Thứ ba 06/10/2026 06:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và giải pháp nâng cao điểm số, thứ hạng Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam

Bài viết cung cấp thông tin về thực trạng điểm số, thứ hạng Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam, nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó và đề xuất giải pháp để cải thiện điểm số, thứ hạng của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam.

Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là một chỉ số thành phần thuộc Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII). Đây là chỉ số quan trọng thuộc nhóm Chỉ số về môi trường pháp lý, thuộc trụ cột thể chế, được xác định là một trong các yếu tố đầu vào của đổi mới sáng tạo, có ý nghĩa lớn đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Từ năm 2014, Chính phủ đã xác định cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hướng tới phát triển bền vững là một trọng tâm cải cách, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên. Vì vậy, hàng năm Chính phủ ban hành Nghị quyết về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia (Nghị quyết số 19/NQ-CP các năm 2014 - 2018 và Nghị quyết số 02/NQ-CP các năm 2019 - 2021) với các mục tiêu, giải pháp cụ thể, bám sát các chỉ số xếp hạng của các tổ chức quốc tế có uy tín đánh giá.

1. Thực trạng điểm số, thứ hạng của Việt Nam tại Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật do các tổ chức quốc tế đánh giá

1.1. Đánh giá của các tổ chức quốc tế được Ngân hàng Thế giới sử dụng trong Bộ chỉ số tổng hợp về Quản trị Toàn cầu

(i) Kết quả đánh giá của Bertelsmann Transformation Index (BTI): Chỉ số này được đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 10 (sau đó Ngân hàng Thế giới (WB) chuẩn hóa lại theo thang điểm từ 0 - 1). Về Tổ chức thị trường (yếu tố được WB sử dụng trong Bộ chỉ số tổng hợp về Quản trị Toàn cầu (Worldwide Governance Index - WGI)), Việt Nam nhận được điểm số tương đối thấp ưm) và duy trì từ năm 2018 đến năm 2021; năm 2022, điểm số của Việt Nam đã tăng lên, đạt 5/10 điểm (chi tiết xem Bảng 1[1]).

(ii) Kết quả đánh giá của tổ chức Economist Intelligence Unit (EIU): Các chuyên gia của EIU đánh giá theo thang điểm từ 1 - 4, WB chuẩn hóa theo thang điểm từ 0 - 1. Điểm số sau khi WB chuẩn hóa của Việt Nam tương đối đều qua các năm, từ năm 2017 - 2022 dao động trong khoảng 0.4 - 0.5 và có xu hướng giảm trong các năm 2021, 2022 (chi tiết xem Bảng 2[2]).

(iii) Kết quả đánh giá của Quỹ Phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD): Các chuyên gia của IFAD thực hiện đánh giá theo thang điểm 6. Bốn yếu tố trong đánh giá này được WB sử dụng bao gồm: Phát triển dịch vụ tài chính nông thôn, môi trường đầu tư cho doanh nghiệp nông thôn, tiếp cận thị trường đầu vào và thị trường nông sản, chính sách thương mại (bắt đầu được đánh giá từ 2018).

Trong các yếu tố này, hiện nay, chính sách thương mại đạt điểm cao nhất và có xu hướng tăng từ năm 2018. Các chuyên gia của IFAD cũng đánh giá về phát triển dịch vụ tài chính nông thôn, điểm số giai đoạn 2021 - 2022 đã tăng so với giai đoạn 2018 - 2020. Tuy nhiên, môi trường đầu tư cho doanh nghiệp nông thôn và tiếp cận thị trường đầu vào và thị trường nông sản lại có xu hướng giảm điểm trong giai đoạn 2021 - 2022 so với các năm trước đó (chi tiết xem Bảng 3[3]).

(iv) Kết quả đánh giá của Quỹ Heritage Foundation (HER): Chỉ số HER được đánh giá trên thang điểm 100. WB sử dụng kết quả đánh giá của HER đối với hai yếu tố “Tự do đầu tư” và “Tự do tài chính” cho Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật. Việt Nam từng đạt điểm cao nhất là 40 về tự do đầu tư và 50 về tự do tài chính (từ năm 2019 đến nay).

Từ điểm số của hai yếu tố trên, WB đã tổng hợp, tính toán và chuẩn hóa theo thang điểm từ 0 - 1. Theo đó, điểm số của Việt Nam theo đánh giá của HER được WB sử dụng trong WGI đạt 0.53 điểm trong giai đoạn 2017 - 2020 và sau đó giảm xuống 0.45 điểm trong hai năm gần đây (chi tiết xem Bảng 4[4]).

(v) Kết quả đánh giá của tổ chức Global Insight Business Risk and Conditions (WMO): Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật sử dụng điểm số của “gánh nặng” quy định và sự không nhất quán về thuế của WMO. Trong giai đoạn 2017 - 2022, điểm số của chỉ số WMO (đã được WB quy chuẩn theo thang điểm 0 - 1) có xu hướng giảm (từ 0.75 năm 2017 xuống 0.58 vào năm 2022) (chi tiết xem Bảng 5[5]).

(vi) Kết quả đánh giá của tổ chức Political Risk Services (PRS): Có 12 yếu tố rủi ro khác nhau của môi trường chính trị và kinh doanh mà các công ty đang hoạt động trong một quốc gia có thể gặp phải được đánh giá theo PRS. Từ năm 2017 đến nay, năm 2020, Việt Nam đạt điểm cao nhất là 0.73. Kết quả đánh giá gần đây nhất (năm 2022), Việt Nam đạt 0.64 điểm, bằng điểm với năm 2017 (chi tiết xem Bảng 6[6]).

(vii) Kết quả đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF): Các doanh nghiệp đánh giá theo thang điểm từ 1 - 7 cho từng yếu tố. Căn cứ vào điểm số do doanh nghiệp đánh giá theo từng yếu tố đó, WB tính toán, tổng hợp và chuẩn hóa theo thang điểm từ 0 - 1. Từ năm 2017 đến nay, điểm số của Việt Nam được WB chuẩn hóa từ kết quả của WEF có xu hướng cải thiện, từ 0.46 điểm năm 2017 đã tăng lên 0.51 điểm năm 2022 (chi tiết xem Bảng 7[7]).

(viii) Kết quả đánh giá của Dự án World Justice Project Rule Of Law Index (WJP): Người dân và chuyên gia thực hiện đánh giá thông qua trả lời bảng hỏi khảo sát, sau đó dự án WJP tính toán theo thang điểm từ 0 - 1. Trong 05 tiêu chí đánh giá về thực thi pháp luật được WB sử dụng cho Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật, tiêu chí các quy định pháp luật được thực thi hiệu quả có điểm số cao nhất và có xu hướng cải thiện từ các năm 2017, 2018 đến nay (giảm từ 0.45 điểm xuống 0.44 điểm). Xét theo điểm số tổng hợp đối với cả 05 tiêu chí, từ năm 2017 đến nay cho thấy không có thay đổi rõ rệt, điểm số dao động ở mức 0.45 điểm (giai đoạn 2017 - 2020) và sau đó lại giảm xuống 0.44 điểm (chi tiết xem Bảng 8[8]).

Do thang điểm của WJP là thang điểm từ 0 - 1 nên WB không chuẩn hóa lại mà sử dụng luôn điểm số về Thực thi pháp luật của WJP.

1.2. Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới

Trên cơ sở điểm số của 08 nguồn đánh giá nêu trên, WB đã tính toán, tổng hợp để cho ra điểm của Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật. Điểm của chỉ số này được tính toán theo thang điểm từ -2.5 (thấp nhất) đến 2.5 (cao nhất). Từ năm 2017 đến năm 2020, điểm của Việt Nam có xu hướng cải thiện hơn, từ -0.43 năm 2017 lên -0.24 năm 2020 nhưng sau đó lại giảm xuống -0.40 năm 2021 và -0.43 năm 2022 (chi tiết xem Bảng 9[9]).

1.3. Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật theo đánh giá của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới

Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) công bố GII hàng năm và lấy tên năm công bố là năm báo cáo (ví dụ, công bố báo cáo năm 2023 và lấy tên báo cáo là GII 2023). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là năm dữ liệu cho các chỉ số của GII là năm công bố báo cáo (tức là, Báo cáo GII 2023 nhưng dữ liệu của các chỉ số không phải của năm 2023). WIPO kết thúc việc thu thập dữ liệu từ các tổ chức quốc tế vào cuối tháng 3 hàng năm, do vậy, dữ liệu cập nhật nhất có thể là năm liền trước hoặc năm trước đó nữa. WIPO chấp nhận dữ liệu trong vòng 10 năm tính từ năm báo cáo được công bố (ví dụ, GII 2023 cho phép sử dụng dữ liệu từ năm 2013 đến năm 2023). Đối với Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật, dữ liệu của WB so với năm báo cáo GII công bố có khoảng cách 02 năm. Ví dụ, GII 2023 sử dụng dữ liệu năm 2021 của WB, vì tại thời điểm cuối tháng 3/2023, WB chỉ có dữ liệu mới nhất là năm 2021, chưa có dữ liệu của năm 2022.

Trên cơ sở điểm số theo thang điểm từ -2.5 đến 2.5 của WGI đối với Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật, tổ chức WIPO sẽ chuẩn hóa lại theo thang điểm từ 0 - 100 với phương pháp min - max. Dựa vào số điểm đã được chuẩn hóa, thứ hạng sẽ được sắp xếp lần lượt từ cao đến thấp.

Theo báo cáo GII năm 2023, Việt Nam xếp hạng 94/132 quốc gia về Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật, với điểm số được chuẩn hóa lại là 31.8 điểm. Điểm số này giảm gần 10 điểm so với GII năm 2022, khi đó, Việt Nam xếp hạng 83/132 quốc gia, với điểm số được chuẩn hóa lại là 41.2 điểm (chi tiết xem Bảng 10[10]).

Nhìn chung, thứ hạng và điểm số của Việt Nam về Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật theo các đánh giá quốc tế hiện nay ở mức chưa cao. Tuy có sự thăng hạng nhưng điểm số Việt Nam không có sự tăng trưởng đáng kể, chỉ tăng nhẹ 2.4 điểm từ 29.4 điểm năm 2017 lên 31.8 điểm năm 2023. Với kết quả Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật theo đánh giá của WB năm 2022 là -0.43, có thể Chỉ số này của Việt Nam trong GII 2024 sẽ không có sự cải thiện về điểm số và thứ hạng.

Thực tế cho thấy, Việt Nam vẫn còn không gian lớn để phát triển nâng cao Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật. Điều quan trọng là, Chính phủ cần phải xác định được nguyên nhân, điểm yếu, điểm mạnh cũng như cơ hội và thách thức mà Việt Nam cần tập trung trong giai đoạn tiếp theo.

2. Một số hạn chế trong đánh giá Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam

2.1. Về khách quan

- Số liệu, thông tin mà các chuyên gia, tổ chức quốc tế được cung cấp, khảo sát có độ trễ nhất định về mặt thời gian (từ 02 - 03 năm) nên có thể chưa thực sự phản ánh kịp thời, chính xác chất lượng quy định pháp luật trong các lĩnh vực được tổ chức quốc tế đánh giá.

- Chưa có cơ chế phản biện lại đánh giá của các tổ chức quốc tế, Chỉ số được đánh giá bởi các tổ chức nước ngoài độc lập. Tuy nhiên, việc đánh giá này chưa có thông tin đối chứng, kiểm định để bảo đảm kết quả phản ánh đúng thực tế khách quan. Thực tế cho thấy, đa số là các khảo sát mang định tính và sử dụng dữ liệu mềm trong công nghệ, do đó, có thể dẫn tới kết quả chưa khách quan. Cụ thể, Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam được GWI sử dụng từ 08 nguồn, trong đó có 07 nguồn là dữ liệu mềm. Mặt khác, ở trong nước không có các khảo sát, đánh giá tương tự để đối chiếu và so sánh. Một số đánh giá có tương đồng gồm Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số cải cách hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (PAR Index) nhưng phương pháp, cách tiếp cận khác nhau nên khó tiến hành để so sánh. Các cơ quan ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định pháp luật Việt Nam không có cơ hội, điều kiện để cung cấp thông tin, phản biện lại các đánh giá của các tổ chức quốc tế.

2.2. Về chủ quan

- Hệ thống pháp luật của Việt Nam nói chung và các lĩnh vực pháp luật mà các tổ chức quốc tế lựa chọn đánh giá nói riêng có sự cải thiện nhưng nhìn chung vẫn còn những bất cập dưới góc độ đánh giá của các tổ chức quốc tế như tính ổn định chưa cao, chậm ban hành văn bản dưới luật, một số quy định pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn, cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng còn chậm được rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ.

- Việc đánh giá của các tổ chức quốc tế chủ yếu dựa vào sự cảm nhận, đánh giá về quản trị theo ý kiến của những người tham gia khảo sát, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức tư và các tổ chức công trên toàn thế giới, do đó, có thể mang tính chủ quan của cá nhân, cơ quan, tổ chức được khảo sát, cho ý kiến.

3. Kiến nghị, giải pháp nâng cao điểm số, thứ hạng của Việt Nam theo Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật

3.1. Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam

3.1.1. Đối với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

Thứ nhất, tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo để thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư liên quan đến công tác xây dựng pháp luật, các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, Ngành Tư pháp. Chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW); thực hiện tốt Kế hoạch số 11/KH-TW ngày 28/11/2022 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW; Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 12/5/2023 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW; Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm (Quy định số 69-QĐ/TW); Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 14/8/2023 của Chính phủ về một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật nhằm ngăn ngừa tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ (Nghị quyết số 126/NQ-CP); Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật.

Thứ hai, tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương ưu tiên, phân bổ nguồn lực đầu tư cho công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật; sớm sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm tiếp tục đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật bảo đảm chuyên nghiệp, khoa học, kịp thời, khả thi, hiệu quả.

Thứ ba, tiếp tục chỉ đạo về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Quốc hội bảo đảm tiến độ và chất lượng; xử lý triệt để tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết; kiểm điểm, xác định rõ hình thức xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, cá nhân, nhất là đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc để chậm ban hành văn bản.

Thứ tư, chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, ban hành văn bản nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành.

Thứ năm, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ và nhiệm vụ của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nghị quyết của Chính phủ, công văn chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và chỉ đạo, đề nghị có liên quan khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3.1.2. Đối với bộ, ngành, địa phương

Thứ nhất, về công tác chỉ đạo, điều hành: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác này; đồng thời phân công rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân trong việc nghiên cứu, soạn thảo, trình văn bản; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu xây dựng văn bản. Thường xuyên kiểm tra, kiểm điểm rõ trách nhiệm và có hình thức xử lý đối với đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng chậm tiến độ và không bảo đảm chất lượng văn bản; cương quyết không xem xét khen thưởng các tổ chức, cá nhân để xảy ra tình trạng nợ ban hành văn bản. Kịp thời ban hành văn bản chỉ đạo, điều hành tại bộ, ngành, địa phương trên cơ sở các văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn của bộ quản lý ngành nhằm nâng hạng Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong thời gian tới; tăng cường hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với công tác xây dựng pháp luật tại địa phương.

Thứ hai, trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành cần phải tuân thủ Quy định số 69-QĐ/TW và Nghị quyết số 126/NQ-CP; thực hiện nghiêm các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

Thứ ba, công tác rà soát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật: Thực hiện nghiêm túc, đúng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm trong công tác kiểm tra, rà soát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật theo quy định; kịp thời phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý văn bản có quy định trái pháp luật. Khẩn trương xử lý các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất, không còn phù hợp với thực tiễn. Các bộ, ngành chủ động công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực thi hành tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương trong việc tra cứu, theo dõi, thực hiện.

Thứ tư, bảo đảm nguồn lực về biên chế, kinh phí cho công tác xây dựng pháp luật và công tác kiểm tra, rà soát, hợp nhất, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật: Ưu tiên, tập trung thời gian, nguồn lực cho công tác này; tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế theo quy định của Nghị định số 56/2024/NĐ-CP ngày 18/5/2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế; nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức làm công tác xây dựng pháp luật, pháp chế theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại, đáp ứng các yêu cầu công việc đặt ra.

Thứ năm, Bộ, Ngành Tư pháp nghiên cứu, xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam để làm cơ sở đánh giá, đo lường một cách chính xác, khoa học trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

3.2. Về cung cấp thông tin để các tổ chức quốc tế đánh giá bảo đảm khách quan, chính xác

Thứ nhất, cung cấp thông tin thông qua kênh hợp tác của cơ quan nhà nước: Thực tế cho thấy, các bộ, ngành, cơ quan của Việt Nam có nhiều kênh hợp tác với các tổ chức, cụ thể là WIPO, WB, WEF, Trung tâm Năng lực về Chỉ số và Bảng tính điểm tổng hợp của Ủy ban châu Âu... Việc tiếp cận thông qua các báo cáo quốc gia, các hội thảo và hoạt động trao đổi thông tin thường xuyên về các quy định của pháp luật liên quan đến đổi mới sáng tạo cần được thiết lập, duy trì ổn định. Theo đó, Việt Nam cần xây dựng một lộ trình chính sách rõ ràng và cung cấp thông tin một cách tổng thể cho các đối tác nước ngoài. Mặt khác, các chủ thể nghiên cứu có thể đưa ra phương án đánh giá ổn định hơn qua các năm. Do vậy, cần thiết lập một mạng lưới các cơ quan nhà nước nhằm thúc đẩy chính sách, hoạt động đổi mới sáng tạo. Từ đó, khi có một hoặc một nhóm chuyên gia đánh giá, làm việc với cơ quan nhà nước đều sẽ được tiếp nhận thông tin một cách tổng thể, có lộ trình phù hợp, rõ ràng.

Thứ hai, cung cấp thông tin thông qua kênh hợp tác của tư nhân và các chủ thể đổi mới sáng tạo: Việt Nam có mạng lưới, cộng đồng các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo (Start-up) là những chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình đổi mới sáng tạo của quốc gia. Do vậy, việc tuyên truyền, hỗ trợ pháp lý và tham vấn chính sách cần hướng trực tiếp đến các đối tượng này. Theo đó, Bộ Tư pháp cần phát huy hơn nữa vai trò của Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa để tiếp cận, hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong mạng lưới. Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương cần tăng cường hơn nữa công tác truyền thông chính sách trong giai đoạn xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng như đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhận thức đầy đủ về các quy định pháp luật và thực thi hiệu quả, giúp cho quá trình được khảo sát, đánh giá được chính xác hơn. Thông qua các chủ thể trực tiếp tham gia đánh giá trong các khảo sát hoặc thông qua mạng lưới độc lập của nhóm tác giả GII sẽ giúp các chủ thể đổi mới sáng tạo, các tổ chức quốc tế hiểu hơn về các chính sách pháp luật của Việt Nam, từ đó đưa ra những đánh giá khách quan, sát nhất với những nỗ lực và kết quả đạt được của Việt Nam trong lĩnh vực này.

Nhìn chung, điểm số và thứ hạng Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam theo đánh giá của các tổ chức quốc tế hiện nay đều đang ở mức tương đối thấp, có sự tăng, giảm không đều qua các năm. Với vị trí và thứ hạng hiện tại, Việt Nam vẫn còn không gian lớn để nâng cao điểm số và thứ hạng của Chỉ số này trong thời gian tới. Theo đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cần quan tâm và chỉ đạo sát sao hơn nữa để có giải pháp cải thiện chất lượng quy định pháp luật, nhằm tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định, thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nâng tầm vị thế đất nước trong khu vực và thế giới./.

Nguyễn Hồng Tuyến

Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ

Nguyễn Trà My

Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp

[1]. Bảng 1: Điểm số đánh giá BTI của Việt Nam đã được WB chuẩn hóa giai đoạn 2018 - 2022

Năm

2018 - 2019

2021

2022

Việt Nam

4

4

5

Nguồn: Cơ sở dữ liệu World Bank, https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators, truy cập ngày 20/8/2024.

[2]. Bảng 2: Điểm số đánh giá EIU của Việt Nam đã được WB chuẩn hóa giai đoạn 2017 - 2022

Năm

2017

2018

2019

2020

2021

2022

Việt Nam

0.5

0.5

0.5

0.5

0.4

0.4

Nguồn: Cơ sở dữ liệu World Bank, https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators, truy cập ngày 20/8/2024.

[3]. Bảng 3: Điểm số các yếu tố liên quan đến chất lượng các quy định của pháp luật theo đánh giá của IFAD đối với Việt Nam giai đoạn 2015 - 2022

Nội dung đánh giá

2015 - 2017

2018 - 2020

2021 - 2022

Tạo điều kiện cho phát triển dịch vụ tài chính nông thôn

4.25

2.73

3.1

Môi trường đầu tư cho doanh nghiệp nông thôn

4.67

3.42

2.6

Tiếp cận thị trường đầu vào và thị trường nông sản

4

3.70

2.9

Chính sách thương mại

-

4.33

4.7

Nguồn: Cơ sở dữ liệu World Bank, https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators, truy cập ngày 20/8/2024.

[4]. Bảng 4: Điểm số HER của Việt Nam đối với các yếu tố được WB sử dụng cho Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật

Năm

Tự do đầu tư

Tự do tài chính

2022

40

50

2021

40

50

2020

40

50

2019

40

50

2018

30

40

2017

25

40

Nguồn: Cơ sở dữ liệu World Bank, https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators, truy cập ngày 20/8/2024.

[5]. Bảng 5: Điểm số theo đánh giá WMO của Việt Nam được WB quy đổi giai đoạn 2016 - 2022

Năm

2017

2018

2019

2020

2021

2022

Việt Nam

0.75

0.75

0.67

0.67

0.67

0.58

Nguồn: Cơ sở dữ liệu World Bank, truy cập ngày 20/8/2024.

[6]. Bảng 6: Điểm số đánh giá PRS của Việt Nam được WB chuẩn hóa giai đoạn 2017 - 2022

Năm

2017

2018

2019

2020

2021

2022

Việt Nam

0.64

0.68

0.68

0.73

0.68

0.64

Nguồn: Cơ sở dữ liệu World Bank, https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators, truy cập ngày 20/8/2024.

[7]. Bảng 7: Điểm số đánh giá WEF của Việt Nam được WB chuẩn hóa giai đoạn 2016 - 2022

Năm

2017

2018

2019

2020

2021

2022

Việt Nam

0.46

0.46

0.46

0.51

0.54

0.51

Nguồn: Cơ sở dữ liệu World Bank, https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators, truy cập ngày 20/8/2024.

[8]. Bảng 8: Điểm số WJI của Việt Nam cho các yếu tố về thực thi pháp luật

Nội dung đánh giá

2017 - 2018

2019

2020

2021

2022

Thực thi pháp luật

0.45

0.45

0.45

0.44

0.44

1. Các quy định pháp luật được thực thi hiệu quả

0.54

0.56

0.59

0.59

0.59

2. Các quy định pháp luật được áp dụng và thực thi mà không bị tác động méo mó

0.40

0.39

0.42

0.39

0.40

3. Các thủ tục hành chính không có sự chậm trễ vô lý

0.48

0.50

0.48

0.46

0.48

4. Quy trình xử lí hành chính được tôn trọng

0.46

0.41

0.38

0.36

0.33

5. Chính phủ không tịch thu tài sản mà không có thủ tục pháp lý và bồi thường thỏa đáng

0.36

0.38

0.41

0.41

0.42

Nguồn: Cơ sở dữ liệu World Bank, https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators, truy cập ngày 20/8/2024.

[9]. Bảng 9: Điểm của Việt Nam đối với chỉ số Chất lượng của các quy định của pháp luật theo đánh giá của WB

Năm

2017

2018

2019

2020

2021

2022

Việt Nam

-0.43

-0.37

-0.38

-0.24

-0.40

-0.43

Nguồn: Cơ sở dữ liệu World Bank, https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators, truy cập ngày 20/8/2024.

[10]. Bảng 10: Giá trị, điểm số, thứ hạng Chỉ số Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật theo WIPO của Việt Nam

Năm

Giá trị gốc theo WGI

Điểm số

Thứ hạng

GII 2017

-0.51 (2015)

29.4

100

GII 2018

-0.50 (2016)

32.5

99

GII 2019

-0.43 (2017)

31.3

97

GII 2020

-0.37 (2018)

31.6

99

GII 2021

-0.38 (2019)

36.6

93

GII 2022

-0.24 (2020)

41.2

83

GII 2023

-0.40 (2021)

31.8

94

Nguồn: Cơ sở dữ liệu của WB (https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators), Cơ sở dữ liệu của WIPO (https://www.wipo.int/global_innovation_index/en/2023/), truy cập ngày 20/8/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 410), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: