Thứ năm 11/12/2025 04:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các yếu tố và điều kiện đảm bảo thi hành kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam

Trên thực tế việc thực hiện pháp luật về giám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội đã đạt được nhiều thành tựu. Qua giám sát và kết luận giám sát đã đưa ra nhiều kiến nghị đóng góp vào hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng

Việc đảm bảo thi hành các kết luận giám sát của Quốc hội còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Bài viết đã có những phân tích, đánh giá về các yếu tố và điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của kết luật giám sát của Quốc hội

Trên thực tế việc thực hiện pháp luật về giám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội đã đạt được nhiều thành tựu. Qua giám sát và kết luận giám sát đã đưa ra nhiều kiến nghị đóng góp vào hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế, chính sách và quản lý điều hành kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, được dư luận và nhân dân đồng tình, ủng hộ, quan tâm, đánh giá cao, qua đó góp phần nâng cao vai trò, uy tín, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là hoạt động giám sát của Quốc hội. Tuy nhiên, việc đảm bảo thi hành các kết luận giám sát của Quốc hội còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao. Có nhiều nguyên nhân của tình trạng trên, trong đó quy định về các yếu tố, điều kiện để đảm bảo thi hành các kết luận giám sát đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội. Cụ thể như sau:

Một là, khung pháp lý rõ ràng, cụ thể để triển khai thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội

Để các kết luận giám sát được thực hiện nghiêm túc, triệt để, đồng thời là cơ sở để xác định trách nhiệm về pháp lý trong việc xử lý đối với kết quả thực hiện kết luận giám sát là điều kiện mang tính tiên quyết, đặc biệt quan trọng. Khung pháp lý trong điều chỉnh vấn đề triển khai thực hiện kết luận giám sát càng đầy đủ, chặt chẽ và hợp lý sẽ là khung nền đảm bảo các đơn vị, cá nhân được giao nhiệm vụ thực hiện kết luận giám sát chấp hành, không có sự né tránh, làm giảm tối đa tình trạng làm việc hời hợt, coi giám sát xong là xong. Khung pháp lý chính là định hướng về mặt pháp lý để các kết luận giám sát được thực hiện triệt để, đúng nội dung, trình tự, thủ tục, tránh tình trạng làm nhưng không rõ phải làm như thế nào, báo cáo đến đâu, không rõ về cơ chế giám sát sau kết luận. Khung pháp lý vững chắc, đồng bộ là nền tảng có tác dụng răn đe đối với các trường hợp cố tình thực hiện các hành vi trái luật, không thực hiện hoặc tìm cách lách luật trong thực hiện các kết luận giám sát đã được ban hành. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để Quốc hội, các cơ quan chuyên môn thực hiện giám sát, đại biểu Quốc hội xem xét mức độ thực hiện đối với các kết luận đã được mình đưa ra. Là cơ sở, căn cứ để Quốc hội, các cơ quan tố tụng xem xét, đánh giá mức độ chấp hành pháp luật, xử lý đối với các trường hợp sai phạm liên quan đến việc thực hiện công tác điều hành, quản lý, chấp hành các kết luận giám sát. Tại khoản 4, Điều 7 Luật Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 xác định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có hành vi cản trở hoặc không thực hiện nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị của chủ thể giám sát thì chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và người có liên quan”. Đây chính là cơ sở quan trọng, đi kèm các văn bản luật khác để xử lý về mặt pháp lý đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân không chấp hành, không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc, thiếu đầy đủ các kết luận giám sát đã được đưa ra.

Hai là, xác định rõ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cơ quan, tổ chức, các vị trí chức vụ, chức danh cụ thể trong việc thi hành các kết luận giám sát

Một vấn đề tồn tại trước đây là sau khi có kết luận giám sát, chưa có cơ chế thực sự rõ ràng trong công tác giám sát, theo dõi kết luận giám sát, hoặc có xác định nhưng quá trình triển khai lại chưa chặt chẽ, còn tồn tại tình trạng ỉ lại, ngại theo dõi, giám sát; chưa xác định trách nhiệm cho cá nhân hoặc xác định trách nhiệm nhưng không rõ ràng trong việc thực hiện, chỉ đạo thực hiện kết luận giám sát. Việc không xác định rõ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu và các cơ quan, tổ chức, các vị trí chức vụ, chức danh cụ thể trong thực hiện, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kết luận giám sát sẽ dẫn đến tình trạng bỏ bê, làm không đến nơi đến chốn, chất lượng giám sát do đó không thể đạt được mục đích, một số vấn đề được phát hiện nhưng không được thực hiện dứt điểm do kiểm soát chưa chặt chẽ. Khi các vấn đề phức tạp nảy sinh, kết luận giám sát không được thực hiện hiệu quả do đó khó có thể xác định trách nhiệm cá nhân, nảy sinh tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không xử lý được trách nhiệm của từng cá nhân cụ thể.

Bên cạnh đó, nếu quy định rõ trách nhiệm rõ ràng về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm cho người đứng đầu sẽ đảm bảo họ sẽ chú trọng hơn vấn đề chỉ đạo, giám sát việc thực hiện kết luận giám sát, giáo dục, đốc thúc cấp dưới thực hiện nghiêm túc, triệt để, làm tốt việc báo cáo kết quả thực hiện kết luận giám sát tại cơ quan, đơn vị. Vấn đề giao nhiệm vụ cá nhân sẽ giúp họ thấy rõ được hệ quả không chỉ đối với cơ quan, đơn vị mà còn chính đến uy tín, danh dự, hệ quả pháp lý mà họ phải gánh chịu trước Quốc hội, Nhân dân và pháp luật. Giao trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị là cơ sở để nâng cao chất lượng giám sát, có điều kiện để tập trung nhân lực, phát huy trình độ chuyên môn của các cơ quan, đơn vị; đây là nhân tố để Quốc hội chỉ đạo thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng lĩnh vực chuyên môn. Để đảm bảo việc thi hành kết luận giám sát, Quốc hội và các cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng giám sát cần chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thực hiện kết luận giám sát giao nhiệm vụ cho từng cá nhân cụ thể, tránh tình trạng giao việc chung chung, đảm bảo các cá nhân được giao nhiệm vụ sẽ xác định rõ trách nhiệm của mình, thời gian, cơ chế thực hiện, hạn chế tối đa tình trạng ỉ lại, né tránh, “cha chung không ai khóc”.

Ba là, sự kiểm soát, chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hoạt động của các cơ quan chuyên môn và Đại biểu Quốc hội trong theo dõi việc thực hiện kết luận giám sát

Một nhân tố quan trọng đảm bảo việc thực hiện các kết luận giám sát là mức độ chỉ đạo của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với các vấn đề đã được thống nhất đưa ra. Các vấn đề được đưa ra trong kết luận giám sát càng được sự quan tâm, chỉ đạo của Quốc hội từ việc nghiên cứu, thông qua dưới hình thức các nghị quyết để thực hiện. Việc Quốc hội trực tiếp hoặc chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt các cơ quan chuyên môn, đại biểu Quốc hội triển khai, phổ biến, hướng dẫn, giám sát các cơ quan, đơn vị, cá nhân thực hiện kết luận giám sát sẽ là cơ sở để các kết luận đó được thực hiện nghiêm túc, nhanh chóng, đúng định hướng, hạn chế tối đa tình trạng làm việc thiếu nghiêm túc, mang tính hình thức. Thực tiễn cho thấy, ở các địa phương, bộ ngành, vào các thời điểm khác nhau với mức độ chỉ đạo, giám sát việc thực hiện kết luận giám sát khác nhau sẽ đem lại hiệu quả khác nhau. Càng chỉ đạo quyết liệt, giám sát việc thực hiện chặt chẽ sẽ đem lại hiệu quả cao và ở đâu, thời gian nào có sự buông lỏng công tác giám sát sẽ làm hạn chế hiệu quả của các kết luận giám sát đã được đưa ra. Công tác chỉ đạo cũng là cơ sở để Quốc hội kịp thời đánh giá chất lượng, hiệu quả trong thực hiện kết luận giám sát, kịp thời có các chỉ đạo, điều chỉnh, bổ sung các vấn đề mới hoặc chưa phù hợp. Công tác kiểm sát, chỉ đạo của Quốc hội sẽ đảm bảo việc phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm, thực hiện kém hiệu quả, thay thế những người không đủ năng lực, trình độ chuyên môn trong thực hiện các kết luận giám sát.

Bốn là, phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác của cán bộ, người trực tiếp triển khai thực hiện kết luận giám sát

Để tạo nên sự thành công trong thực hiện các kết luận giám sát, vấn đề phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có vai trò đặc biệt quan trọng, là yếu tốt cốt lõi cho việc thực hiện thành công hay thất bại. Cán bộ có phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ tốt sẽ quyết định các kết luận giám sát được thực hiện đúng định hướng của Đảng, chỉ đạo của Quốc hội, đảm bảo quá trình triển khai đúng pháp luật với mức độ cố gắng tối đa để hoàn thành được nội dung các kết luận giám sát. Nếu cán bộ có phẩm chất chính trị hạn chế, tình thần, thái độ làm việc thấp sẽ dẫn tới sự lệch lạc, làm không nhiệt tình, thiếu chặt chẽ, tránh tình trạng cố tình vi phạm, né tránh trong quá trình thực hiện.

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác sẽ ảnh hưởng tới mức độ hiệu quả trong thực hiện các nội dung công việc theo yêu cầu tại các kết luận giám sát. Đối với các kết luận giám sát nói chung, đặc biệt là các vấn đề quan trọng đòi hỏi đội ngũ cán bộ thực hiện phải có trình độ cao, hiểu sâu vấn đề thực hiện, liên hệ chặt chễ được các vấn đề liên quan khác, nắm chắc về luật, các văn bản hướng dẫn. Bên cạnh đó, đòi hỏi cán bộ thực hiện phải là người dày dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực thực hiện, tránh tình trạng giao việc cho người thiếu chuyên môn, kinh nghiệm. Cán bộ, người thực hiện có trình độ chuyên môn tốt, nhiều kinh nghiệm bên cạnh việc thực hiện tốt các yêu cầu, còn chủ động xác định được các vấn đề mới, vấn đề khó khăn, phức tạp, bất cập trong quá trình triển khai và có sự tham mưu, góp ý tốt cho lãnh đạo cấp trên, cơ quan, đơn vị trong quá trình triển khai thực hiện.

Phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác của cán bộ, người trực tiếp triển khai thực hiện kết luận giám sát sẽ đảm bảo các kết luận giám sát được thực hiện đúng hướng, triệt để, mang lại chất lượng, hiệu quả cao nhất, phòng tránh và chủ động chống lại các biểu hiện lệch lại, sai phạm trong quá trình thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội.

Năm là, công tác phối hợp giữa các chủ thể có liên quan trong thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội

Bên cạnh các nhân tố đã được phân tích, thì công tác phối hợp giữa các chủ thể chính là yếu tố quan trọng giữ vai trò là hỗ trợ, tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm đảm bảo các kết luận giám sát được thực hiện chặt chẽ.

Công tác phối hợp được thực hiện giữa Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và giữa các cơ quan nói trên với Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các bộ, ngành, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân có liên quan khác. Vấn đề phối hợp sẽ là điều kiện quan trọng để Quốc hội, các bên phối hợp, trao đổi, cung cấp các thông tin, tài liệu cần thiết để triển khai thực hiện kết luận giám sát, đối chiếu, đánh giá kết quả thực hiện các kết luận giám sát. Phối hợp trong xác định trách nhiệm của các bên từ việc phân công thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội, kiểm tra các thông tin phản hồi, phối hợp nhằm điều tra, làm rõ các trường hợp sai phạm, các trường hợp có dấu hiệu tội phạm, vi phạm pháp luật. Thông qua hoạt động phối hợp sẽ giúp các bên tiếp nhận được các kiến nghị, yêu cầu, ý kiến đóng góp có giá trị liên quan đến quá trình thực hiện kết luận giám sát.

Hoạt động phối hợp có thể được đánh giá theo chiều dọc giữa cơ quan chỉ đạo thực hiện kết luận giám sát cấp trên đến các cơ quan cấp dưới, các cơ quan, đơn vị, cá nhân thực hiện, cụ thể hóa kết luận giám sát. Chẳng hạn, Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động giám sát như phân công Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội thẩm tra các báo cáo và thực hiện một số nội dung trong chương trình giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Yêu cầu Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội hằng năm báo cáo về dự kiến chương trình, nội dung, kế hoạch giám sát của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Yêu cầu Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội điều chỉnh chương trình, kế hoạch, thời gian, địa điểm thực hiện giám sát của mình để tránh trùng lặp, chồng chéo về nội dung, thời gian, địa điểm giám sát. Yêu cầu Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phối hợp thực hiện hoạt động giám sát ở cùng một địa phương, cơ quan, đơn vị để bảo đảm chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát. Thực hiện các kết luận giám sát cũng cần sự tham gia thực hiện giữa các bên cùng cấp, các ngành, lĩnh vực khác nhau trong trao đổi, phối hợp cung cấp thông tin, cùng phối hợp thực hiện, tham gia tổng kết, đánh giá, tham gia góp ý cho quá trình thực hiện, tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành đối với việc thực hiện kết luận giám sát. Phối hợp giữa Quốc hội, các cơ quan chức năng với các tổ chức, cá nhân trong tiếp nhận các thông tin tố giác, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, tiếp thu các kiến nghị, đóng góp ý kiến của nhân dân đối với các vấn đề trong kết luận giám sát.

Sáu là, một số các yếu tố khác

Ngoài ra, việc đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như:

- Yếu tố chính trị (quyết tâm chính trị), chế độ chính trị, chủ thể chính trị; yếu tố chính trị ở đây được hiểu là mọi kết luận giám sát của Quốc hội thì không được trái với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đảng chính trị lãnh đạo Quốc hội, chỉ đạo hoạt động giám sát và ban hành kết luận giám sát. Tuy nhiên, sự chỉ đạo, lãnh đạo ở đây được thể hiện bằng chủ trương, đường lối, chính sách của mình trong công tác của Quốc hội. Còn Quốc hội làm gì? Làm như thế nào để đạt được hiệu lực, hiệu quả cao mà không trái với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước là được.

- Yếu tố đảm bảo về nhận thức, trước hết là sự thống nhất nhận thức về vai trò giám sát của Quốc hội và việc thực thi kết luận giám sát trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như một hoạt động nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong các quyết định, hành động và chính sách của mình. Vì vậy, cần có sự hợp tác giữa các cơ quan hành pháp với các cơ quan của Quốc hội trong quá trình tiến hành hoạt động giám sát. Chỉ có sự thống nhất về nhận thức mới tạo điều kiện thuận lợi để Quốc hội thực hiện đúng, đủ thẩm quyền giám sát của mình. Nhận thức thống nhất sẽ có tác dụng tăng cường sự phối hợp và trách nhiệm của từng cơ quan trong quy trình giám sát. Tư tưởng, nhận thức đúng đắn về vai trò giám sát của Quốc hội bao hàm cả nhận thức về tính độc lập, khách quan của các chủ thể trong quá trình thức hiện quyền giám sát. Quốc hội và đại biểu Quốc hội cần được đảm bảo thực quyền trong việc đánh giá, đưa ra kiến nghị giám sát trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp và pháp luật vì quyền lợi của cử tri, không bị tác động, ảnh hưởng bởi bất kỳ luồng tư tưởng, cơ chế hoặc hành vi của tổ chức, cá nhân nào.

- Các yếu tố về xã hội: Các yếu tố về xã hội bao gồm các điều kiện về tâm lý và động thái của xã hội tiếp nhận và ủng hộ các hành vi giám sát, kết luận giám sát của các chủ thể giám sát, thái độ phê phán các hành vi tiêu cực trong thực thi kiến nghị giám sát... Để có được những điều này thì việc giáo dục ý thức, nâng cao dân trí và phát huy sức mạnh của phương tiện thông tin đại chúng là hết sức quan trọng. Đây là yếu tố đảm bảo quan trọng vì xét cho cùng thái độ (ủng hộ hay phê phán) của cử tri, của dư luận xã hội đối với hoạt động giám sát của Quốc hội là sự kiểm chứng khách quan hiệu lực và hiệu quả của hoạt động này.

- Các điều kiện về kinh tế và khoa học kỹ thuật (tài chính, điều kiện phương tiện, trang bị vật chất, thông tin...)

Đây cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi kết luận giám sát. Các nước có điều kiện kinh tế và khoa học kỹ thuật thường được thành lập văn phòng riêng cho nghị sĩ tại đơn vị bầu cử với đầy đủ phương tiện kỹ thuật và được hỗ trợ kinh phí thuê đội ngũ nhân viên giúp việc, các chuyên gia hỗ trợ việc thu thập xử lý thông tin, giúp cho nghị sĩ có cơ sở hình thành chính kiến, chất vấn Chính phủ và đảm bảo kết luận giám sát của Quốc hội phải được thực thi có hiệu quả. Điều kiện tài chính đầy đủ giúp cho nghị sĩ có thể duy trì mối quan hệ thường xuyên và chặt chẽ với địa phương, có thông tin đầy đủ hỗ trợ cho hoạt động giám sát cũng như thực hiện chức năng đại diện của mình. Khi có được nguồn tài chính và phương tiện vật chất - kỹ thuật đầy đủ để tiến hành giám sát, được cập nhật một cách thường xuyên và toàn diện các thông tin cần thiết, khách quan thì đại biểu Quốc hội sẽ có căn cứ để thẩm tra, đánh giá các chính sách, hoạt động của các cơ quan nhà nước và khi đó hiệu quả thực thi kết luận giám sát sẽ được nâng lên một bước khả quan./.

Nguyễn Xuân Thủy

Học viện Cảnh sát nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: