Thứ tư 11/03/2026 01:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ sở lý luận của việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế[1]

Bài viết phân tích cơ sở lý luận nhằm đưa ra những luận cứ khoa học, lập luận mang tính thuyết phục, có căn cứ để biện luận cho việc cần thiết phải tiến hành nghiên cứu, biên soạn cuốn Từ điển Pháp luật Kinh tế ở nước ta hiện nay.

1. Sự cần thiết của việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế

Một là, pháp luật kinh tế là một lĩnh vực pháp luật quan trọng của hệ thống pháp luật Việt Nam và thường xuyên sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Đặc biệt kể từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì lĩnh vực pháp luật kinh tế phát triển rất mạnh mẽ với việc ra đời hàng loạt các bộ luật, đạo luật về kinh tế nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý cho sự vận hành thông suốt, đồng bộ và cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh của các thành phần kinh tế dựa trên nguyên tắc quyền tự do kinh doanh của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (Điều 33). Pháp luật kinh tế đã góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững đưa nước ta thoát ra khỏi nhóm các nước nghèo nàn, lạc hậu và trở thành nước có thu nhập trung bình thấp trên thế giới.

Dẫu vậy, thực tiễn thi hành pháp luật kinh tế đạt hiệu quả thấp và gặp không ít rào cản, khó khăn hay việc áp dụng không thống nhất tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do nhiều thuật ngữ pháp lý, nhiều khái niệm trong các quy phạm pháp luật về kinh tế không được giải thích, giải nghĩa chính thức để mọi người có cách hiểu thống nhất. Do cách hiểu không thống nhất khiến việc áp dụng của các cơ quan công quyền không giống nhau ở từng địa phương hoặc gây ra mâu thuẫn, xung đột về quan điểm giữa cơ quan thực thi pháp luật, cán bộ, công chức nhà nước thực thi công vụ với cộng đồng doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác.

Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có sự giải thích mang tính học thuật về các khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản pháp luật kinh tế. Mặt khác, ở nước ta, việc biên soạn từ điển luật học, từ điển giải thích thuật ngữ luật học… thì nhóm các thuật ngữ pháp luật về kinh tế được biên soạn lồng ghép với thuật ngữ của những lĩnh vực pháp luật khác mà không tách thành một công trình nghiên cứu độc lập, chuyên sâu. Vì vậy, nhiều thuật ngữ pháp luật kinh tế không được giải thích hoặc việc giải thích các thuật ngữ pháp luật kinh tế trong những bộ từ điển luật học không đầy đủ, toàn diện. Thiết nghĩ đây là một khiếm khuyết cần phải được khắc phục kịp thời.

Hai là, trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, pháp luật kinh tế là lĩnh vực pháp luật thường xuyên có những biến động, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nếu so sánh, đối chiếu với các lĩnh vực pháp luật khác trong hệ thống pháp luật. Nhiều quy phạm pháp luật mới, khái niệm, thuật ngữ mới ra đời góp phần xây dựng hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường[2]. Vì vậy, cần phải tổ chức biên soạn giải thích các thuật ngữ pháp lý về kinh tế nhằm giúp các cơ quan nhà nước, tổ chức áp dụng pháp luật; các đối tượng chịu sự tác động, điều chỉnh của các văn bản pháp luật về kinh tế hiểu được bản chất khái niệm để áp dụng đúng và tuân thủ nghiêm minh pháp luật về kinh tế; góp phần phòng tránh các xung đột, tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế.

Ba là, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, nước ta phải tăng cường, củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; phát huy nội lực, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và các nước trên thế giới; tranh thủ, tận dụng, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức để phát triển đất nước nhanh, bền vững… Muốn vậy, Nhà nước phải thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp mà một trong số đó là quản lý kinh tế bằng pháp luật có hiệu quả. Đặt trong bối cảnh đó, pháp luật kinh tế trở thành một trong những công cụ quan trọng để quản lý, điều tiết các quan hệ kinh tế. Sự hoàn thiện, thống nhất, đồng bộ, phù hợp của pháp luật kinh tế góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, năng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và ngược lại. Điều này có được là do dựa trên những kết quả nghiên cứu khoa học về học thuật về pháp lý trong việc đánh giá, tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật; xây dựng luận cứ, cơ sở khoa học; giải mã những khái niệm, thuật ngữ gốc; khái niệm chủ yếu được sử dụng trong xây dựng, soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật. Thực tế xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật hoặc giải quyết tranh chấp thương mại… cho thấy, có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về nội hàm của những khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế. Đây là trở ngại, rào cản gây tốn kém thời gian, nguồn lực trong quá trình soạn thảo hoặc dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất trong giải quyết tranh chấp thương mại - kinh tế ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh.

Bốn là, một trong những trụ cột của hội nhập quốc tế mà Việt Nam thực hiện là hội nhập về kinh tế và chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nước ta đã gia nhập các hiệp định thương mại đa phương; chủ động đàm phán, ký kết hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với EU, Nhật Bản, Hàn Quốc… Trong đó, Việt Nam cam kết thực hiện các nguyên tắc, luật lệ của thương mại quốc tế như không có sự đối xử, phân biệt, kỳ thị; đảm bảo sự công bằng; công khai minh bạch; mở cửa thị trường nội địa; cắt giảm thuế quan… Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là cần “nội luật” hóa những cam kết, nguyên tắc của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… trong nội dung hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật kinh tế nói riêng. Vì vậy, xuất hiện các khái niệm, thuật ngữ mới được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế. Mặt khác, trong điều kiện hội nhập quốc tế về kinh tế, thương mại; khó tránh khỏi những xung đột, bất đồng, tranh chấp giữa doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác nước ngoài liên quan đến hợp đồng thương mại, hợp đồng về cung cấp dịch vụ… Để giải quyết có hiệu quả tranh chấp này, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp Việt Nam; đồng thời, ngăn ngừa những tranh chấp hoặc phòng tránh nguy cơ thiệt hại tiềm ẩn khi đàm phán, ký kết, thực hiện các hiệp định thương mại nói chung và các hợp đồng kinh doanh thương mại quốc tế nói riêng thì không chỉ am hiểu hệ thống pháp luật của các nước; các nguyên tắc hoạt động của những định chế thương mại quốc tế đa phương… mà còn phải nắm vững nội hàm của các khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta cũng như của các đối tác tương ứng. Đây cũng là một lý do luận giải cho sự cần thiết phải biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế…

2. Mục đích, ý nghĩa của việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế

2.1. Đối với công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, hệ thống pháp luật thường xuyên được rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng theo các quy luật khách quan của kinh tế thị trường. Trong hệ thống pháp luật thì lĩnh vực pháp luật kinh tế là lĩnh vực pháp luật có nhiều biến động, thay đổi mạnh mẽ nhất, thường xuyên nhất. Các quan điểm, định hướng quan trọng của Đảng qua các thời kỳ phát triển được thể chế hóa trong nội dung các quy định của pháp luật về kinh tế. Vì vậy, việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế với việc giải thích chuyên sâu về các khái niệm, thuật ngữ pháp luật kinh tế góp tạo ra cách hiểu thống nhất, góp phần tạo điều kiện cho công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Bởi lẽ, cuốn Từ điển này là cẩm nang giúp cho đội ngũ cán bộ, chuyên gia xây dựng pháp luật có thể tra cứu, truy cập để tìm hiểu nội dung, nội hàm của các khái niệm, thuật ngữ để sử dụng chính xác, phù hợp trong quá trình soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế.

2.2. Đối với hoạt động áp dụng, thực thi pháp luật

Pháp luật nói chung và pháp luật kinh tế nói riêng cho dù có được soạn thảo đầy đủ, hoàn thiện đến đâu đi chăng nữa sẽ không phát huy được tác dụng tích cực, không đi vào cuộc sống đáp ứng sự kỳ vọng của xã hội nếu khâu áp dụng, thực thi không hiệu quả hoặc kém hiệu quả. Tuy nhiên, hiệu quả của áp dụng, thực thi pháp luật phụ thuộc vào nhiều điều kiện như mức độ hoàn thiện, chi tiết, cụ thể của hệ thống pháp luật; ý thức chấp hành pháp luật của các đối tượng chịu sự điều chỉnh; năng lực, trình độ chuyên môn, sự hiểu biết pháp luật; phẩm chất, tư cách đạo đức, tinh thần, thái độ phục vụ và kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật… Hiệu quả của các điều kiện áp dụng, thực thi pháp luật về kinh tế chịu sự tác động, ảnh hưởng không nhỏ của việc giải thích nội hàm các thuật ngữ, các khái niệm được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực này. Rõ ràng sự thiếu hiểu biết, hiểu biết không đầy đủ, căn kẽ hoặc hiểu biết không thống nhất về các khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất, gây ra những xung đột, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể mà thực tiễn đã có nhiều ví dụ minh chứng về vấn đề này.

2.3. Đối với hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học ở các cơ sở đào tạo luật, các cơ sở đào tạo về kinh tế

Xét dưới khía cạnh học thuật, trước hết, việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế nhằm “nhất thể hóa” cách hiểu về các khái niệm, thuật ngữ pháp luật kinh tế. Thông qua đó, nó giúp cho người dạy và người học hiểu sâu sắc, cặn kẽ về nội dung các quy định của pháp luật đất đai. Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu, giáo viên và sinh viên có thêm nguồn tài liệu tham khảo có chất lượng, mang tính học thuật cao để giải quyết các yêu cầu của khóa luận, luận văn, luận án về pháp luật kinh tế. Đồng thời, việc làm này góp phần bổ sung nguồn học liệu cho thư viện của các cơ sở đào tạo luật; bổ sung, làm phong phú hơn các từ điển luật học, từ điển giải thích thuật ngữ luật học ở nước ta hiện nay…

3. Phân loại Từ điển Pháp luật Kinh tế

Thứ nhất, đại Từ điển Pháp luật Kinh tế. Xét về quy mô, phạm vi, đại Từ điển Pháp luật Kinh tế là công trình nghiên cứu đồ sộ, hệ thống có quy mô, phạm vi bao quát giải thích các khái niệm, các thuật ngữ pháp lý trong lĩnh vực kinh tế. Số lượng các mục từ, các từ, thuật ngữ được biên soạn lên đến hàng vạn từ, thuật ngữ được tập hợp, phân loại theo từng lĩnh vực cụ thể của pháp luật kinh tế. Đại Từ điển Pháp luật Kinh tế bao gồm nhiều tập huy động một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia pháp lý, chuyên gia ngôn ngữ, biên soạn từ điển hàng đầu và được thực hiện trong một thời gian dài lên tới vài năm hoặc hơn một chục năm; sẽ được công bố, xuất bản một tập khoảng từ 01 - 02 năm. Vì vậy, đại Từ điển Pháp luật Kinh tế là công trình học thuật có giá trị khoa học, học thuật cao nhất, toàn diện nhất.

Việc biên soạn bộ đại từ điển này thực hiện phức tạp hơn nên phải thành lập Ban chỉ đạo trước khi tổ chức thực hiện. Nhiệm vụ của Ban chỉ đạo là quyết định, đưa ra định hướng; quan điểm, nguyên tắc chung và phương thức cơ bản của việc biên soạn; quyết định tiêu chuẩn của tổng chủ biên, chủ biên và tiêu chuẩn lựa chọn đội ngũ các nhà khoa học, chuyên gia pháp luật, chuyên gia biên soạn từ điển phù hợp để mời tham gia… Bên cạnh đó, việc biên soạn đại Từ điển Pháp luật Kinh tế phải có người hoặc một số người đóng vai trò tổng chủ biên; người này là nhà khoa học đầu đàn, có uy tín, học hàm, học vị và có trình độ chuyên môn cao, được thừa nhận, suy tôn trong cộng đồng khoa học, trong giới chuyên môn để chỉ đạo, điều hành và chịu trách nhiệm về chuyên môn, chất lượng của bộ đại từ điển này. Đối với mỗi tập của bộ đại từ điển, cần phân công hoặc cử một nhà khoa học có uy tín, có chuyên môn cao, phù hợp với lĩnh vực, chủ đề biên soạn làm chủ biên. Việc biên soạn được thực hiện dưới sự điều hành của chủ biên; chủ biên là người chịu trách nhiệm về chất lượng, nội dung của từng tập mà mình đứng tên chủ biên.

Thứ hai, Từ điển Luật Kinh tế. Xét về quy mô, phạm vi, Từ điển Luật Kinh tế có số lượng từ, mục từ ít hơn so với đại Từ điển Pháp luật Kinh tế. Từ điển Luật Kinh tế bao gồm một hoặc vài tập giải thích các khái niệm, thuật ngữ quan trọng được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế. Tùy theo mục đích, ý nghĩa của việc biên soạn; nguồn lực vật chất, thời gian và đội ngũ biên soạn… mà nhóm tác giả có thể lựa chọn, tập hợp, phân loại các mục từ, các từ để biên soạn. Từ điển Luật Kinh tế có thể bao gồm một số lĩnh vực cụ thể như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Tài chính, Luật Ngân hàng… hoặc một số khái niệm của tất cả các lĩnh vực cụ thể của Luật Kinh tế. Việc biên soạn các từ trong mục từ của đại Từ điển Pháp luật Kinh tế, Từ điển Luật Kinh tế được thực hiện theo cấu trúc gồm: (i) Đưa ra khái niệm, giải thích hoặc giải mã nội hàm khái niệm của thuật ngữ; (ii) Phân tích những quan điểm, cơ sở lý thuyết cơ bản của việc ra đời khái niệm, thuật ngữ và người đại diện tiêu biểu của quan điểm gắn với tác phẩm công bố quan điểm, lý thuyết này liên quan trực tiếp đến khái niệm, thuật ngữ được giải thích; (iii) Lịch sử hình thành và phát triển của khái niệm, thuật ngữ; (iv) Nội dung quy định của pháp luật có sử dụng khái niệm, thuật ngữ…

Thứ ba, Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế hay từ điển về các thuật ngữ pháp lý về kinh tế (gọi chung là Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế).

Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế giới hạn việc biên soạn vào việc luận giải, giải thích nội hàm khái niệm, nội hàm thuật ngữ; phân tích khái quát lịch sử hình thành của khái niệm, thuật ngữ; đề cập những văn bản quy phạm pháp luật tiêu biểu sử dụng các khái niệm, thuật ngữ này. So với việc biên soạn đại Từ điển Pháp luật Kinh tế; Từ điển Luật Kinh tế thì việc biên soạn Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế ít áp lực, “nhẹ nhàng” hơn. Bởi lẽ, việc biên soạn Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế chủ yếu đi sâu vào việc giải thích từ ngữ, giải mã nội hàm của khái niệm mang tính pháp lý. Mục đích cơ bản của việc biên soạn cuốn từ điển này dường như là đưa ra các hiểu thống nhất về khái niệm, thuật ngữ pháp lý; tránh cách hiểu khác nhau. Vì vậy, Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế khó có thể bao quát giải thích đầy đủ, toàn diện, cặn kẽ các khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong hệ thống pháp luật kinh tế. Các thuật ngữ được lựa chọn, giải thích là những thuật ngữ pháp lý cơ bản, sử dụng phổ biến. Số lượng các từ ngữ được biên soạn trong Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế giới hạn trong khoảng 02 nghìn từ đến 04 nghìn từ do sự hạn chế về nguồn lực con người, thời gian, vốn…

4. Yêu cầu của việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế cần phải đáp ứng

4.1. Bảo đảm yêu cầu cơ bản của việc biên soạn từ điển nói chung

Việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản của việc biên soạn từ điển nói chung. Biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế là hoạt động mang tính học thuật chuyên môn sâu và chuyên ngành rất cao. Việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế phải có sự tham gia, phối hợp giữa các nhà khoa học, chuyên gia pháp luật kinh tế với các chuyên gia soạn thảo từ điển. Điều này đảm bảo chất lượng nội dung của Từ điển Pháp luật Kinh tế vừa có dung lượng khoa học, tính học thuật cao về giải mã khái niệm, thuật ngữ pháp luật kinh tế vừa đảm bảo đáp ứng yêu cầu của một cuốn từ điển luật học. Có như vậy mới phân biệt, nhận diện được sự khác biệt giữa Từ điển Pháp luật Kinh tế với các công trình nghiên cứu, bình luận pháp luật kinh tế; chuyên khảo về từng lĩnh vực của pháp luật kinh tế.

4.2. Bảo đảm các yêu cầu cơ bản của việc biên soạn từ điển Luật học

Yêu cầu này có nghĩa là văn phong được sử dụng khi biên soạn phải là văn phong pháp lý mang tính học thuật cao; ngôn ngữ biểu đạt trong sáng, dễ hiểu. Cấu trúc ngữ pháp chặt chẽ; lập luận lôgíc, khúc triết, rành mạch; không sử dụng các từ đa nghĩa, câu phức hợp hoặc lối hành văn ẩn dụ, sử dụng điển tích. Các khái niệm, thuật ngữ được lựa chọn là những thuật ngữ kinh tế có liên quan trực tiếp, gắn bó chặt chẽ với nội dung của các quy phạm pháp luật kinh tế mà cần phải giải thích mà nếu không giải thích thì sẽ không hiểu được nội dung các quy định này hoặc không hiểu được nội hàm của khái niệm thuật ngữ pháp luật kinh tế. Các khái niệm, thuật ngữ pháp luật kinh tế được lựa chọn để giải thích phải được các văn bản quy phạm pháp luật kinh tế sử dụng trong các quy định. Việc giải thích thuật ngữ pháp luật kinh tế phải góp phần làm sáng tỏ nội dung các quy định của pháp luật kinh tế; giúp cho các đối tượng chịu sự điều chỉnh hiểu sâu sắc về từng điều, khoản, mục của pháp luật thực định. Mặt khác, việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế phải dựa vào mục đích biên soạn và dựa trên yêu cầu đặt ra…

4.3. Có các tiêu chí lựa chọn, xây dựng các mục từ, các từ để giải mã nội hàm khái niệm, bản chất của thuật ngữ

Biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế là công việc rất khó khăn, phức tạp và đòi hỏi đảm bảo chất lượng chuyên môn, tính học thuật rất cao. Nó phải được biên soạn công phu, tỷ mỷ, cẩn trọng. Vì vậy, trước tiên cần xây dựng tiêu chí lựa chọn các từ, mục từ để biên soạn. Việc lựa chọn các từ, mục từ để biên soạn dựa trên một số tiêu chí cơ bản sau đây:

Một là, rà soát, lập danh mục các từ, thuật ngữ để phân loại nhóm các mục từ theo vần Alphabet (A, B, C…). Có hai cách chủ yếu phân loại nhóm mục từ:

- Phân loại nhóm mục từ của cuốn Từ điển Pháp luật kinh tế theo vần Alphabet (A, B, C…):

(i) Ưu điểm của cách sắp xếp phân loại này là giúp bạn đọc dễ tra cứu, truy cập và việc phân loại mang tính hệ thống, khoa học. Các mục từ được phân loại xuyên suốt các lĩnh vực cụ thể của pháp luật kinh tế. Với cách phân loại này, người đọc có thể tra cứu, so sánh các thuật ngữ pháp lý của các lĩnh vực cụ thể của pháp luật kinh tế trong cùng một nhóm mục từ.

(ii) Nhược điểm của cách phân loại này là gây tốn kém thời gian, công sức và nguồn lực cho công tác biên soạn. Nếu hạn chế về nguồn lực vật chất, con người và thời gian thì việc phân loại này khó có tính khả thi.

- Phân loại nhóm mục từ theo vần Alphabet (A, B, C…) của từng lĩnh vực của pháp luật kinh tế:

(i) Ưu điểm của cách phân loại mục từ này là đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp với điều kiện hạn chế về thời gian, nguồn lực vật chất, con người. Mặt khác, cách phân loại này cũng tạo thuận lợi, dễ tra cứu khi tìm hiểu khái niệm, thuật ngữ pháp lý của từng lĩnh vực pháp luật cụ thể của pháp luật kinh tế.

(ii) Nhược điểm của cách phân loại mục từ này là dễ có sự trùng lặp giữa một số thuật ngữ được sử dụng ở các lĩnh vực pháp luật khác nhau của pháp luật kinh tế. Ví dụ: Thuật ngữ vốn được sử dụng trong Luật Doanh nghiệp, được sử dụng trong Luật Ngân hàng, được sử dụng trong Luật Đầu tư… gây khó khăn cho việc phân công biên soạn. Mặt khác, cách phân loại mục từ này để biên soạn gây ra sự “cắt khúc”, cát cứ của từng lĩnh vực pháp luật trong hệ thống pháp luật kinh tế.

Hai là, xây dựng tiêu chí lựa chọn các từ, thuật ngữ kinh tế. Trong pháp luật kinh tế khó tránh khỏi việc sử dụng các thuật ngữ kinh tế, hay nói cách khác, trong nội dung các quy phạm pháp luật kinh tế có sự hiện diện của khái niệm, thuật ngữ kinh tế và khái niệm, thuật ngữ pháp lý. Thông thường, các thuật ngữ kinh tế được giải thích nội hàm khái niệm ở các từ điển kinh tế. Tuy nhiên, trong Từ điển Luật Kinh tế, đành rằng mục đích và phạm vi của nó là giải thích nội hàm các thuật ngữ pháp luật kinh tế song không thể không đề cập, giải mã khái niệm những khái niệm kinh tế này. Tiêu chí lựa chọn các thuật ngữ kinh tế để đưa vào biên soạn cuốn Từ điển Luật Kinh tế này, bao gồm:

- Thuật ngữ kinh tế phải được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật kinh tế.

- Việc lựa chọn những thuật ngữ kinh tế để giải thích phụ thuộc vào vị trí, vai trò và tầm quan trọng của nó trong nội dung các quy định của pháp luật kinh tế.

- Những thuật ngữ kinh tế mang tính chất chuyên ngành, ít có tính phổ quát đối với các chủ thể trong xã hội.

- Những thuật ngữ kinh tế có liên quan trực tiếp, ảnh hưởng đến nội dung quy định của pháp luật

- Trong trường hợp một khái niệm, thuật ngữ kinh tế được sử dụng trong các văn bản thuộc các lĩnh vực pháp luật kinh tế cụ thể thì ưu tiên lĩnh vực pháp luật mà có tần suất sử dụng thuật ngữ này nhiều hơn. Trong trường hợp áp dụng tiêu chí này những không lựa chọn được thuật ngữ để giải thích thì có sự thỏa thuận giữa các thành viên biên soạn nên để cho lĩnh vực pháp luật cụ thể để giải thích. Ví dụ: Khái niệm kinh tế thị trường được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật doanh nghiệp, văn bản quy phạm pháp luật tài chính, văn bản quy phạm pháp luật lao động, văn bản quy phạm pháp luật đất đai… thì nhóm biên soạn bàn bạc, thỏa thuận giao cho các nhà khoa học thuộc lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp thực hiện việc giải thích nội hàm. Trường hợp, nhóm biên soạn không thỏa thuận được thì chủ biên sẽ là người đưa ra quyết định cuối cùng.

Ba là, xây dựng tiêu chí lựa chọn khái niệm, thuật ngữ pháp lý để xây dựng mục từ, nhóm từ mục.

Đầu tiên cần rà soát, tập hợp các khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật kinh tế. Tiếp đó, nhóm biên soạn tổ hợp, sắp xếp thành các nhóm từ mục theo thứ tự Alphabet (A, B, C). Sau đó, nhóm biên soạn trao đổi, thảo luận để chọn lọc và lập ra danh sách danh mục bảng từ để tiến hành biên soạn. Việc lựa chọn này dựa trên tiêu chí sau:

- Lựa chọn từ mục gốc, sau đó, tập hợp, lựa chọn các từ cùng gốc. Ví dụ: Từ gốc là doanh nghiệp; sau đó các từ doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… là các từ có cùng gốc là doanh nghiệp.

- Lựa chọn từ mục có nội dung trái ngược đối lập nhau. Ví dụ: Từ mục tổ chức - cá nhân; vi phạm pháp luật - tuân thủ pháp luật; quyền - nghĩa vụ…

- Lựa chọn từ mục có gốc Hán - Việt. Ví dụ: Từ mục pháp nhân - thể nhân, trái chủ - thụ trái, địa dịch, sản nghiệp, thương nhân…

- Lựa chọn từ mục có nguồn gốc tiếng Anh. Ví dụ: Từ mục nhượng quyền thương mại (Franchise), logistic, incoterm, adhoc, mediation, contract, negotiation.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bài viết nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc biên soạn cuốn Từ điển Pháp luật Kinh tế”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023.

[2]. Như giá đất, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, phá sản doanh nghiệp, cổ phần hóa, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; trái phiếu, cổ phiếu, séc, bảo lãnh tín dụng, ủy thác đầu tư, tín chấp, tài chính doanh nghiệp, tài chính đất đai, thị trường chứng khoán, thị trường vốn, logictis, vận đơn, incoterm, trọng tài thương mại, Tòa kinh tế, hòa giải thương mại, đầu tư nước ngoài, cạnh tranh lành mạnh, quyền lợi người tiêu dùng…

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: