Thứ sáu 06/11/2026 15:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về sự lạm dụng quyền của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay

Bài viết tập trung phân tích, đánh giá các hành vi lạm dụng quyền của cổ đông trong hoạt động của công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay và đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm hạn chế hành vi này trong thực tiễn.

1. Vài nét khái quát về quyền cổ đông và sự thể hiện của quyền cổ đông

1.1. Khái niệm quyền cổ đông

Cổ đông trong công ty cổ phần (CTCP) thực hiện việc góp vốn mua số lượng cổ phần nhất định, tài sản vốn góp của cổ đông sẽ được chuyển sang công ty là chủ sở hữu. Hoạt động góp vốn “là việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền hưởng dụng một thứ tài sản để được hưởng các quyền lợi của công ty”[1]. Sau khi cổ đông góp vốn mua cổ phần, tài sản của công ty và tài sản của các cổ đông có sự tách bạch nhau, công ty với tư cách là chủ sở hữu các tài sản mà các sáng lập viên góp vào, vì vậy, nó là chủ thể của các quan hệ pháp luật - có tư cách pháp nhân.

Quyền cổ đông - có thể hiểu là quyền của chủ thể sở hữu cổ phần của CTCP, phát sinh từ việc chủ thể góp vốn mua cổ phần tạo nên vốn điều lệ. Theo đó, “các cổ đông mua cổ phần của công ty và điều này tạo nên nghĩa vụ của họ. Ngược lại, cổ phần tiêu biểu cho quyền lợi của họ trong công ty. Các quyền này bao gồm việc tham gia điều hành công ty, chia cổ tức, ưu tiên mua cổ phần mới phát hành và nhận lại một phần tài sản công ty”[2]. Cổ đông không có quyền trực tiếp chiếm hữu, sử dụng và định đoạt bất cứ tài sản nào của công ty, mà chỉ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình dựa trên việc sở hữu số lượng cổ phần nhất định theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ công ty.

Như vậy, quyền của cổ đông là một loại quyền đặc biệt được xác lập thông qua việc cổ đông sở hữu cổ phần và được thực hiện trên một chủ thể độc lập - pháp nhân CTCP. Số lượng cổ đông trong CTCP “có thể biến đổi hằng ngày, nhưng tài sản của công ty thì luôn luôn được duy trì trạng thái ổn định, trọn vẹn và ở trong quá trình vận hành để tăng thêm giá trị của nó”[3].

1.2. Sự thể hiện của quyền cổ đông

Cổ đông là người góp vốn để mua cổ phần của công ty, khi thực hiện góp vốn thì phải chuyển quyền sở hữu/quyền sử dụng tài sản góp vốn cho công ty. Cổ đông không phải là chủ sở hữu khối tài sản của công ty, cổ đông cũng không phải là chủ sở hữu của công ty. Cổ đông là chủ sở hữu của phần vốn cổ phần và thực hiện các quyền cổ đông trên cơ sở quyền sở hữu cổ phần của mình. Quyền cổ đông là một loại quyền đặc biệt vì được xác lập thông qua việc sở hữu cổ phần nhưng được thực hiện trên một chủ thể quan hệ pháp luật độc lập (pháp nhân công ty).

Quyền của cổ đông rất đa dạng và được gắn liền với tư cách thành viên công ty[4]. Nếu xem xét dưới khía cạnh kinh tế thì quyền cổ đông có thể được chia thành các nhóm quyền như:

- Nhóm quyền mang tính kinh tế của cổ đông, bao gồm những quyền mang lại cho cổ đông những lợi ích vật chất nhất định như: Quyền được hưởng cổ tức, quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán, quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần, quyền được phân chia tài sản khi công ty chấm dứt hoạt động và quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác.

- Nhóm quyền không có tính chất kinh tế của cổ đông là các “quyền phi kinh tế” hay các “quyền tham gia quản lý”, bao gồm: Quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), quyền tiếp cận thông tin, quyền triệu tập cuộc họp, quyền đề cử người quản lý, quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của ĐHĐCĐ, quyền khởi kiện người quản lý công ty. Khi thực hiện các quyền không mang tính kinh tế là biện pháp cần thiết để các cổ đông bảo đảm các quyền mang tính kinh tế của mình.

2. Các biểu hiện của hành vi lạm dụng quyền cổ đông

2.1. Sự lạm dụng đa số hoặc thiểu số

Trong CTCP, cổ đông lớn là cổ đông sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của một tổ chức phát hành[5]. Như vậy, cổ đông thiểu số có thể hiểu là cổ đông sở hữu dưới 5% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của một CTCP.

2.1.1. Sự lạm dụng đa số của cổ đông

Quyền của cổ đông có nhiều khả năng bị lạm dụng, nhất là quyền biểu quyết trong các cuộc họp ĐHĐCĐ. Về nguyên tắc, các cổ đông lớn phải có nghĩa vụ là không thực hiện quyền kiểm soát theo cách mà có thể đi ngược lại hoặc không xem xét đến lợi ích của cổ đông khác. Tuy vậy, trên thực tế, các hành vi lạm dụng thường được thực hiện bởi các cổ đông lớn đối với các cổ đông thiểu số, sự biểu hiện của lạm dụng đa số khi phiếu bầu của cổ đông lớn tạo ra cho chính họ một lợi thế hoặc một lợi ích, đồng thời gây bất lợi cho lợi ích của công ty hoặc chỉ dựa trên ý định ủng hộ lợi ích của cổ đông lớn gây bất lợi, tổn hại cho công ty hoặc các cổ đông khác.

Quyền đối với hoạt động quản lý công ty thuộc về số ít các cổ đông lớn, họ sẽ có động cơ để tối đa hóa giá trị công ty phục vụ lợi ích của chính mình. Mặt khác, “lợi ích từ hoạt động kinh doanh của công ty có khả năng bị phân phối không công bằng cho đa số các cổ đông nhỏ, sự lạm quyền của nhóm cổ đông chi phối có khả năng gây hại cho những cổ đông nhỏ còn lại”[6].

Các cổ đông lớn thường là giám đốc hoặc người quản lý của công ty, nhiệm vụ của họ đối với công ty hoặc các cổ đông khác thường với tư cách mà họ đang đảm nhiệm, thay vì là cổ đông lớn. Trên thực tế, một số cổ đông lớn có khuynh hướng thao túng việc quản trị, điều hành công ty, cũng như lạm dụng quyền cổ đông, thành viên lớn để loại bỏ hoặc ngăn cản thực hiện quyền của cổ đông thiểu số.

Bên cạnh đó, sự lạm dụng đa số còn thể hiện ở việc một số cổ đông lớn “bắt tay nhau” để thông qua một quyết định không vì lợi ích chung của công ty; các giao dịch nội bộ, các giao dịch với người có liên quan của công ty không được thông báo công khai hoặc thông báo không kịp thời đến các cổ đông thiểu số. Sự lạm dụng của cổ đông lớn “chỉ biểu hiện rõ nét khi có sự thay đổi chức năng, nếu quyết định chỉ vì quyền lợi ích kỷ trái ngược với quyền lợi công ty và thậm chí là dẫn đến việc hy sinh quyền lợi hợp pháp của các hội viên thiểu số”[7]. Hành vi của các cổ đông lớn lạm quyền làm ảnh hưởng đến lợi ích của công ty, vai trò cá nhân của cổ đông lớn ảnh hưởng gần như bao trùm cả Hội đồng quản trị cũng như cả công ty, trong khi vai trò của Ban kiểm soát lại “mờ nhạt” và bị vô hiệu hóa, các cổ đông nhỏ không dễ dàng để có ý kiến.

2.1.2. Sự lạm dụng thiểu số của cổ đông

Trên thực tế, sự lạm dụng thiểu số thể hiện ở việc các cổ đông thiểu số thường hành động với mục đích duy nhất phục vụ lợi ích của các cổ đông thiểu số và gây bất lợi cho lợi ích của công ty và của các cổ đông khác. Cổ đông thiểu số cũng có thể thực hiện các hành vi lạm dụng quyền biểu quyết của mình bằng việc cản trở quyết định của ĐHĐCĐ một cách vô lý, xâm phạm lợi ích của công ty. Các quyết định của ĐHĐCĐ phải đạt được tỷ lệ theo quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc điều lệ, vì vậy, cổ đông thiểu số có thể chống lại việc thông qua quyết định đó để không đạt được tỷ lệ tán thành. Một trong những hành vi lạm dụng thiểu số biểu hiện khi mà các cổ đông thiểu số “phản đối ba lần liên tiếp một quyết định tăng vốn một cách bức thiết để cứu vãn công ty”[8]. Trong nhiều trường hợp, hành vi lạm dụng cũng thể hiện ở những hoạt động với mục đích duy nhất là phục vụ lợi ích của các cổ đông thiểu số, gây bất lợi cho tất cả các cổ đông khác.

Trong một số trường hợp, các cổ đông thiểu số lạm dụng nhằm mục đích để phá rối, gây cản trở hoạt động bình thường của công ty. Cổ đông thiểu số còn thực hiện việc gửi thư đến nhiều cơ quan, báo chí làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của doanh nghiệp và có nguy cơ xâm phạm đến uy tín, quyền lợi của người quản lý hoặc của công ty.

2.2. Sự lạm dụng quyền tiếp cận thông tin của cổ đông

Quyền tiếp cận thông tin là một trong các quyền cơ bản và quan trọng của cổ đông trong CTCP. Quyền tiếp cận thông tin của cổ đông được hiểu là quyền được đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp các thông tin về hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính và những vấn đề liên quan của công ty. Xuất phát của quyền tiếp cận thông tin của cổ đông từ sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý công ty. Do đó, “cơ chế tiếp cận giám sát nguồn vốn được thiết lập thông qua quyền tiếp cận các thông tin về công ty, góp phần bảo đảm lợi ích của cổ đông, phòng ngừa hành vi tư lợi và lạm quyền của người quản lý”[9]. Pháp luật có vai trò quan trọng trong điều chỉnh việc tiếp cận những thông tin trong tương lai, góp phần hạn chế tình trạng cổ đông lớn sử dụng các thông tin chưa được công bố để thực hiện giao dịch chứng khoán, nhằm thu lợi bất chính, gây thiệt hại cho công ty hoặc cổ đông thiểu số.

Theo đó, một số thông tin phải được tiết lộ cho các cổ đông trước, trong và sau các cuộc họp cổ đông. Quyền đặt câu hỏi tại ĐHĐCĐ được ghi nhận cả với công ty niêm yết hoặc không niêm yết. Cổ đông có thể đặt câu hỏi trước bằng việc gửi câu hỏi hoặc đặt câu hỏi bằng miệng trong cuộc họp cổ đông. Các cổ đông thiểu số lạm dụng quyền đó để can thiệp quá mức vào việc chuẩn bị cuộc họp hoặc đặt ra các câu hỏi dẫn đến việc trả lời câu hỏi sẽ tiết lộ thông tin bí mật của công ty hoặc sử dụng cho các động cơ khác ngoài các nội dung của chương trình nghị sự được thông báo đến các cổ đông.

Thông thường, những nội dung và phạm vi quyền tiếp cận thông tin của cổ đông được điều chỉnh bởi các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 và điều lệ của công ty. Vấn đề đặt ra là, sau khi thực hiện quyền được tiếp cận các thông tin của công ty, các cổ đông sử dụng những thông tin đó như thế nào. Nếu cổ đông sử dụng các thông tin nhằm bảo đảm cho các quyền lợi hợp pháp của mình trong công ty, thì đó là yêu cầu hoàn toàn chính đáng. Pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu và các quyền phái sinh của quyền sở hữu của các chủ thể trong xã hội.

Về nguyên tắc, mọi cổ đông có quyền nhận được mọi thông tin về hoạt động của công ty mà họ quan tâm, bởi họ là chủ sở hữu số lượng cổ phần nhất định của công ty. Những người quản lý công ty có thể là cổ đông hoặc do chủ sở hữu công ty thuê để thực hiện công việc quản lý. Vì vậy, đôi khi những thông tin mà chủ sở hữu yêu cầu được cung cấp lại bị chính những người quản lý gây khó khăn, thậm chí là cản trở, trì hoãn.

Về lý thuyết, các thông tin mà cổ đông được cung cấp, tiếp cận thì “cổ đông không có bất kỳ nghĩa vụ bảo mật nào và cổ đông có thể chia sẻ thông tin với cổ đông khác hay bất kỳ bên thứ ba nào”[10]. Tuy vậy, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì nghĩa vụ của cổ đông phải “bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại điều lệ công ty và pháp luật; chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nghiêm cấm phát tán hoặc sao, gửi thông tin được công ty cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác”[11]. Đây cũng là điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 nhằm gắn nghĩa vụ bảo mật của cổ đông với các thông tin mà họ tiếp cận được do công ty cung cấp. Nếu cổ đông lạm dụng để sử dụng các thông tin làm ảnh hưởng xấu, xâm hại đến lợi ích của công ty hoặc của các cổ đông khác, thì đó là hành vi vi phạm nghĩa vụ của cổ đông. Cổ đông có quyền tiếp cận thông tin của công ty nhưng phải thực hiện nghĩa vụ trong việc sử dụng thông tin về công ty.

Ở nhiều nước, pháp luật quy định tương tự về vấn đề cổ đông có quyền được thông tin nhưng cổ đông phải có hành động “thiện chí và với mục đích chính đáng, có quyền xem xét và sao chép sổ biên bản, báo cáo kế toán và danh sách cổ đông của công ty. Mục đích chính đáng là mục đích giúp đỡ cổ đông trong việc quản lý và bảo vệ việc đầu tư của mình”[12].

2.3. Sự lạm dụng quyền khởi kiện của cổ đông

Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần phổ thông có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới đối với các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc để yêu cầu hoàn trả lợi ích hoặc bồi thường thiệt hại cho công ty hoặc người khác trong các trường hợp sau đây: (i) Vi phạm trách nhiệm của người quản lý công ty; (ii) Không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, thực hiện không kịp thời hoặc thực hiện trái với quy định của pháp luật hoặc điều lệ công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị đối với quyền và nghĩa vụ được giao; (iii) Lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; (iv) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty.

Bên cạnh việc mở rộng quyền được khởi kiện của các cổ đông, nhóm cổ đông trong công ty thì xuất hiện nguy cơ lạm dụng quyền đại diện tố tụng của cổ đông. Nguy cơ đó thể hiện ở chỗ nguyên đơn khởi kiện chưa chắc đã đại diện cho toàn thể cổ đông vì mục đích bảo vệ lợi ích của công ty. Nhiều vụ kiện của cổ đông không có cơ sở pháp lý. Trong các vụ việc lạm dụng quyền khởi kiện, động cơ của cổ đông thường có hai dạng: (i) Nhằm mục đích kinh tế, chẳng hạn như cổ đông bằng việc đưa ra ý kiến phản đối đến thành viên Hội đồng quản trị hy vọng sẽ thu lại được lợi ích kinh tế nào đó; (ii) Nhằm mục đích phi kinh tế, như bán danh, mở rộng quyền phát ngôn trong công ty[13]. Việc lạm dụng quyền khởi kiện của cổ đông vì lợi ích kinh tế hoặc phi kinh tế đều có thể gây ra sự bất tín nhiệm đối với công ty, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty.

3. Một số định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hành vi lạm dụng quyền của cổ đông trong công ty cổ phần

Một là, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần dự liệu các trường hợp về “lạm dụng đa số” của cổ đông lớn và “lạm dụng thiểu số” của cổ đông thiểu số trong quá trình thực hiện quyền biểu quyết của mình đối với các vấn đề của công ty để đạt được mục đích riêng, xâm hại đến lợi ích của công ty, của các cổ đông khác. Các quy định pháp luật cần cân đối quyền lợi hợp pháp của cổ đông lớn và cổ đông thiểu số với việc bảo đảm hoạt động kinh doanh, tránh tình trạng cổ đông lạm dụng các quy định pháp luật nhằm gây rối, ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.

Hai là, để hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện phái sinh của cổ đông “không thân thiện”, cũng như bảo đảm cho CTCP có cơ hội được đưa ra biện pháp phi tố tụng trước khi cổ đông nộp đơn khởi kiện, cần ban hành thủ tục kiện phái sinh. Có thể tham khảo cách tiếp cận của pháp luật Anh - Mỹ: (i) Bắt buộc cổ đông thông báo cho cơ quan quản lý CTCP về sai phạm để tạo điều kiện cho CTCP đưa ra biện pháp khắc phục cũng như trao quyền ưu tiên khởi kiện cho công ty tự mình khởi kiện người quản lý; (ii) Khi quá thời hạn mà CTCP không hồi đáp hoặc từ chối quyền ưu tiên khởi kiện của mình, cổ đông mới có thể nhân danh công ty khởi kiện[14]. Còn theo quy định của Luật Thương mại Nhật Bản, “trong trường hợp thành viên Hội đồng quản trị bị đại diện cổ đông khởi kiện, khi có yêu cầu của thành viên này về việc làm sáng tỏ việc cổ đông nguyên đơn phải đưa ra bảo đảm cho việc khởi kiện”[15]. Quy định này sẽ hạn chế khả năng cổ đông lạm dụng quyền khởi kiện nhằm mục đích cá nhân. Vì vậy, việc pháp luật hiện hành mở rộng quyền khởi kiện cho cổ đông nhưng cũng cần thiết phải đưa ra các quy định hạn chế quyền, để hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện của cổ đông gây ảnh hưởng đến lợi ích của công ty và cổ đông khác.

Ba là, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần điều chỉnh thỏa thuận cổ đông liên quan tới quyền biểu quyết như gộp quyền biểu quyết nhằm thể hiện ý chí chung về các vấn đề của công ty. Yếu tố then chốt để cân bằng quyền của đa số và quyền của thiểu số là tính hợp lý, thể hiện ở chỗ, đa số cổ đông có quyền quyết định nhưng thiểu số có quyền phản đối, phản biện. Theo đó, cần thiết hoàn thiện quy định về các cơ chế gộp, tập trung quyền biểu quyết của cổ đông thiểu số để đồng ý hoặc không đồng ý các vấn đề của công ty tại ĐHĐCĐ, cơ chế hạn chế quyền biểu quyết của cổ đông lớn tránh việc lạm quyền trong các quyết định, xâm hại đến các cổ đông thiểu số[16].

Bốn là, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần tiếp cận theo hướng quy định cổ đông có quyền được thông tin nhưng cổ đông phải có hành động “thiện chí và với mục đích chính đáng có quyền xem xét và sao chép sổ biên bản, báo cáo kế toán và danh sách cổ đông của công ty. Mục đích chính đáng là mục đích giúp đỡ cổ đông trong việc quản lý và bảo vệ việc đầu tư của mình”[17]. Quy định trên gợi mở cho các quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành trong việc gắn mục đích của việc yêu cầu cung cấp thông tin của cổ đông, dựa trên sự thiện chí và mục đích chính đáng thì người quản lý có thể cung cấp hoặc có thể từ chối cung cấp các thông tin. Đây cũng là cơ sở để lược bỏ quy định về tỷ lệ cổ phần mà cổ đông phải sở hữu tỷ lệ hoặc thời gian sở hữu nhằm bảo đảm tối đa quyền của cổ đông thiểu số trong CTCP[18].

Có thể nói, Luật Doanh nghiệp năm 2020 mặc dù đã chú trọng đến việc quy định tăng quyền của các cổ đông nhưng dường như vẫn chưa thực sự quan tâm đến việc “chống lại” các hành vi lạm dụng tiềm ẩn của quyền cổ đông trong CTCP. Trong thực tiễn, việc phát hiện, chứng minh hành vi lạm quyền của cổ đông không phải điều dễ dàng. Vì vậy, theo tác giả, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần tuân theo xu hướng mở rộng quyền của cổ đông nhằm bảo đảm tính dân chủ trong CTCP, đồng thời đưa ra các cơ chế để bảo đảm thực hiện các quyền đó trong chừng mực nhất định, hạn chế hành vi lạm dụng quyền cổ đông có thể phát sinh trong hoạt động kinh doanh của CTCP ở Việt Nam hiện nay./.

TS. Nguyễn Văn Lâm

Viện Kinh tế và Quản lý, Đại học Bách khoa Hà Nội

[1]. Nguyễn Văn Bình và Lê Thị Tý (1989) (dịch), Tổ chức công ty - Tập 1, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, tr. 51.

[2]. Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2013), Luật Doanh nghiệp: Vốn và quản lý trong công ty cổ phần, Nxb. Trẻ, tr. 67.

[3]. Ngô Viễn Phú (2003), Bàn về tính chất của quyền cổ đông, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (12), tháng 12, tr.53 - 58.

[4]. Nguyễn Mạnh Bách (2006), Các công ty thương mại, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, tr. 132.

[5]. Khoản 18 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019.

[6]. Lê Thanh Sơn, Đồng Thái Quang (2022), Giải pháp bảo vệ quyền của cổ đông trong công ty cổ phần, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 10 (458), tháng 5/2022.

[7]. Nguyễn Văn Bình, Lê Thị Tý (1989) (dịch), Tổ chức công ty - Tập 1, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, tr. 115.

[8]. Nguyễn Văn Bình, Lê Thị Tý (1989) (dịch), Tlđd, tr. 116

[9]. Phạm Hoàng Huấn (Chủ biên) (2017), Tranh chấp điển hình trong quản trị công ty, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 264.

[10]. Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về doanh nghiệp: Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân trí, tr. 275.

[11]. Khoản 5 Điều 119 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[12]. Bùi Ngọc Sơn (2011), Giáo trình Pháp luật doanh nghiệp, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 80.

[13]. Nguyễn Thị Lan Hương (2005), Đại diện tố tụng của cổ đông ở Nhật Bản, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (12), tr. 60.

[14]. Nguyễn Thị Thu Hương (2023), Bảo đảm quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tháng 11 (Số 393).

[15]. Khoản 2 Điều 106 và Điều 267 Luật Thương mại Nhật bản.

[16]. Nguyễn Văn Lâm (2022), Pháp luật về quyền biểu quyết của cổ đông và một số kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tháng 4 (378), tr. 25 - 30.

[17]. Bùi Ngọc Sơn (2011), Giáo trình Pháp luật doanh nghiệp, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 80.

[18]. Nguyễn Văn Lâm (2022), Bàn về các quyền không mang tính kinh tế của cổ đông, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tháng 10 (367), tr. 35 - 40.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 396), tháng 1/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Tóm tắt: Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính là một trong những nội dung quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[I] và các văn bản quy định chi tiết. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính còn một số bất cập, gồm: thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật; thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay chưa được quy định đầy đủ; quy định về giao quyền xử phạt còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu phân tích những bất cập này, từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.
Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, thường gọi là “bỏ cọc”, đang được xử lý chủ yếu bằng cách tăng mức tiền đặt trước và áp dụng chế tài cấm tham gia đấu giá. Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án, nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của khoản tiền đặt trước; tiêu chí phân định tranh chấp dân sự và hành chính; căn cứ xem xét quyết định hủy quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá; yêu cầu kiểm soát tư pháp đối với quyết định cấm tham gia đấu giá và trách nhiệm tài sản của các bên. Trên cơ sở đánh giá dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (dự thảo Luật), nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án theo hướng chế tài được áp dụng thống nhất và chịu sự kiểm soát của Tòa án.
Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 lần đầu định danh hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất nhưng chưa thiết lập cơ chế điều chỉnh tương ứng. Nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của quan hệ này; từ đó, chỉ ra 04 hạn chế của pháp luật hiện hành: (i) quyền hợp tác chưa rõ ràng, minh bạch cho cá nhân sử dụng đất; (ii) chưa xác định rõ phạm vi quyền sử dụng đất được đưa vào hợp tác; (iii) chưa có điều kiện thực hiện riêng; (iv) chưa xác định đầy đủ hệ quả pháp lý. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) (dự thảo Luật) đã có một số điều chỉnh, nhưng chưa khắc phục triệt để những bất cập này. Nghiên cứu đề xuất ghi nhận hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất thành quyền độc lập kèm theo tiêu chí xác định quan hệ theo bản chất, xác định rõ nhóm người sử dụng đất được thực hiện quyền, bổ sung điều kiện thực hiện phù hợp với đặc điểm không làm chuyển dịch quyền sử dụng đất, thiết lập cơ chế đăng ký, công khai quan hệ hợp tác gắn với việc xác định hiệu lực đối với người thứ ba và nguyên tắc bảo vệ các quyền có liên quan.
Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Tóm tắt: Quyền bề mặt được Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận là quyền khác đối với tài sản, cho phép chủ thể khai thác mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của chủ thể khác. Đây là thiết chế có tiềm năng phân tách quyền khai thác không gian khỏi quyền sử dụng đất, huy động vốn đầu tư và phát triển bất động sản theo chiều cao, chiều sâu và đa công năng. Tuy nhiên, hiện, các quy định pháp luật chủ yếu dừng ở mức khái quát, chưa hình thành cơ chế pháp lý đồng bộ về xác lập, đăng ký, công khai hóa, hiệu lực đối kháng, giao dịch, thế chấp, định giá, bảo vệ quyền và xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt. Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn đã tạo nền tảng mới về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai, nhưng chưa trực tiếp thiết lập thủ tục đăng ký quyền bề mặt. Nghiên cứu phân tích bản chất và vai trò của quyền bề mặt, đánh giá những khoảng trống của pháp luật Việt Nam, tham chiếu kinh nghiệm của một số quốc gia và đề xuất mô hình hoàn thiện theo hướng: thừa nhận đầy đủ tính chất vật quyền; kiến nghị sửa đổi Điều 269 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng lấy đăng ký làm điều kiện đối kháng, kèm theo quy định chuyển tiếp; mô tả đối tượng theo không gian ba chiều; bảo đảm khả năng chuyển giao, thế chấp và tài trợ dự án; đồng thời, cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất, chủ thể quyền bề mặt, nhà đầu tư và người thứ ba.
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tóm tắt: Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn một số bất cập, chồng chéo giữa các đạo luật về thẩm quyền, thủ tục, khiếu nại và kỹ thuật lập pháp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật. Nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng; từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định này trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Tóm tắt: Dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật[1] (dự thảo Luật) tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách, trong đó, chú trọng xác định vấn đề, mục tiêu, giải pháp, đánh giá tác động chính sách và bổ sung cơ chế đánh giá kết quả thực hiện sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích Chính sách 3 về đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật[2], đánh giá khả năng điều chỉnh kịp thời các quy định pháp luật trước những thay đổi của thực tiễn và việc sử dụng kết quả thi hành pháp luật để tiếp tục hoàn thiện chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, cơ chế theo dõi, đánh giá và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn thi hành chưa được quy định đầy đủ; bên cạnh đó, một số quy định còn thiếu thống nhất về phạm vi điều chỉnh, thuật ngữ và thẩm quyền. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng và đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm việc sửa đổi, bổ sung pháp luật được thực hiện kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn mà không làm gia tăng thủ tục.
Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng hiện nay, việc nghiên cứu di sản lập pháp truyền thống mang ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu phân tích Điều luật[I] “Quan lại nhận tiền của” thuộc Chương IX (Nhận hối lộ) trong Hoàng Việt luật lệ[II] nhằm làm rõ tư duy lập pháp và giá trị lịch sử của Điều luật. Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích Điều luật “Quan lại nhận tiền của”, đồng thời, so sánh với Quốc triều Hình luật, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Bộ luật Hình sự năm 2015[III]. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sử liệu học để thu thập tư liệu cổ luật; các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ các yếu tố cấu thành, giá trị, giới hạn lịch sử, đồng thời, so sánh Điều luật này với các quy định có liên quan. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.
Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: