể chế dân chủ cần phải gắn liền với trình độ văn hóa chính trị và văn hóa pháp lý của nhân dân nhằm bảo đảm sự “phù hợp, tương xứng” giữa quyền làm chủ của nhân dân với năng lực làm chủ của nhân dân.

Hai là, hoàn thiện thể chế và thiết chế dân chủ đại diện và các hình thức dân chủ đại diện: Trước hết, việc hoàn thiện này cần theo hướng thực chất, nâng cao trách nhiệm, đặc biệt trách nhiệm giải trình của các thiết chế dân chủ đại diện trước cử tri, lấy sự hài lòng của người dân, mức độ bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân làm tiêu chí đánh giá quan trọng nhất[4]. Hoàn thiện pháp luật về bầu cử theo hướng, đại biểu phải gắn bó suốt nhiệm kỳ và thực hiện lời hứa với nhân dân, phản ánh được ý chí nguyện vọng của nhân dân; đại biểu phải chịu sự giám sát của nhân dân, gắn trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn với sự tín nhiệm của nhân dân, trường hợp không hoàn thành được trách nhiệm, nhiệm vụ, vai trò đại diện quyền lợi, nguyện vọng của cử tri thì đại biểu phải bị bãi miễn. Bên cạnh đó, cũng cần nâng cao tính dân chủ của hoạt động bầu cử và chất lượng đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cơ sở đổi mới chế độ bầu cử theo hướng mỗi khu vực bầu cử chỉ bầu một đại biểu, hoàn thiện cơ chế ứng cử, chú trọng khuyến khích ứng cử, bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh cao trong bầu cử. Đổi mới tổ chức Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo hướng bảo đảm tốt hơn thể chế dân chủ đại diện như: Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoạt động thường xuyên và chuyên trách, hạn chế số lượng đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân kiêm nhiệm, là cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính; hoàn thiện cơ chế cử tri thực hiện quyền bãi nhiệm đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân khi các đại biểu này không còn được cử tri tín nhiệm. Trong thời gian tới, cần tiếp tục làm tốt công tác hệ thống hóa pháp luật nhằm rà soát, phát hiện, loại bỏ những quy phạm pháp luật mâu thuẫn, trùng lặp... nhằm bảo đảm tính khả thi của các văn bản pháp luật trong thực tiễn.

Ba là, nghiên cứu xây dựng cơ chế thực hiện vận động tranh cử trong hoạt động bầu đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân nhằm cung cấp đầy đủ thông tin và minh chứng năng lực bản thân làm cơ sở xác đáng cho cử tri lựa chọn chính xác người đại biểu cho quyền và lợi ích của nhân dân. Tuy nhiên, cần lưu ý, việc thực hiện vận động tranh cử trong hoạt động bầu đại biểu cơ quan dân cử là hoạt động chưa có tiền lệ ở Việt Nam, điều này đòi hỏi phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế bầu cử phù hợp với cơ chế này. Trong thời gian ngắn, cơ chế này khó được vận hành một cách thuận lợi trong thực tế. Vì vậy, để phù hợp với thực tiễn phát triển của Việt Nam, cần xác định lộ trình, có định hướng giai đoạn 2030 - 2045 sẽ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế thực hiện vận động tranh cử trong hoạt động bầu đại biểu cơ quan dân cử, nhằm cung cấp đầy đủ thông tin và minh chứng năng lực bản thân làm cơ sở xác đáng cho cử tri lựa chọn chính xác người đại biểu cho quyền và lợi ích của nhân dân, bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.

PGS.TS. Trần Quang Hiển
Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh



[1]. Xem: Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr. 698.

[2]. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2021), Bảo đảm thực hiện, phát huy quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tr. 24 - 25.

[3]. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2021), tlđd, tr. 26.

[4]. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2021), tlđd, tr. 43.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: