Chủ nhật 26/07/2026 08:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các yếu tố và điều kiện đảm bảo thi hành kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam

Trên thực tế việc thực hiện pháp luật về giám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội đã đạt được nhiều thành tựu. Qua giám sát và kết luận giám sát đã đưa ra nhiều kiến nghị đóng góp vào hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng

Việc đảm bảo thi hành các kết luận giám sát của Quốc hội còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Bài viết đã có những phân tích, đánh giá về các yếu tố và điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của kết luật giám sát của Quốc hội

Trên thực tế việc thực hiện pháp luật về giám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội đã đạt được nhiều thành tựu. Qua giám sát và kết luận giám sát đã đưa ra nhiều kiến nghị đóng góp vào hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế, chính sách và quản lý điều hành kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, được dư luận và nhân dân đồng tình, ủng hộ, quan tâm, đánh giá cao, qua đó góp phần nâng cao vai trò, uy tín, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là hoạt động giám sát của Quốc hội. Tuy nhiên, việc đảm bảo thi hành các kết luận giám sát của Quốc hội còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao. Có nhiều nguyên nhân của tình trạng trên, trong đó quy định về các yếu tố, điều kiện để đảm bảo thi hành các kết luận giám sát đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội. Cụ thể như sau:

Một là, khung pháp lý rõ ràng, cụ thể để triển khai thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội

Để các kết luận giám sát được thực hiện nghiêm túc, triệt để, đồng thời là cơ sở để xác định trách nhiệm về pháp lý trong việc xử lý đối với kết quả thực hiện kết luận giám sát là điều kiện mang tính tiên quyết, đặc biệt quan trọng. Khung pháp lý trong điều chỉnh vấn đề triển khai thực hiện kết luận giám sát càng đầy đủ, chặt chẽ và hợp lý sẽ là khung nền đảm bảo các đơn vị, cá nhân được giao nhiệm vụ thực hiện kết luận giám sát chấp hành, không có sự né tránh, làm giảm tối đa tình trạng làm việc hời hợt, coi giám sát xong là xong. Khung pháp lý chính là định hướng về mặt pháp lý để các kết luận giám sát được thực hiện triệt để, đúng nội dung, trình tự, thủ tục, tránh tình trạng làm nhưng không rõ phải làm như thế nào, báo cáo đến đâu, không rõ về cơ chế giám sát sau kết luận. Khung pháp lý vững chắc, đồng bộ là nền tảng có tác dụng răn đe đối với các trường hợp cố tình thực hiện các hành vi trái luật, không thực hiện hoặc tìm cách lách luật trong thực hiện các kết luận giám sát đã được ban hành. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để Quốc hội, các cơ quan chuyên môn thực hiện giám sát, đại biểu Quốc hội xem xét mức độ thực hiện đối với các kết luận đã được mình đưa ra. Là cơ sở, căn cứ để Quốc hội, các cơ quan tố tụng xem xét, đánh giá mức độ chấp hành pháp luật, xử lý đối với các trường hợp sai phạm liên quan đến việc thực hiện công tác điều hành, quản lý, chấp hành các kết luận giám sát. Tại khoản 4, Điều 7 Luật Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 xác định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có hành vi cản trở hoặc không thực hiện nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị của chủ thể giám sát thì chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và người có liên quan”. Đây chính là cơ sở quan trọng, đi kèm các văn bản luật khác để xử lý về mặt pháp lý đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân không chấp hành, không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc, thiếu đầy đủ các kết luận giám sát đã được đưa ra.

Hai là, xác định rõ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cơ quan, tổ chức, các vị trí chức vụ, chức danh cụ thể trong việc thi hành các kết luận giám sát

Một vấn đề tồn tại trước đây là sau khi có kết luận giám sát, chưa có cơ chế thực sự rõ ràng trong công tác giám sát, theo dõi kết luận giám sát, hoặc có xác định nhưng quá trình triển khai lại chưa chặt chẽ, còn tồn tại tình trạng ỉ lại, ngại theo dõi, giám sát; chưa xác định trách nhiệm cho cá nhân hoặc xác định trách nhiệm nhưng không rõ ràng trong việc thực hiện, chỉ đạo thực hiện kết luận giám sát. Việc không xác định rõ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu và các cơ quan, tổ chức, các vị trí chức vụ, chức danh cụ thể trong thực hiện, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kết luận giám sát sẽ dẫn đến tình trạng bỏ bê, làm không đến nơi đến chốn, chất lượng giám sát do đó không thể đạt được mục đích, một số vấn đề được phát hiện nhưng không được thực hiện dứt điểm do kiểm soát chưa chặt chẽ. Khi các vấn đề phức tạp nảy sinh, kết luận giám sát không được thực hiện hiệu quả do đó khó có thể xác định trách nhiệm cá nhân, nảy sinh tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không xử lý được trách nhiệm của từng cá nhân cụ thể.

Bên cạnh đó, nếu quy định rõ trách nhiệm rõ ràng về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm cho người đứng đầu sẽ đảm bảo họ sẽ chú trọng hơn vấn đề chỉ đạo, giám sát việc thực hiện kết luận giám sát, giáo dục, đốc thúc cấp dưới thực hiện nghiêm túc, triệt để, làm tốt việc báo cáo kết quả thực hiện kết luận giám sát tại cơ quan, đơn vị. Vấn đề giao nhiệm vụ cá nhân sẽ giúp họ thấy rõ được hệ quả không chỉ đối với cơ quan, đơn vị mà còn chính đến uy tín, danh dự, hệ quả pháp lý mà họ phải gánh chịu trước Quốc hội, Nhân dân và pháp luật. Giao trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị là cơ sở để nâng cao chất lượng giám sát, có điều kiện để tập trung nhân lực, phát huy trình độ chuyên môn của các cơ quan, đơn vị; đây là nhân tố để Quốc hội chỉ đạo thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng lĩnh vực chuyên môn. Để đảm bảo việc thi hành kết luận giám sát, Quốc hội và các cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng giám sát cần chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thực hiện kết luận giám sát giao nhiệm vụ cho từng cá nhân cụ thể, tránh tình trạng giao việc chung chung, đảm bảo các cá nhân được giao nhiệm vụ sẽ xác định rõ trách nhiệm của mình, thời gian, cơ chế thực hiện, hạn chế tối đa tình trạng ỉ lại, né tránh, “cha chung không ai khóc”.

Ba là, sự kiểm soát, chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hoạt động của các cơ quan chuyên môn và Đại biểu Quốc hội trong theo dõi việc thực hiện kết luận giám sát

Một nhân tố quan trọng đảm bảo việc thực hiện các kết luận giám sát là mức độ chỉ đạo của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với các vấn đề đã được thống nhất đưa ra. Các vấn đề được đưa ra trong kết luận giám sát càng được sự quan tâm, chỉ đạo của Quốc hội từ việc nghiên cứu, thông qua dưới hình thức các nghị quyết để thực hiện. Việc Quốc hội trực tiếp hoặc chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt các cơ quan chuyên môn, đại biểu Quốc hội triển khai, phổ biến, hướng dẫn, giám sát các cơ quan, đơn vị, cá nhân thực hiện kết luận giám sát sẽ là cơ sở để các kết luận đó được thực hiện nghiêm túc, nhanh chóng, đúng định hướng, hạn chế tối đa tình trạng làm việc thiếu nghiêm túc, mang tính hình thức. Thực tiễn cho thấy, ở các địa phương, bộ ngành, vào các thời điểm khác nhau với mức độ chỉ đạo, giám sát việc thực hiện kết luận giám sát khác nhau sẽ đem lại hiệu quả khác nhau. Càng chỉ đạo quyết liệt, giám sát việc thực hiện chặt chẽ sẽ đem lại hiệu quả cao và ở đâu, thời gian nào có sự buông lỏng công tác giám sát sẽ làm hạn chế hiệu quả của các kết luận giám sát đã được đưa ra. Công tác chỉ đạo cũng là cơ sở để Quốc hội kịp thời đánh giá chất lượng, hiệu quả trong thực hiện kết luận giám sát, kịp thời có các chỉ đạo, điều chỉnh, bổ sung các vấn đề mới hoặc chưa phù hợp. Công tác kiểm sát, chỉ đạo của Quốc hội sẽ đảm bảo việc phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm, thực hiện kém hiệu quả, thay thế những người không đủ năng lực, trình độ chuyên môn trong thực hiện các kết luận giám sát.

Bốn là, phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác của cán bộ, người trực tiếp triển khai thực hiện kết luận giám sát

Để tạo nên sự thành công trong thực hiện các kết luận giám sát, vấn đề phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có vai trò đặc biệt quan trọng, là yếu tốt cốt lõi cho việc thực hiện thành công hay thất bại. Cán bộ có phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ tốt sẽ quyết định các kết luận giám sát được thực hiện đúng định hướng của Đảng, chỉ đạo của Quốc hội, đảm bảo quá trình triển khai đúng pháp luật với mức độ cố gắng tối đa để hoàn thành được nội dung các kết luận giám sát. Nếu cán bộ có phẩm chất chính trị hạn chế, tình thần, thái độ làm việc thấp sẽ dẫn tới sự lệch lạc, làm không nhiệt tình, thiếu chặt chẽ, tránh tình trạng cố tình vi phạm, né tránh trong quá trình thực hiện.

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác sẽ ảnh hưởng tới mức độ hiệu quả trong thực hiện các nội dung công việc theo yêu cầu tại các kết luận giám sát. Đối với các kết luận giám sát nói chung, đặc biệt là các vấn đề quan trọng đòi hỏi đội ngũ cán bộ thực hiện phải có trình độ cao, hiểu sâu vấn đề thực hiện, liên hệ chặt chễ được các vấn đề liên quan khác, nắm chắc về luật, các văn bản hướng dẫn. Bên cạnh đó, đòi hỏi cán bộ thực hiện phải là người dày dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực thực hiện, tránh tình trạng giao việc cho người thiếu chuyên môn, kinh nghiệm. Cán bộ, người thực hiện có trình độ chuyên môn tốt, nhiều kinh nghiệm bên cạnh việc thực hiện tốt các yêu cầu, còn chủ động xác định được các vấn đề mới, vấn đề khó khăn, phức tạp, bất cập trong quá trình triển khai và có sự tham mưu, góp ý tốt cho lãnh đạo cấp trên, cơ quan, đơn vị trong quá trình triển khai thực hiện.

Phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác của cán bộ, người trực tiếp triển khai thực hiện kết luận giám sát sẽ đảm bảo các kết luận giám sát được thực hiện đúng hướng, triệt để, mang lại chất lượng, hiệu quả cao nhất, phòng tránh và chủ động chống lại các biểu hiện lệch lại, sai phạm trong quá trình thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội.

Năm là, công tác phối hợp giữa các chủ thể có liên quan trong thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội

Bên cạnh các nhân tố đã được phân tích, thì công tác phối hợp giữa các chủ thể chính là yếu tố quan trọng giữ vai trò là hỗ trợ, tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm đảm bảo các kết luận giám sát được thực hiện chặt chẽ.

Công tác phối hợp được thực hiện giữa Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và giữa các cơ quan nói trên với Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các bộ, ngành, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân có liên quan khác. Vấn đề phối hợp sẽ là điều kiện quan trọng để Quốc hội, các bên phối hợp, trao đổi, cung cấp các thông tin, tài liệu cần thiết để triển khai thực hiện kết luận giám sát, đối chiếu, đánh giá kết quả thực hiện các kết luận giám sát. Phối hợp trong xác định trách nhiệm của các bên từ việc phân công thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội, kiểm tra các thông tin phản hồi, phối hợp nhằm điều tra, làm rõ các trường hợp sai phạm, các trường hợp có dấu hiệu tội phạm, vi phạm pháp luật. Thông qua hoạt động phối hợp sẽ giúp các bên tiếp nhận được các kiến nghị, yêu cầu, ý kiến đóng góp có giá trị liên quan đến quá trình thực hiện kết luận giám sát.

Hoạt động phối hợp có thể được đánh giá theo chiều dọc giữa cơ quan chỉ đạo thực hiện kết luận giám sát cấp trên đến các cơ quan cấp dưới, các cơ quan, đơn vị, cá nhân thực hiện, cụ thể hóa kết luận giám sát. Chẳng hạn, Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động giám sát như phân công Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội thẩm tra các báo cáo và thực hiện một số nội dung trong chương trình giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Yêu cầu Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội hằng năm báo cáo về dự kiến chương trình, nội dung, kế hoạch giám sát của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Yêu cầu Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội điều chỉnh chương trình, kế hoạch, thời gian, địa điểm thực hiện giám sát của mình để tránh trùng lặp, chồng chéo về nội dung, thời gian, địa điểm giám sát. Yêu cầu Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phối hợp thực hiện hoạt động giám sát ở cùng một địa phương, cơ quan, đơn vị để bảo đảm chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát. Thực hiện các kết luận giám sát cũng cần sự tham gia thực hiện giữa các bên cùng cấp, các ngành, lĩnh vực khác nhau trong trao đổi, phối hợp cung cấp thông tin, cùng phối hợp thực hiện, tham gia tổng kết, đánh giá, tham gia góp ý cho quá trình thực hiện, tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành đối với việc thực hiện kết luận giám sát. Phối hợp giữa Quốc hội, các cơ quan chức năng với các tổ chức, cá nhân trong tiếp nhận các thông tin tố giác, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, tiếp thu các kiến nghị, đóng góp ý kiến của nhân dân đối với các vấn đề trong kết luận giám sát.

Sáu là, một số các yếu tố khác

Ngoài ra, việc đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như:

- Yếu tố chính trị (quyết tâm chính trị), chế độ chính trị, chủ thể chính trị; yếu tố chính trị ở đây được hiểu là mọi kết luận giám sát của Quốc hội thì không được trái với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đảng chính trị lãnh đạo Quốc hội, chỉ đạo hoạt động giám sát và ban hành kết luận giám sát. Tuy nhiên, sự chỉ đạo, lãnh đạo ở đây được thể hiện bằng chủ trương, đường lối, chính sách của mình trong công tác của Quốc hội. Còn Quốc hội làm gì? Làm như thế nào để đạt được hiệu lực, hiệu quả cao mà không trái với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước là được.

- Yếu tố đảm bảo về nhận thức, trước hết là sự thống nhất nhận thức về vai trò giám sát của Quốc hội và việc thực thi kết luận giám sát trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như một hoạt động nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong các quyết định, hành động và chính sách của mình. Vì vậy, cần có sự hợp tác giữa các cơ quan hành pháp với các cơ quan của Quốc hội trong quá trình tiến hành hoạt động giám sát. Chỉ có sự thống nhất về nhận thức mới tạo điều kiện thuận lợi để Quốc hội thực hiện đúng, đủ thẩm quyền giám sát của mình. Nhận thức thống nhất sẽ có tác dụng tăng cường sự phối hợp và trách nhiệm của từng cơ quan trong quy trình giám sát. Tư tưởng, nhận thức đúng đắn về vai trò giám sát của Quốc hội bao hàm cả nhận thức về tính độc lập, khách quan của các chủ thể trong quá trình thức hiện quyền giám sát. Quốc hội và đại biểu Quốc hội cần được đảm bảo thực quyền trong việc đánh giá, đưa ra kiến nghị giám sát trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp và pháp luật vì quyền lợi của cử tri, không bị tác động, ảnh hưởng bởi bất kỳ luồng tư tưởng, cơ chế hoặc hành vi của tổ chức, cá nhân nào.

- Các yếu tố về xã hội: Các yếu tố về xã hội bao gồm các điều kiện về tâm lý và động thái của xã hội tiếp nhận và ủng hộ các hành vi giám sát, kết luận giám sát của các chủ thể giám sát, thái độ phê phán các hành vi tiêu cực trong thực thi kiến nghị giám sát... Để có được những điều này thì việc giáo dục ý thức, nâng cao dân trí và phát huy sức mạnh của phương tiện thông tin đại chúng là hết sức quan trọng. Đây là yếu tố đảm bảo quan trọng vì xét cho cùng thái độ (ủng hộ hay phê phán) của cử tri, của dư luận xã hội đối với hoạt động giám sát của Quốc hội là sự kiểm chứng khách quan hiệu lực và hiệu quả của hoạt động này.

- Các điều kiện về kinh tế và khoa học kỹ thuật (tài chính, điều kiện phương tiện, trang bị vật chất, thông tin...)

Đây cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi kết luận giám sát. Các nước có điều kiện kinh tế và khoa học kỹ thuật thường được thành lập văn phòng riêng cho nghị sĩ tại đơn vị bầu cử với đầy đủ phương tiện kỹ thuật và được hỗ trợ kinh phí thuê đội ngũ nhân viên giúp việc, các chuyên gia hỗ trợ việc thu thập xử lý thông tin, giúp cho nghị sĩ có cơ sở hình thành chính kiến, chất vấn Chính phủ và đảm bảo kết luận giám sát của Quốc hội phải được thực thi có hiệu quả. Điều kiện tài chính đầy đủ giúp cho nghị sĩ có thể duy trì mối quan hệ thường xuyên và chặt chẽ với địa phương, có thông tin đầy đủ hỗ trợ cho hoạt động giám sát cũng như thực hiện chức năng đại diện của mình. Khi có được nguồn tài chính và phương tiện vật chất - kỹ thuật đầy đủ để tiến hành giám sát, được cập nhật một cách thường xuyên và toàn diện các thông tin cần thiết, khách quan thì đại biểu Quốc hội sẽ có căn cứ để thẩm tra, đánh giá các chính sách, hoạt động của các cơ quan nhà nước và khi đó hiệu quả thực thi kết luận giám sát sẽ được nâng lên một bước khả quan./.

Nguyễn Xuân Thủy

Học viện Cảnh sát nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.

Theo dõi chúng tôi trên: