Thứ sáu 13/03/2026 12:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về sự lạm dụng quyền của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay

Bài viết tập trung phân tích, đánh giá các hành vi lạm dụng quyền của cổ đông trong hoạt động của công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay và đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm hạn chế hành vi này trong thực tiễn.

1. Vài nét khái quát về quyền cổ đông và sự thể hiện của quyền cổ đông

1.1. Khái niệm quyền cổ đông

Cổ đông trong công ty cổ phần (CTCP) thực hiện việc góp vốn mua số lượng cổ phần nhất định, tài sản vốn góp của cổ đông sẽ được chuyển sang công ty là chủ sở hữu. Hoạt động góp vốn “là việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền hưởng dụng một thứ tài sản để được hưởng các quyền lợi của công ty”[1]. Sau khi cổ đông góp vốn mua cổ phần, tài sản của công ty và tài sản của các cổ đông có sự tách bạch nhau, công ty với tư cách là chủ sở hữu các tài sản mà các sáng lập viên góp vào, vì vậy, nó là chủ thể của các quan hệ pháp luật - có tư cách pháp nhân.

Quyền cổ đông - có thể hiểu là quyền của chủ thể sở hữu cổ phần của CTCP, phát sinh từ việc chủ thể góp vốn mua cổ phần tạo nên vốn điều lệ. Theo đó, “các cổ đông mua cổ phần của công ty và điều này tạo nên nghĩa vụ của họ. Ngược lại, cổ phần tiêu biểu cho quyền lợi của họ trong công ty. Các quyền này bao gồm việc tham gia điều hành công ty, chia cổ tức, ưu tiên mua cổ phần mới phát hành và nhận lại một phần tài sản công ty”[2]. Cổ đông không có quyền trực tiếp chiếm hữu, sử dụng và định đoạt bất cứ tài sản nào của công ty, mà chỉ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình dựa trên việc sở hữu số lượng cổ phần nhất định theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ công ty.

Như vậy, quyền của cổ đông là một loại quyền đặc biệt được xác lập thông qua việc cổ đông sở hữu cổ phần và được thực hiện trên một chủ thể độc lập - pháp nhân CTCP. Số lượng cổ đông trong CTCP “có thể biến đổi hằng ngày, nhưng tài sản của công ty thì luôn luôn được duy trì trạng thái ổn định, trọn vẹn và ở trong quá trình vận hành để tăng thêm giá trị của nó”[3].

1.2. Sự thể hiện của quyền cổ đông

Cổ đông là người góp vốn để mua cổ phần của công ty, khi thực hiện góp vốn thì phải chuyển quyền sở hữu/quyền sử dụng tài sản góp vốn cho công ty. Cổ đông không phải là chủ sở hữu khối tài sản của công ty, cổ đông cũng không phải là chủ sở hữu của công ty. Cổ đông là chủ sở hữu của phần vốn cổ phần và thực hiện các quyền cổ đông trên cơ sở quyền sở hữu cổ phần của mình. Quyền cổ đông là một loại quyền đặc biệt vì được xác lập thông qua việc sở hữu cổ phần nhưng được thực hiện trên một chủ thể quan hệ pháp luật độc lập (pháp nhân công ty).

Quyền của cổ đông rất đa dạng và được gắn liền với tư cách thành viên công ty[4]. Nếu xem xét dưới khía cạnh kinh tế thì quyền cổ đông có thể được chia thành các nhóm quyền như:

- Nhóm quyền mang tính kinh tế của cổ đông, bao gồm những quyền mang lại cho cổ đông những lợi ích vật chất nhất định như: Quyền được hưởng cổ tức, quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán, quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần, quyền được phân chia tài sản khi công ty chấm dứt hoạt động và quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác.

- Nhóm quyền không có tính chất kinh tế của cổ đông là các “quyền phi kinh tế” hay các “quyền tham gia quản lý”, bao gồm: Quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), quyền tiếp cận thông tin, quyền triệu tập cuộc họp, quyền đề cử người quản lý, quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của ĐHĐCĐ, quyền khởi kiện người quản lý công ty. Khi thực hiện các quyền không mang tính kinh tế là biện pháp cần thiết để các cổ đông bảo đảm các quyền mang tính kinh tế của mình.

2. Các biểu hiện của hành vi lạm dụng quyền cổ đông

2.1. Sự lạm dụng đa số hoặc thiểu số

Trong CTCP, cổ đông lớn là cổ đông sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của một tổ chức phát hành[5]. Như vậy, cổ đông thiểu số có thể hiểu là cổ đông sở hữu dưới 5% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của một CTCP.

2.1.1. Sự lạm dụng đa số của cổ đông

Quyền của cổ đông có nhiều khả năng bị lạm dụng, nhất là quyền biểu quyết trong các cuộc họp ĐHĐCĐ. Về nguyên tắc, các cổ đông lớn phải có nghĩa vụ là không thực hiện quyền kiểm soát theo cách mà có thể đi ngược lại hoặc không xem xét đến lợi ích của cổ đông khác. Tuy vậy, trên thực tế, các hành vi lạm dụng thường được thực hiện bởi các cổ đông lớn đối với các cổ đông thiểu số, sự biểu hiện của lạm dụng đa số khi phiếu bầu của cổ đông lớn tạo ra cho chính họ một lợi thế hoặc một lợi ích, đồng thời gây bất lợi cho lợi ích của công ty hoặc chỉ dựa trên ý định ủng hộ lợi ích của cổ đông lớn gây bất lợi, tổn hại cho công ty hoặc các cổ đông khác.

Quyền đối với hoạt động quản lý công ty thuộc về số ít các cổ đông lớn, họ sẽ có động cơ để tối đa hóa giá trị công ty phục vụ lợi ích của chính mình. Mặt khác, “lợi ích từ hoạt động kinh doanh của công ty có khả năng bị phân phối không công bằng cho đa số các cổ đông nhỏ, sự lạm quyền của nhóm cổ đông chi phối có khả năng gây hại cho những cổ đông nhỏ còn lại”[6].

Các cổ đông lớn thường là giám đốc hoặc người quản lý của công ty, nhiệm vụ của họ đối với công ty hoặc các cổ đông khác thường với tư cách mà họ đang đảm nhiệm, thay vì là cổ đông lớn. Trên thực tế, một số cổ đông lớn có khuynh hướng thao túng việc quản trị, điều hành công ty, cũng như lạm dụng quyền cổ đông, thành viên lớn để loại bỏ hoặc ngăn cản thực hiện quyền của cổ đông thiểu số.

Bên cạnh đó, sự lạm dụng đa số còn thể hiện ở việc một số cổ đông lớn “bắt tay nhau” để thông qua một quyết định không vì lợi ích chung của công ty; các giao dịch nội bộ, các giao dịch với người có liên quan của công ty không được thông báo công khai hoặc thông báo không kịp thời đến các cổ đông thiểu số. Sự lạm dụng của cổ đông lớn “chỉ biểu hiện rõ nét khi có sự thay đổi chức năng, nếu quyết định chỉ vì quyền lợi ích kỷ trái ngược với quyền lợi công ty và thậm chí là dẫn đến việc hy sinh quyền lợi hợp pháp của các hội viên thiểu số”[7]. Hành vi của các cổ đông lớn lạm quyền làm ảnh hưởng đến lợi ích của công ty, vai trò cá nhân của cổ đông lớn ảnh hưởng gần như bao trùm cả Hội đồng quản trị cũng như cả công ty, trong khi vai trò của Ban kiểm soát lại “mờ nhạt” và bị vô hiệu hóa, các cổ đông nhỏ không dễ dàng để có ý kiến.

2.1.2. Sự lạm dụng thiểu số của cổ đông

Trên thực tế, sự lạm dụng thiểu số thể hiện ở việc các cổ đông thiểu số thường hành động với mục đích duy nhất phục vụ lợi ích của các cổ đông thiểu số và gây bất lợi cho lợi ích của công ty và của các cổ đông khác. Cổ đông thiểu số cũng có thể thực hiện các hành vi lạm dụng quyền biểu quyết của mình bằng việc cản trở quyết định của ĐHĐCĐ một cách vô lý, xâm phạm lợi ích của công ty. Các quyết định của ĐHĐCĐ phải đạt được tỷ lệ theo quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc điều lệ, vì vậy, cổ đông thiểu số có thể chống lại việc thông qua quyết định đó để không đạt được tỷ lệ tán thành. Một trong những hành vi lạm dụng thiểu số biểu hiện khi mà các cổ đông thiểu số “phản đối ba lần liên tiếp một quyết định tăng vốn một cách bức thiết để cứu vãn công ty”[8]. Trong nhiều trường hợp, hành vi lạm dụng cũng thể hiện ở những hoạt động với mục đích duy nhất là phục vụ lợi ích của các cổ đông thiểu số, gây bất lợi cho tất cả các cổ đông khác.

Trong một số trường hợp, các cổ đông thiểu số lạm dụng nhằm mục đích để phá rối, gây cản trở hoạt động bình thường của công ty. Cổ đông thiểu số còn thực hiện việc gửi thư đến nhiều cơ quan, báo chí làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của doanh nghiệp và có nguy cơ xâm phạm đến uy tín, quyền lợi của người quản lý hoặc của công ty.

2.2. Sự lạm dụng quyền tiếp cận thông tin của cổ đông

Quyền tiếp cận thông tin là một trong các quyền cơ bản và quan trọng của cổ đông trong CTCP. Quyền tiếp cận thông tin của cổ đông được hiểu là quyền được đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp các thông tin về hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính và những vấn đề liên quan của công ty. Xuất phát của quyền tiếp cận thông tin của cổ đông từ sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý công ty. Do đó, “cơ chế tiếp cận giám sát nguồn vốn được thiết lập thông qua quyền tiếp cận các thông tin về công ty, góp phần bảo đảm lợi ích của cổ đông, phòng ngừa hành vi tư lợi và lạm quyền của người quản lý”[9]. Pháp luật có vai trò quan trọng trong điều chỉnh việc tiếp cận những thông tin trong tương lai, góp phần hạn chế tình trạng cổ đông lớn sử dụng các thông tin chưa được công bố để thực hiện giao dịch chứng khoán, nhằm thu lợi bất chính, gây thiệt hại cho công ty hoặc cổ đông thiểu số.

Theo đó, một số thông tin phải được tiết lộ cho các cổ đông trước, trong và sau các cuộc họp cổ đông. Quyền đặt câu hỏi tại ĐHĐCĐ được ghi nhận cả với công ty niêm yết hoặc không niêm yết. Cổ đông có thể đặt câu hỏi trước bằng việc gửi câu hỏi hoặc đặt câu hỏi bằng miệng trong cuộc họp cổ đông. Các cổ đông thiểu số lạm dụng quyền đó để can thiệp quá mức vào việc chuẩn bị cuộc họp hoặc đặt ra các câu hỏi dẫn đến việc trả lời câu hỏi sẽ tiết lộ thông tin bí mật của công ty hoặc sử dụng cho các động cơ khác ngoài các nội dung của chương trình nghị sự được thông báo đến các cổ đông.

Thông thường, những nội dung và phạm vi quyền tiếp cận thông tin của cổ đông được điều chỉnh bởi các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 và điều lệ của công ty. Vấn đề đặt ra là, sau khi thực hiện quyền được tiếp cận các thông tin của công ty, các cổ đông sử dụng những thông tin đó như thế nào. Nếu cổ đông sử dụng các thông tin nhằm bảo đảm cho các quyền lợi hợp pháp của mình trong công ty, thì đó là yêu cầu hoàn toàn chính đáng. Pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu và các quyền phái sinh của quyền sở hữu của các chủ thể trong xã hội.

Về nguyên tắc, mọi cổ đông có quyền nhận được mọi thông tin về hoạt động của công ty mà họ quan tâm, bởi họ là chủ sở hữu số lượng cổ phần nhất định của công ty. Những người quản lý công ty có thể là cổ đông hoặc do chủ sở hữu công ty thuê để thực hiện công việc quản lý. Vì vậy, đôi khi những thông tin mà chủ sở hữu yêu cầu được cung cấp lại bị chính những người quản lý gây khó khăn, thậm chí là cản trở, trì hoãn.

Về lý thuyết, các thông tin mà cổ đông được cung cấp, tiếp cận thì “cổ đông không có bất kỳ nghĩa vụ bảo mật nào và cổ đông có thể chia sẻ thông tin với cổ đông khác hay bất kỳ bên thứ ba nào”[10]. Tuy vậy, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì nghĩa vụ của cổ đông phải “bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại điều lệ công ty và pháp luật; chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nghiêm cấm phát tán hoặc sao, gửi thông tin được công ty cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác”[11]. Đây cũng là điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 nhằm gắn nghĩa vụ bảo mật của cổ đông với các thông tin mà họ tiếp cận được do công ty cung cấp. Nếu cổ đông lạm dụng để sử dụng các thông tin làm ảnh hưởng xấu, xâm hại đến lợi ích của công ty hoặc của các cổ đông khác, thì đó là hành vi vi phạm nghĩa vụ của cổ đông. Cổ đông có quyền tiếp cận thông tin của công ty nhưng phải thực hiện nghĩa vụ trong việc sử dụng thông tin về công ty.

Ở nhiều nước, pháp luật quy định tương tự về vấn đề cổ đông có quyền được thông tin nhưng cổ đông phải có hành động “thiện chí và với mục đích chính đáng, có quyền xem xét và sao chép sổ biên bản, báo cáo kế toán và danh sách cổ đông của công ty. Mục đích chính đáng là mục đích giúp đỡ cổ đông trong việc quản lý và bảo vệ việc đầu tư của mình”[12].

2.3. Sự lạm dụng quyền khởi kiện của cổ đông

Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần phổ thông có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới đối với các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc để yêu cầu hoàn trả lợi ích hoặc bồi thường thiệt hại cho công ty hoặc người khác trong các trường hợp sau đây: (i) Vi phạm trách nhiệm của người quản lý công ty; (ii) Không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, thực hiện không kịp thời hoặc thực hiện trái với quy định của pháp luật hoặc điều lệ công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị đối với quyền và nghĩa vụ được giao; (iii) Lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; (iv) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty.

Bên cạnh việc mở rộng quyền được khởi kiện của các cổ đông, nhóm cổ đông trong công ty thì xuất hiện nguy cơ lạm dụng quyền đại diện tố tụng của cổ đông. Nguy cơ đó thể hiện ở chỗ nguyên đơn khởi kiện chưa chắc đã đại diện cho toàn thể cổ đông vì mục đích bảo vệ lợi ích của công ty. Nhiều vụ kiện của cổ đông không có cơ sở pháp lý. Trong các vụ việc lạm dụng quyền khởi kiện, động cơ của cổ đông thường có hai dạng: (i) Nhằm mục đích kinh tế, chẳng hạn như cổ đông bằng việc đưa ra ý kiến phản đối đến thành viên Hội đồng quản trị hy vọng sẽ thu lại được lợi ích kinh tế nào đó; (ii) Nhằm mục đích phi kinh tế, như bán danh, mở rộng quyền phát ngôn trong công ty[13]. Việc lạm dụng quyền khởi kiện của cổ đông vì lợi ích kinh tế hoặc phi kinh tế đều có thể gây ra sự bất tín nhiệm đối với công ty, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty.

3. Một số định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hành vi lạm dụng quyền của cổ đông trong công ty cổ phần

Một là, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần dự liệu các trường hợp về “lạm dụng đa số” của cổ đông lớn và “lạm dụng thiểu số” của cổ đông thiểu số trong quá trình thực hiện quyền biểu quyết của mình đối với các vấn đề của công ty để đạt được mục đích riêng, xâm hại đến lợi ích của công ty, của các cổ đông khác. Các quy định pháp luật cần cân đối quyền lợi hợp pháp của cổ đông lớn và cổ đông thiểu số với việc bảo đảm hoạt động kinh doanh, tránh tình trạng cổ đông lạm dụng các quy định pháp luật nhằm gây rối, ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.

Hai là, để hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện phái sinh của cổ đông “không thân thiện”, cũng như bảo đảm cho CTCP có cơ hội được đưa ra biện pháp phi tố tụng trước khi cổ đông nộp đơn khởi kiện, cần ban hành thủ tục kiện phái sinh. Có thể tham khảo cách tiếp cận của pháp luật Anh - Mỹ: (i) Bắt buộc cổ đông thông báo cho cơ quan quản lý CTCP về sai phạm để tạo điều kiện cho CTCP đưa ra biện pháp khắc phục cũng như trao quyền ưu tiên khởi kiện cho công ty tự mình khởi kiện người quản lý; (ii) Khi quá thời hạn mà CTCP không hồi đáp hoặc từ chối quyền ưu tiên khởi kiện của mình, cổ đông mới có thể nhân danh công ty khởi kiện[14]. Còn theo quy định của Luật Thương mại Nhật Bản, “trong trường hợp thành viên Hội đồng quản trị bị đại diện cổ đông khởi kiện, khi có yêu cầu của thành viên này về việc làm sáng tỏ việc cổ đông nguyên đơn phải đưa ra bảo đảm cho việc khởi kiện”[15]. Quy định này sẽ hạn chế khả năng cổ đông lạm dụng quyền khởi kiện nhằm mục đích cá nhân. Vì vậy, việc pháp luật hiện hành mở rộng quyền khởi kiện cho cổ đông nhưng cũng cần thiết phải đưa ra các quy định hạn chế quyền, để hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện của cổ đông gây ảnh hưởng đến lợi ích của công ty và cổ đông khác.

Ba là, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần điều chỉnh thỏa thuận cổ đông liên quan tới quyền biểu quyết như gộp quyền biểu quyết nhằm thể hiện ý chí chung về các vấn đề của công ty. Yếu tố then chốt để cân bằng quyền của đa số và quyền của thiểu số là tính hợp lý, thể hiện ở chỗ, đa số cổ đông có quyền quyết định nhưng thiểu số có quyền phản đối, phản biện. Theo đó, cần thiết hoàn thiện quy định về các cơ chế gộp, tập trung quyền biểu quyết của cổ đông thiểu số để đồng ý hoặc không đồng ý các vấn đề của công ty tại ĐHĐCĐ, cơ chế hạn chế quyền biểu quyết của cổ đông lớn tránh việc lạm quyền trong các quyết định, xâm hại đến các cổ đông thiểu số[16].

Bốn là, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần tiếp cận theo hướng quy định cổ đông có quyền được thông tin nhưng cổ đông phải có hành động “thiện chí và với mục đích chính đáng có quyền xem xét và sao chép sổ biên bản, báo cáo kế toán và danh sách cổ đông của công ty. Mục đích chính đáng là mục đích giúp đỡ cổ đông trong việc quản lý và bảo vệ việc đầu tư của mình”[17]. Quy định trên gợi mở cho các quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành trong việc gắn mục đích của việc yêu cầu cung cấp thông tin của cổ đông, dựa trên sự thiện chí và mục đích chính đáng thì người quản lý có thể cung cấp hoặc có thể từ chối cung cấp các thông tin. Đây cũng là cơ sở để lược bỏ quy định về tỷ lệ cổ phần mà cổ đông phải sở hữu tỷ lệ hoặc thời gian sở hữu nhằm bảo đảm tối đa quyền của cổ đông thiểu số trong CTCP[18].

Có thể nói, Luật Doanh nghiệp năm 2020 mặc dù đã chú trọng đến việc quy định tăng quyền của các cổ đông nhưng dường như vẫn chưa thực sự quan tâm đến việc “chống lại” các hành vi lạm dụng tiềm ẩn của quyền cổ đông trong CTCP. Trong thực tiễn, việc phát hiện, chứng minh hành vi lạm quyền của cổ đông không phải điều dễ dàng. Vì vậy, theo tác giả, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần tuân theo xu hướng mở rộng quyền của cổ đông nhằm bảo đảm tính dân chủ trong CTCP, đồng thời đưa ra các cơ chế để bảo đảm thực hiện các quyền đó trong chừng mực nhất định, hạn chế hành vi lạm dụng quyền cổ đông có thể phát sinh trong hoạt động kinh doanh của CTCP ở Việt Nam hiện nay./.

TS. Nguyễn Văn Lâm

Viện Kinh tế và Quản lý, Đại học Bách khoa Hà Nội

[1]. Nguyễn Văn Bình và Lê Thị Tý (1989) (dịch), Tổ chức công ty - Tập 1, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, tr. 51.

[2]. Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2013), Luật Doanh nghiệp: Vốn và quản lý trong công ty cổ phần, Nxb. Trẻ, tr. 67.

[3]. Ngô Viễn Phú (2003), Bàn về tính chất của quyền cổ đông, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (12), tháng 12, tr.53 - 58.

[4]. Nguyễn Mạnh Bách (2006), Các công ty thương mại, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, tr. 132.

[5]. Khoản 18 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019.

[6]. Lê Thanh Sơn, Đồng Thái Quang (2022), Giải pháp bảo vệ quyền của cổ đông trong công ty cổ phần, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 10 (458), tháng 5/2022.

[7]. Nguyễn Văn Bình, Lê Thị Tý (1989) (dịch), Tổ chức công ty - Tập 1, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, tr. 115.

[8]. Nguyễn Văn Bình, Lê Thị Tý (1989) (dịch), Tlđd, tr. 116

[9]. Phạm Hoàng Huấn (Chủ biên) (2017), Tranh chấp điển hình trong quản trị công ty, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 264.

[10]. Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về doanh nghiệp: Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân trí, tr. 275.

[11]. Khoản 5 Điều 119 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[12]. Bùi Ngọc Sơn (2011), Giáo trình Pháp luật doanh nghiệp, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 80.

[13]. Nguyễn Thị Lan Hương (2005), Đại diện tố tụng của cổ đông ở Nhật Bản, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (12), tr. 60.

[14]. Nguyễn Thị Thu Hương (2023), Bảo đảm quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tháng 11 (Số 393).

[15]. Khoản 2 Điều 106 và Điều 267 Luật Thương mại Nhật bản.

[16]. Nguyễn Văn Lâm (2022), Pháp luật về quyền biểu quyết của cổ đông và một số kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tháng 4 (378), tr. 25 - 30.

[17]. Bùi Ngọc Sơn (2011), Giáo trình Pháp luật doanh nghiệp, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 80.

[18]. Nguyễn Văn Lâm (2022), Bàn về các quyền không mang tính kinh tế của cổ đông, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tháng 10 (367), tr. 35 - 40.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 396), tháng 1/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: