Thứ năm 12/03/2026 20:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết phân tích đặc thù của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, thực trạng quy định về thẩm quyền giải quyết hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam và một số kiến nghị.


Abstract: This paper analyses peculiarity of unfair competition actin the area of industrial property, the real situation of stipulations on competence of handling unfair competition act in the area of industrial property in Vietnam and raises some recommendations.

1. Những đặc thù của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp (SHCN) là nhóm hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, xâm phạm các đối tượng SHCN và các đối tượng có liên quan đến quyền SHCN gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người được sử dụng hợp pháp các đối tượng SHCN và/hoặc của người tiêu dùng.

Hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN được cấu thành bởi các yếu tố: (i) Chủ thể là các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh trên thị trường, bao gồm các tổ chức, cá nhân Việt Nam và cả tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; (ii) Khách thể là các chuẩn mực thông thường của đạo đức kinh doanh; (iii) Bản chất của hành vi CTKLM là hành vi trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, xâm phạm các đối tượng SHCN và các đối tượng có liên quan đến quyền SHCN; gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người được sử dụng hợp pháp các đối tượng SHCN hoặc của người tiêu dùng; (iv) Mục đích của hành vi là nhằm cạnh tranh, thu lợi cho doanh nghiệp.

Hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN mang một số điểm đặc thù so với hành vi CTKLM nói chung, đó là:

Thứ nhất, đối tượng mà hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm đến là các đối tượng sở hữu công nghiệp và các đối tượng có liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp

Đối tượng của quyền SHCN chiếm số lượng lớn trong các đối tượng của hành vi CTKLM, bởi đây là đối tượng dễ dàng bị lợi dụng nhất do tính không chiếm hữu của doanh nghiệp khi làm chủ sở hữu đối với những tài sản này. Hơn nữa, đối tượng của quyền SHCN ngày càng có vai trò quan trọng đối với uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp nên việc lợi dụng nhằm CTKLM dễ dàng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đối thủ mà không cần phải đầu tư nhiều thời gian, công sức, tiền bạc.

Hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN thường phải liên quan đến việc sử dụng hoặc chuyển giao quyền SHCN. Cụ thể, trong quá trình sản xuất, kinh doanh, một số chủ thể đã có hành vi sử dụng những đối tượng SHCN trùng hoặc tương tự với đối tượng SHCN đang được các doanh nghiệp khác sử dụng một cách hợp pháp. Có thể nói, hành vi CTKLM xuất hiện ở những đối tượng SHCN gắn với hoạt động thương mại, các đối tượng SHCN được hướng tới có thể là nhãn hiệu, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh…

Các đối tượng mà doanh nghiệp vi phạm sử dụng không thể được coi là đối tượng SHCN của doanh nghiệp vi phạm, vì không đáp ứng yêu cầu sử dụng lâu dài và hợp pháp. Các dấu hiệu này thường được các chủ thể hành vi CTKLM tạo ra sau khi đối tượng SHCN đã tồn tại hợp pháp trên thị trường với hình thức, đặc điểm tượng tự để lợi dụng ưu thế cạnh tranh của đối tượng SHCN đó[1].

Có quan điểm cho rằng, chỉ bị coi là hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN nếu các đối tượng xâm phạm là các đối tượng của quyền SHCN đã được bảo hộ, trong thời hạn bảo hộ và hành vi CTKLM xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam[2].

Tuy nhiên, theo tác giả, hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN có đối tượng xâm phạm bao gồm cả đối tượng của quyền SHCN và các đối tượng liên quan đến quyền SHCN. Trong đó, các đối tượng của quyền SHCN được bảo hộ theo cơ chế cạnh tranh không lành mạnh là những đối tượng của quyền SHCN gắn liền với hoạt động thương mại. Những đối tượng này có thể đang được bảo hộ theo cơ chế quyền SHCN hoặc không được bảo hộ quyền SHCN (do chưa đăng ký bảo hộ hoặc đã hết thời hạn bảo hộ). Bên cạnh các đối tượng SHCN, các chỉ dẫn thương mại khác cũng là đối tượng được bảo hộ chống lại các hành vi CTKLM. Tuy nhiên, điều kiện là những đối tượng này đã sử dụng lâu dài, ổn định trong hoạt động kinh doanh, được người tiêu dùng biết đến rộng rãi.

Thứ hai, người thực hiện hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh khi chiếm đoạt thành quả sáng tạo, thành quả đầu tư (tồn tại dưới dạng các đối tượng sở hữu công nghiệp, chỉ dẫn thương mại) của chủ thể khác

Để có một sản phẩm trí tuệ mang tính sáng tạo, chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp phải đầu tư thời gian, trí tuệ hoặc kinh phí. Hoạt động nghiên cứu sáng tạo có thể phải trải qua rất nhiều thất bại mới tạo ra được một sản phẩm có giá trị được người tiêu dùng tín nhiệm.

Ngay kể cả các chỉ dẫn thương mại, dù hàm lượng giá trị sáng tạo không cao như sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh nhưng bên cạnh chi phí thiết kế, tạo ra sản phẩm, chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp phải mất chi phí vào công tác truyền thông, xây dựng hình ảnh, uy tín đối với người tiêu dùng. Do đó, việc các đối thủ kinh doanh lợi dụng các đối tượng của quyền SHCN và các đối tượng có liên quan đến quyền SHCN để thu lợi bất chính là hành vi chiếm đoạt thành quả đầu tư của chủ sở hữu hoặc người có quyền sử dụng hợp pháp các đối tượng đó.

Thứ ba, phần lớn những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp được thực hiện với mục đích gây nhầm lẫn hoặc lừa dối người tiêu dùng

Mục tiêu của các doanh nghiệp hướng tới trong hoạt động sản xuất kinh doanh là thu hút người tiêu dùng, đạt được lợi nhuận tối đa. Bởi vậy, các hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN được thực hiện chủ yếu nhằm mục đích lôi kéo khách hàng, chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường. Để đạt được mục đích đó, các chủ thể kinh doanh thực hiện hành vi CTKLM đã sử dụng các thủ đoạn khác nhau để lừa dối khách hàng, khiến người tiêu dùng mua và sử dụng những sản phẩm mà mình không thực sự biết rõ về nguồn gốc, xuất xứ, đặc tính và có thể có chất lượng thua kém. Chính vì vậy, pháp luật cạnh tranh hiện nay ghi nhận về một loại hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN với thuật ngữ “hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn”[3]. Những nhầm lẫn có thể thể hiện dưới các góc độ khác nhau: (i) Nhầm lẫn rằng hai sản phẩm giống nhau do cùng từ một nhà cung cấp; (ii) Nhầm lẫn rằng hai sản phẩm giống nhau thể hiện hai nhà cung cấp có quan hệ, liên kết với nhau; (iii) Nhầm lẫn rằng hai sản phẩm giống nhau sẽ có công dụng, tính năng, chất lượng như nhau.

Trong lĩnh vực SHCN, hành vi CTKLM chủ yếu bao gồm hành vi cố tình tạo ra sự nhầm lẫn về cơ sở sản xuất, sản phẩm hoặc hoạt động kinh doanh của một đối thủ cạnh tranh; viện dẫn hoặc chỉ dẫn tạo nên sự nhầm lẫn trong suy nghĩ của công chúng về bản chất, phương thức sản xuất, đặc tính, khả năng ứng dụng hoặc số lượng hàng hóa... Mục đích của việc kiện về hành vi CTKLM cũng là buộc chấm dứt hành vi vi phạm và đòi bồi thường thiệt hại[4].

Chủ thể thực hiện các hành vi này chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.

Thứ tư, hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu hoặc người được sử dụng hợp pháp các đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc của người tiêu dùng

Hành vi CTKLM trong thương mại gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc của người tiêu dùng. Người chịu thiệt hại do hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN chủ yếu là người sở hữu hoặc người được sử dụng hợp pháp các đối tượng SHCN mà không phải mọi chủ thể kinh doanh nói chung.

Chủ sở hữu hoặc người được sử dụng hợp pháp các đối tượng SHCN đã phải đầu tư thời gian, công sức, tiền bạc để có được các đối tượng sở hữu công nghiệp là các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp thu hút khách hàng bởi tính năng, công dụng, kiểu dáng sản phẩm hoặc các đối tượng SHCN là các chỉ dẫn thương mại như nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại... tạo được niềm tin, uy tín trong khách hàng. Hành vi lợi dụng các đối tượng SHCN để CTKLM một mặt gây thiệt hại cho khách hàng khi không lựa chọn đúng sản phẩm như mong muốn, mặt khác gây thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc người được sử dụng hợp pháp các đối tượng SHCN khi doanh nghiệp bị sụt giảm doanh thu do khách hàng bị nhầm lẫn mà mua hoặc sử dụng sản phẩm, dịch vụ tương tự khác; do những khẳng định sai lệch của chủ thể hành vi CTKLM làm mất uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng....

Căn cứ vào Công ước Paris, Hiệp định TRIPS, pháp luật của các quốc gia, trong đó có Việt Nam khá tương đồng trong việc xác định các loại hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN gồm: Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn; xâm phạm bí mật kinh doanh; sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng; hành vi đăng ký, chiếm giữ, sử dụng tên miền trái pháp luật.

2. Thực trạng quy định về thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam

2.1. Tòa án

Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại[5] do hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN gây ra có quyền yêu cầu Tòa án[6] áp dụng biện pháp dân sự. Các hình thức chế tài trong biện pháp dân sự được quy định tại Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Việc áp dụng biện pháp dân sự đối với hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN phải tuân theo thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định và những yêu cầu nhất định như[7]: Chủ thể yêu cầu áp dụng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ; nguyên tắc xác định thiệt hại; căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại… Áp dụng biện pháp dân sự là cách để cơ quan có thẩm quyền xác định mức thiệt hại và thực hiện các biện pháp cần thiết để buộc bên vi phạm phải đền bù đầy đủ cho chủ thể bị thiệt hại.

Pháp luật tố tụng Việt Nam hiện đã có quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung và xử lý các vụ CTKLM liên quan tới các đối tượng của quyền SHCN nói riêng.

Thực tiễn, ở các nước trên thế giới thì Toà án đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xử lý các vi phạm về SHTT nói chung và CTKLM liên quan đến SHCN nói riêng, nhưng ở Việt Nam thì vai trò của Tòa án còn hạn chế so với các cơ quan hành chính trong việc xử lý các vi phạm nêu trên.

Có nhiều nguyên nhân của tình trạng trên, nhưng tựu trung lại, có thể thấy các nguyên nhân khiến cho các vụ án liên quan đến quyền SHCN nói chung, CTKLM trong lĩnh vực SHCN nói riêng ít được xử lý bởi cơ quan Tòa án là:

- Thủ tục xử lý vi phạm quyền SHCN nói chung thông qua Tòa án hiện nay tốn rất nhiều thời gian và công sức của bên khởi kiện. Thời gian giải quyết một vụ việc tại Tòa án tính từ khi thụ lý đến khi có bản án, quyết định sơ thẩm và thời gian giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm đối với vụ án có kháng cáo, kháng nghị trung bình tại một cấp xét xử là từ 06 tháng đến 01 năm, có vụ phải xét xử nhiều lần nên thời gian giải quyết có thể kéo dài hơn 01 năm.

- Mức đền bù bồi thường thiệt hại do Tòa án đưa ra đôi khi thấp hơn nhiều so với thiệt hại thực tế, căn cứ xác định bồi thường thiệt hại không rõ ràng.

- Số lượng thẩm phán hiểu biết chuyên sâu về SHTT nói chung còn rất hạn chế. Các vụ việc liên quan đến CTKLM trong lĩnh vực SHCN thường mang tính chuyên môn rất cao, đòi hỏi những người xét xử phải thực sự có trình độ trong lĩnh vực này. Hiện nay, để đưa ra phán quyết, Tòa án còn phụ thuộc quá nhiều vào ý kiến của cơ quan chuyên môn.

- Hiện nay, tại Việt Nam vẫn chưa có Tòa án SHTT chuyên trách với các thủ tục xử lý tương ứng. Do đó, việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT nói chung, hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN nói riêng còn chưa hiệu quả.

- Khi hành vi xâm phạm quyền SHTT gây thiệt hại nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội đủ để cấu thành tội phạm thì chủ thể thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khoản 1 Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định: “Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác thì tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự”. Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 không quy định chủ thể quyền trong các vụ việc về CTKLM có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp hình sự để xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN[8]. Mặt khác, hiện nay, trong pháp luật cạnh tranh cũng như pháp luật hình sự của Việt Nam không có bất cứ quy định cụ thể nào về việc áp dụng những chế tài hình sự cho tội phạm thực hiện hành vi CTKLM nói chung và hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN nói riêng. Do đó, tính đến hiện tại chưa áp dụng biện pháp hình sự đối với hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN.

2.2. Cơ quan hành chính nhà nước

Trong số các biện pháp xử lý đối với hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN thì biện pháp hành chính thường xuyên được các chủ thể lựa chọn áp dụng. Một phần bởi các hình thức xử lý được quy định tương đối phong phú. Mặt khác, chúng lại được tiến hành khá nhanh gọn, đáp ứng kịp thời yêu cầu về thời gian để chủ thể quyền có thể khai thác hiệu quả các đối tượng SHCN của mình cũng như bảo đảm tính ổn định của hoạt động kinh doanh.

Điều 15 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN quy định thẩm quyền xử phạt đối với hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN của nhiều cơ quan hành chính nhà nước. Theo đó, Thanh tra Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ đạo có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đối với tất cả các hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN, các cơ quan hành chính khác trong phạm vi nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước của mình xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN tương ứng, như cơ quan quản lý thị trường có quyền xử lý đối với hành vi xảy ra trong hoạt động buôn bán, vận chuyển trên thị trường trong nước; cơ quan hải quan có quyền xử lý đối với hành vi xảy ra trong hoạt động quá cảnh, nhập khẩu hàng hóa; Ủy ban nhân dân có thẩm quyền xử lý đối với hành vi xảy ra trên địa bàn do Ủy ban nhân dân quản lý. Riêng Thanh tra Thông tin và Truyền thông có thẩm quyền xử lý đối với hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN đặc thù là hành vi đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại của người khác được bảo hộ nhằm chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.

Các chủ thể có thẩm quyền trên khi xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN tuân theo thủ tục xử phạt vi phạm hành chính quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, điểm c, điểm d khoản 2 Điều 49 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định cơ quan quản lý cạnh tranh có thẩm quyền điều tra, xử lý, xử phạt hành vi CTKLM nói chung, CTKLM trong lĩnh vực SHCN nói riêng.

Theo đánh giá chủ quan của Cục Quản lý cạnh tranh (nay là Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng), số lượng vụ việc CTKLM được Cục xử lý chưa nhiều là do một số nguyên nhân như: “Không thuộc chức năng, thẩm quyền của Cục Quản lý cạnh tranh; bên khiếu nại không bổ sung hồ sơ theo yêu cầu; các bên đã chủ động thỏa thuận và không tiếp tục cung cấp thông tin, tài liệu”[9].

Theo tác giả, ngoài những nguyên nhân trên, số lượng các vụ việc CTKLM trong lĩnh vực SHCN do Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng xử lý chưa nhiều còn do các nguyên nhân khác như:

Thứ nhất, thủ tục ra quyết định xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN do Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng thực hiện mất thời gian và phức tạp hơn so với các cơ quan hành chính nhà nước khác có thẩm quyền xử lý đối với hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN. Cùng hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN, theo Điều 136 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ, cơ quan quản lý cạnh tranh chỉ được ra quyết định xử lý hành vi CTKLM sau khi đã tiến hành điều tra và phải dựa trên nội dung điều tra chính thức, tức là vừa phải tuân theo thủ tục tố tụng cạnh tranh vừa tuân theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, trong khi các cơ quan có thẩm quyền khác chỉ cần tuân theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Thứ hai, cán bộ công tác tại Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng là những chuyên gia về xử lý các vụ CTKLM nói chung hơn là chuyên gia trong lĩnh vực SHCN như Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ. Trong khi các vụ việc CTKLM thuộc lĩnh vực SHCN, để điều tra, giải quyết, cần có chuyên gia về SHCN. Do đó, khi có vụ việc CTKLM trong lĩnh vực SHCN, để giải quyết được, Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng có thể phải chuyển vụ việc sang Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, có thể phải trưng cầu giám định SHCN.

Trường hợp các bên không nhất trí với quyết định xử phạt vi phạm hành chính có thể khiếu nại ra Tòa án, khi đó, việc xử lý tuân thủ quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010.

3. Một số giải pháp trong việc quy định thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

- Chuyển thẩm quyền xử lý hành chính hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp của Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng sang cơ quan chuyên môn về sở hữu công nghiệp (là Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ)

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, việc xử lý hành chính hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN được trao thẩm quyền cho nhiều cơ quan như: Cơ quan quản lý cạnh tranh, cơ quan chuyên môn về SHCN…

Theo quan điểm của chúng tôi, thẩm quyền xử lý hành chính hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN không nên giao cho cơ quan quản lý cạnh tranh mà tập trung vào cơ quan chuyên môn về SHCN (Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ)[10]. Vì việc quy định nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền trong việc xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN dẫn tới sự chồng chéo về thẩm quyền và đùn đẩy trách nhiệm trong việc giải quyết. Hơn nữa, xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN đòi hỏi các chủ thể phải có năng lực chuyên môn tốt về SHTT nói chung, SHCN nói riêng. Do đó, việc quy định cơ quan quản lý cạnh tranh có thẩm quyền giải quyết đối với hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN cũng cho thấy cơ quan này sẽ giải quyết không hiệu quả bằng cơ quan quản lý chuyên ngành đối với những hành vi CTKLM trong những lĩnh vực chuyên môn sâu như SHCN.

Việc giao thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN cho cơ quan quản lý cạnh tranh chỉ còn ý nghĩa về mặt hình thức, không đảm bảo hiệu quả. Trên thực tế, cùng một hành vi vi phạm, nếu giải quyết bởi cơ quan quản lý cạnh tranh phải trải qua thủ tục tố tụng cạnh tranh với các bước điều tra, xem xét, quyết định; trong khi cơ quan thanh tra khoa học công nghệ rút ngắn được rất nhiều thời gian với thủ tục xử lý vi phạm hành chính. Thực tế, từ năm 2009 đến năm 2016, Cục Quản lý cạnh tranh mới xử lý 03 vụ việc CTKLM trong lĩnh vực SHCN.

- Về lâu dài, chỉ giao thẩm quyền xử lý hành vi CTKLM nói chung, CTKLM trong lĩnh vực SHCN nói riêng cho Tòa án

Trong thời gian trước mắt, việc cơ quan hành chính xử lý vi phạm hành chính các vụ việc CTKLM trong lĩnh vực SHCN là vẫn rất cần thiết. Điều này do nhiều nguyên nhân như: Trình độ dân trí còn hạn chế, bên bị vi phạm chưa đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ chứng minh vụ việc tại Tòa; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của thẩm phán còn yếu kém hoặc hiệu lực thực thi phán quyết của Tòa án kém nhanh nhạy, hiệu quả so với các cơ quan hành chính nhà nước.

Tuy nhiên, về lâu dài, việc quy định thẩm quyền xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN cần xác định dựa trên bản chất của hành vi. Đây là hành vi xâm phạm lợi ích giữa các chủ thể, không phải là hành vi trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước. Do đó, để đảm bảo công bằng lợi ích của các bên, tranh chấp cần được giải quyết tại Tòa án theo thủ tục tố tụng hơn là giải quyết bởi cơ quan hành chính nhà nước. Việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN nên được giao cho Tòa án, đặc biệt là Tòa chuyên trách về SHTT. Mặt khác, nếu kéo dài việc giao cơ quan hành chính thẩm quyền xử lý hành vi CTKLM thì gia tăng gánh nặng cho Nhà nước trong việc duy trì đội ngũ thanh tra xử lý, trong khi đó với cơ quan tố tụng, các bên tham gia tố tụng phải chi trả án phí để giải quyết quyền lợi của mình.

ThS. Nguyễn Phương Thảo

Đại học Thành Tây

Tài liệu tham khảo:

[1]. Đặng Thị Hồng Tuyền, Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2013.

[2]. Đinh Thị Mai Phương, Về bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 84-85.

[3]. Điều 39, Điều 40 Luật Cạnh tranh năm 2004.

[4]. Http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=939.

[5]. Khoản 3 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và khoản 3 Điều 117 Luật Cạnh tranh năm 2004.

[6]. Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; các điều 30, 37, 38 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

7. Khoản 3 Điều 203, Điều 204, Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

[8]. Đặng Thị Hồng Tuyền, Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2013.

[9]. Cục Quản lý cạnh tranh (nay là Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng), Báo cáo thường niên năm 2016, truy cập ngày 27/11/2017, http://www.vca.gov.vn.

[10]. Dự thảo Luật Cạnh tranh sửa đổi, truy cập ngày 27/11/2017, http://duthaoonline.quochoi.vn/ DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1346&LanID=1438&TabIndex=1.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: