Thứ năm 29/10/2026 13:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ sở lý luận của việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế[1]

Bài viết phân tích cơ sở lý luận nhằm đưa ra những luận cứ khoa học, lập luận mang tính thuyết phục, có căn cứ để biện luận cho việc cần thiết phải tiến hành nghiên cứu, biên soạn cuốn Từ điển Pháp luật Kinh tế ở nước ta hiện nay.

1. Sự cần thiết của việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế

Một là, pháp luật kinh tế là một lĩnh vực pháp luật quan trọng của hệ thống pháp luật Việt Nam và thường xuyên sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Đặc biệt kể từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì lĩnh vực pháp luật kinh tế phát triển rất mạnh mẽ với việc ra đời hàng loạt các bộ luật, đạo luật về kinh tế nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý cho sự vận hành thông suốt, đồng bộ và cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh của các thành phần kinh tế dựa trên nguyên tắc quyền tự do kinh doanh của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (Điều 33). Pháp luật kinh tế đã góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững đưa nước ta thoát ra khỏi nhóm các nước nghèo nàn, lạc hậu và trở thành nước có thu nhập trung bình thấp trên thế giới.

Dẫu vậy, thực tiễn thi hành pháp luật kinh tế đạt hiệu quả thấp và gặp không ít rào cản, khó khăn hay việc áp dụng không thống nhất tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do nhiều thuật ngữ pháp lý, nhiều khái niệm trong các quy phạm pháp luật về kinh tế không được giải thích, giải nghĩa chính thức để mọi người có cách hiểu thống nhất. Do cách hiểu không thống nhất khiến việc áp dụng của các cơ quan công quyền không giống nhau ở từng địa phương hoặc gây ra mâu thuẫn, xung đột về quan điểm giữa cơ quan thực thi pháp luật, cán bộ, công chức nhà nước thực thi công vụ với cộng đồng doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác.

Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có sự giải thích mang tính học thuật về các khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản pháp luật kinh tế. Mặt khác, ở nước ta, việc biên soạn từ điển luật học, từ điển giải thích thuật ngữ luật học… thì nhóm các thuật ngữ pháp luật về kinh tế được biên soạn lồng ghép với thuật ngữ của những lĩnh vực pháp luật khác mà không tách thành một công trình nghiên cứu độc lập, chuyên sâu. Vì vậy, nhiều thuật ngữ pháp luật kinh tế không được giải thích hoặc việc giải thích các thuật ngữ pháp luật kinh tế trong những bộ từ điển luật học không đầy đủ, toàn diện. Thiết nghĩ đây là một khiếm khuyết cần phải được khắc phục kịp thời.

Hai là, trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, pháp luật kinh tế là lĩnh vực pháp luật thường xuyên có những biến động, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nếu so sánh, đối chiếu với các lĩnh vực pháp luật khác trong hệ thống pháp luật. Nhiều quy phạm pháp luật mới, khái niệm, thuật ngữ mới ra đời góp phần xây dựng hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường[2]. Vì vậy, cần phải tổ chức biên soạn giải thích các thuật ngữ pháp lý về kinh tế nhằm giúp các cơ quan nhà nước, tổ chức áp dụng pháp luật; các đối tượng chịu sự tác động, điều chỉnh của các văn bản pháp luật về kinh tế hiểu được bản chất khái niệm để áp dụng đúng và tuân thủ nghiêm minh pháp luật về kinh tế; góp phần phòng tránh các xung đột, tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế.

Ba là, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, nước ta phải tăng cường, củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; phát huy nội lực, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và các nước trên thế giới; tranh thủ, tận dụng, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức để phát triển đất nước nhanh, bền vững… Muốn vậy, Nhà nước phải thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp mà một trong số đó là quản lý kinh tế bằng pháp luật có hiệu quả. Đặt trong bối cảnh đó, pháp luật kinh tế trở thành một trong những công cụ quan trọng để quản lý, điều tiết các quan hệ kinh tế. Sự hoàn thiện, thống nhất, đồng bộ, phù hợp của pháp luật kinh tế góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, năng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và ngược lại. Điều này có được là do dựa trên những kết quả nghiên cứu khoa học về học thuật về pháp lý trong việc đánh giá, tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật; xây dựng luận cứ, cơ sở khoa học; giải mã những khái niệm, thuật ngữ gốc; khái niệm chủ yếu được sử dụng trong xây dựng, soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật. Thực tế xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật hoặc giải quyết tranh chấp thương mại… cho thấy, có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về nội hàm của những khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế. Đây là trở ngại, rào cản gây tốn kém thời gian, nguồn lực trong quá trình soạn thảo hoặc dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất trong giải quyết tranh chấp thương mại - kinh tế ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh.

Bốn là, một trong những trụ cột của hội nhập quốc tế mà Việt Nam thực hiện là hội nhập về kinh tế và chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nước ta đã gia nhập các hiệp định thương mại đa phương; chủ động đàm phán, ký kết hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với EU, Nhật Bản, Hàn Quốc… Trong đó, Việt Nam cam kết thực hiện các nguyên tắc, luật lệ của thương mại quốc tế như không có sự đối xử, phân biệt, kỳ thị; đảm bảo sự công bằng; công khai minh bạch; mở cửa thị trường nội địa; cắt giảm thuế quan… Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là cần “nội luật” hóa những cam kết, nguyên tắc của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… trong nội dung hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật kinh tế nói riêng. Vì vậy, xuất hiện các khái niệm, thuật ngữ mới được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế. Mặt khác, trong điều kiện hội nhập quốc tế về kinh tế, thương mại; khó tránh khỏi những xung đột, bất đồng, tranh chấp giữa doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác nước ngoài liên quan đến hợp đồng thương mại, hợp đồng về cung cấp dịch vụ… Để giải quyết có hiệu quả tranh chấp này, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp Việt Nam; đồng thời, ngăn ngừa những tranh chấp hoặc phòng tránh nguy cơ thiệt hại tiềm ẩn khi đàm phán, ký kết, thực hiện các hiệp định thương mại nói chung và các hợp đồng kinh doanh thương mại quốc tế nói riêng thì không chỉ am hiểu hệ thống pháp luật của các nước; các nguyên tắc hoạt động của những định chế thương mại quốc tế đa phương… mà còn phải nắm vững nội hàm của các khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta cũng như của các đối tác tương ứng. Đây cũng là một lý do luận giải cho sự cần thiết phải biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế…

2. Mục đích, ý nghĩa của việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế

2.1. Đối với công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, hệ thống pháp luật thường xuyên được rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng theo các quy luật khách quan của kinh tế thị trường. Trong hệ thống pháp luật thì lĩnh vực pháp luật kinh tế là lĩnh vực pháp luật có nhiều biến động, thay đổi mạnh mẽ nhất, thường xuyên nhất. Các quan điểm, định hướng quan trọng của Đảng qua các thời kỳ phát triển được thể chế hóa trong nội dung các quy định của pháp luật về kinh tế. Vì vậy, việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế với việc giải thích chuyên sâu về các khái niệm, thuật ngữ pháp luật kinh tế góp tạo ra cách hiểu thống nhất, góp phần tạo điều kiện cho công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Bởi lẽ, cuốn Từ điển này là cẩm nang giúp cho đội ngũ cán bộ, chuyên gia xây dựng pháp luật có thể tra cứu, truy cập để tìm hiểu nội dung, nội hàm của các khái niệm, thuật ngữ để sử dụng chính xác, phù hợp trong quá trình soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế.

2.2. Đối với hoạt động áp dụng, thực thi pháp luật

Pháp luật nói chung và pháp luật kinh tế nói riêng cho dù có được soạn thảo đầy đủ, hoàn thiện đến đâu đi chăng nữa sẽ không phát huy được tác dụng tích cực, không đi vào cuộc sống đáp ứng sự kỳ vọng của xã hội nếu khâu áp dụng, thực thi không hiệu quả hoặc kém hiệu quả. Tuy nhiên, hiệu quả của áp dụng, thực thi pháp luật phụ thuộc vào nhiều điều kiện như mức độ hoàn thiện, chi tiết, cụ thể của hệ thống pháp luật; ý thức chấp hành pháp luật của các đối tượng chịu sự điều chỉnh; năng lực, trình độ chuyên môn, sự hiểu biết pháp luật; phẩm chất, tư cách đạo đức, tinh thần, thái độ phục vụ và kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật… Hiệu quả của các điều kiện áp dụng, thực thi pháp luật về kinh tế chịu sự tác động, ảnh hưởng không nhỏ của việc giải thích nội hàm các thuật ngữ, các khái niệm được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực này. Rõ ràng sự thiếu hiểu biết, hiểu biết không đầy đủ, căn kẽ hoặc hiểu biết không thống nhất về các khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất, gây ra những xung đột, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể mà thực tiễn đã có nhiều ví dụ minh chứng về vấn đề này.

2.3. Đối với hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học ở các cơ sở đào tạo luật, các cơ sở đào tạo về kinh tế

Xét dưới khía cạnh học thuật, trước hết, việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế nhằm “nhất thể hóa” cách hiểu về các khái niệm, thuật ngữ pháp luật kinh tế. Thông qua đó, nó giúp cho người dạy và người học hiểu sâu sắc, cặn kẽ về nội dung các quy định của pháp luật đất đai. Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu, giáo viên và sinh viên có thêm nguồn tài liệu tham khảo có chất lượng, mang tính học thuật cao để giải quyết các yêu cầu của khóa luận, luận văn, luận án về pháp luật kinh tế. Đồng thời, việc làm này góp phần bổ sung nguồn học liệu cho thư viện của các cơ sở đào tạo luật; bổ sung, làm phong phú hơn các từ điển luật học, từ điển giải thích thuật ngữ luật học ở nước ta hiện nay…

3. Phân loại Từ điển Pháp luật Kinh tế

Thứ nhất, đại Từ điển Pháp luật Kinh tế. Xét về quy mô, phạm vi, đại Từ điển Pháp luật Kinh tế là công trình nghiên cứu đồ sộ, hệ thống có quy mô, phạm vi bao quát giải thích các khái niệm, các thuật ngữ pháp lý trong lĩnh vực kinh tế. Số lượng các mục từ, các từ, thuật ngữ được biên soạn lên đến hàng vạn từ, thuật ngữ được tập hợp, phân loại theo từng lĩnh vực cụ thể của pháp luật kinh tế. Đại Từ điển Pháp luật Kinh tế bao gồm nhiều tập huy động một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia pháp lý, chuyên gia ngôn ngữ, biên soạn từ điển hàng đầu và được thực hiện trong một thời gian dài lên tới vài năm hoặc hơn một chục năm; sẽ được công bố, xuất bản một tập khoảng từ 01 - 02 năm. Vì vậy, đại Từ điển Pháp luật Kinh tế là công trình học thuật có giá trị khoa học, học thuật cao nhất, toàn diện nhất.

Việc biên soạn bộ đại từ điển này thực hiện phức tạp hơn nên phải thành lập Ban chỉ đạo trước khi tổ chức thực hiện. Nhiệm vụ của Ban chỉ đạo là quyết định, đưa ra định hướng; quan điểm, nguyên tắc chung và phương thức cơ bản của việc biên soạn; quyết định tiêu chuẩn của tổng chủ biên, chủ biên và tiêu chuẩn lựa chọn đội ngũ các nhà khoa học, chuyên gia pháp luật, chuyên gia biên soạn từ điển phù hợp để mời tham gia… Bên cạnh đó, việc biên soạn đại Từ điển Pháp luật Kinh tế phải có người hoặc một số người đóng vai trò tổng chủ biên; người này là nhà khoa học đầu đàn, có uy tín, học hàm, học vị và có trình độ chuyên môn cao, được thừa nhận, suy tôn trong cộng đồng khoa học, trong giới chuyên môn để chỉ đạo, điều hành và chịu trách nhiệm về chuyên môn, chất lượng của bộ đại từ điển này. Đối với mỗi tập của bộ đại từ điển, cần phân công hoặc cử một nhà khoa học có uy tín, có chuyên môn cao, phù hợp với lĩnh vực, chủ đề biên soạn làm chủ biên. Việc biên soạn được thực hiện dưới sự điều hành của chủ biên; chủ biên là người chịu trách nhiệm về chất lượng, nội dung của từng tập mà mình đứng tên chủ biên.

Thứ hai, Từ điển Luật Kinh tế. Xét về quy mô, phạm vi, Từ điển Luật Kinh tế có số lượng từ, mục từ ít hơn so với đại Từ điển Pháp luật Kinh tế. Từ điển Luật Kinh tế bao gồm một hoặc vài tập giải thích các khái niệm, thuật ngữ quan trọng được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế. Tùy theo mục đích, ý nghĩa của việc biên soạn; nguồn lực vật chất, thời gian và đội ngũ biên soạn… mà nhóm tác giả có thể lựa chọn, tập hợp, phân loại các mục từ, các từ để biên soạn. Từ điển Luật Kinh tế có thể bao gồm một số lĩnh vực cụ thể như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Tài chính, Luật Ngân hàng… hoặc một số khái niệm của tất cả các lĩnh vực cụ thể của Luật Kinh tế. Việc biên soạn các từ trong mục từ của đại Từ điển Pháp luật Kinh tế, Từ điển Luật Kinh tế được thực hiện theo cấu trúc gồm: (i) Đưa ra khái niệm, giải thích hoặc giải mã nội hàm khái niệm của thuật ngữ; (ii) Phân tích những quan điểm, cơ sở lý thuyết cơ bản của việc ra đời khái niệm, thuật ngữ và người đại diện tiêu biểu của quan điểm gắn với tác phẩm công bố quan điểm, lý thuyết này liên quan trực tiếp đến khái niệm, thuật ngữ được giải thích; (iii) Lịch sử hình thành và phát triển của khái niệm, thuật ngữ; (iv) Nội dung quy định của pháp luật có sử dụng khái niệm, thuật ngữ…

Thứ ba, Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế hay từ điển về các thuật ngữ pháp lý về kinh tế (gọi chung là Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế).

Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế giới hạn việc biên soạn vào việc luận giải, giải thích nội hàm khái niệm, nội hàm thuật ngữ; phân tích khái quát lịch sử hình thành của khái niệm, thuật ngữ; đề cập những văn bản quy phạm pháp luật tiêu biểu sử dụng các khái niệm, thuật ngữ này. So với việc biên soạn đại Từ điển Pháp luật Kinh tế; Từ điển Luật Kinh tế thì việc biên soạn Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế ít áp lực, “nhẹ nhàng” hơn. Bởi lẽ, việc biên soạn Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế chủ yếu đi sâu vào việc giải thích từ ngữ, giải mã nội hàm của khái niệm mang tính pháp lý. Mục đích cơ bản của việc biên soạn cuốn từ điển này dường như là đưa ra các hiểu thống nhất về khái niệm, thuật ngữ pháp lý; tránh cách hiểu khác nhau. Vì vậy, Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế khó có thể bao quát giải thích đầy đủ, toàn diện, cặn kẽ các khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong hệ thống pháp luật kinh tế. Các thuật ngữ được lựa chọn, giải thích là những thuật ngữ pháp lý cơ bản, sử dụng phổ biến. Số lượng các từ ngữ được biên soạn trong Từ điển giải thích Thuật ngữ Pháp luật kinh tế giới hạn trong khoảng 02 nghìn từ đến 04 nghìn từ do sự hạn chế về nguồn lực con người, thời gian, vốn…

4. Yêu cầu của việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế cần phải đáp ứng

4.1. Bảo đảm yêu cầu cơ bản của việc biên soạn từ điển nói chung

Việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản của việc biên soạn từ điển nói chung. Biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế là hoạt động mang tính học thuật chuyên môn sâu và chuyên ngành rất cao. Việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế phải có sự tham gia, phối hợp giữa các nhà khoa học, chuyên gia pháp luật kinh tế với các chuyên gia soạn thảo từ điển. Điều này đảm bảo chất lượng nội dung của Từ điển Pháp luật Kinh tế vừa có dung lượng khoa học, tính học thuật cao về giải mã khái niệm, thuật ngữ pháp luật kinh tế vừa đảm bảo đáp ứng yêu cầu của một cuốn từ điển luật học. Có như vậy mới phân biệt, nhận diện được sự khác biệt giữa Từ điển Pháp luật Kinh tế với các công trình nghiên cứu, bình luận pháp luật kinh tế; chuyên khảo về từng lĩnh vực của pháp luật kinh tế.

4.2. Bảo đảm các yêu cầu cơ bản của việc biên soạn từ điển Luật học

Yêu cầu này có nghĩa là văn phong được sử dụng khi biên soạn phải là văn phong pháp lý mang tính học thuật cao; ngôn ngữ biểu đạt trong sáng, dễ hiểu. Cấu trúc ngữ pháp chặt chẽ; lập luận lôgíc, khúc triết, rành mạch; không sử dụng các từ đa nghĩa, câu phức hợp hoặc lối hành văn ẩn dụ, sử dụng điển tích. Các khái niệm, thuật ngữ được lựa chọn là những thuật ngữ kinh tế có liên quan trực tiếp, gắn bó chặt chẽ với nội dung của các quy phạm pháp luật kinh tế mà cần phải giải thích mà nếu không giải thích thì sẽ không hiểu được nội dung các quy định này hoặc không hiểu được nội hàm của khái niệm thuật ngữ pháp luật kinh tế. Các khái niệm, thuật ngữ pháp luật kinh tế được lựa chọn để giải thích phải được các văn bản quy phạm pháp luật kinh tế sử dụng trong các quy định. Việc giải thích thuật ngữ pháp luật kinh tế phải góp phần làm sáng tỏ nội dung các quy định của pháp luật kinh tế; giúp cho các đối tượng chịu sự điều chỉnh hiểu sâu sắc về từng điều, khoản, mục của pháp luật thực định. Mặt khác, việc biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế phải dựa vào mục đích biên soạn và dựa trên yêu cầu đặt ra…

4.3. Có các tiêu chí lựa chọn, xây dựng các mục từ, các từ để giải mã nội hàm khái niệm, bản chất của thuật ngữ

Biên soạn Từ điển Pháp luật Kinh tế là công việc rất khó khăn, phức tạp và đòi hỏi đảm bảo chất lượng chuyên môn, tính học thuật rất cao. Nó phải được biên soạn công phu, tỷ mỷ, cẩn trọng. Vì vậy, trước tiên cần xây dựng tiêu chí lựa chọn các từ, mục từ để biên soạn. Việc lựa chọn các từ, mục từ để biên soạn dựa trên một số tiêu chí cơ bản sau đây:

Một là, rà soát, lập danh mục các từ, thuật ngữ để phân loại nhóm các mục từ theo vần Alphabet (A, B, C…). Có hai cách chủ yếu phân loại nhóm mục từ:

- Phân loại nhóm mục từ của cuốn Từ điển Pháp luật kinh tế theo vần Alphabet (A, B, C…):

(i) Ưu điểm của cách sắp xếp phân loại này là giúp bạn đọc dễ tra cứu, truy cập và việc phân loại mang tính hệ thống, khoa học. Các mục từ được phân loại xuyên suốt các lĩnh vực cụ thể của pháp luật kinh tế. Với cách phân loại này, người đọc có thể tra cứu, so sánh các thuật ngữ pháp lý của các lĩnh vực cụ thể của pháp luật kinh tế trong cùng một nhóm mục từ.

(ii) Nhược điểm của cách phân loại này là gây tốn kém thời gian, công sức và nguồn lực cho công tác biên soạn. Nếu hạn chế về nguồn lực vật chất, con người và thời gian thì việc phân loại này khó có tính khả thi.

- Phân loại nhóm mục từ theo vần Alphabet (A, B, C…) của từng lĩnh vực của pháp luật kinh tế:

(i) Ưu điểm của cách phân loại mục từ này là đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp với điều kiện hạn chế về thời gian, nguồn lực vật chất, con người. Mặt khác, cách phân loại này cũng tạo thuận lợi, dễ tra cứu khi tìm hiểu khái niệm, thuật ngữ pháp lý của từng lĩnh vực pháp luật cụ thể của pháp luật kinh tế.

(ii) Nhược điểm của cách phân loại mục từ này là dễ có sự trùng lặp giữa một số thuật ngữ được sử dụng ở các lĩnh vực pháp luật khác nhau của pháp luật kinh tế. Ví dụ: Thuật ngữ vốn được sử dụng trong Luật Doanh nghiệp, được sử dụng trong Luật Ngân hàng, được sử dụng trong Luật Đầu tư… gây khó khăn cho việc phân công biên soạn. Mặt khác, cách phân loại mục từ này để biên soạn gây ra sự “cắt khúc”, cát cứ của từng lĩnh vực pháp luật trong hệ thống pháp luật kinh tế.

Hai là, xây dựng tiêu chí lựa chọn các từ, thuật ngữ kinh tế. Trong pháp luật kinh tế khó tránh khỏi việc sử dụng các thuật ngữ kinh tế, hay nói cách khác, trong nội dung các quy phạm pháp luật kinh tế có sự hiện diện của khái niệm, thuật ngữ kinh tế và khái niệm, thuật ngữ pháp lý. Thông thường, các thuật ngữ kinh tế được giải thích nội hàm khái niệm ở các từ điển kinh tế. Tuy nhiên, trong Từ điển Luật Kinh tế, đành rằng mục đích và phạm vi của nó là giải thích nội hàm các thuật ngữ pháp luật kinh tế song không thể không đề cập, giải mã khái niệm những khái niệm kinh tế này. Tiêu chí lựa chọn các thuật ngữ kinh tế để đưa vào biên soạn cuốn Từ điển Luật Kinh tế này, bao gồm:

- Thuật ngữ kinh tế phải được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật kinh tế.

- Việc lựa chọn những thuật ngữ kinh tế để giải thích phụ thuộc vào vị trí, vai trò và tầm quan trọng của nó trong nội dung các quy định của pháp luật kinh tế.

- Những thuật ngữ kinh tế mang tính chất chuyên ngành, ít có tính phổ quát đối với các chủ thể trong xã hội.

- Những thuật ngữ kinh tế có liên quan trực tiếp, ảnh hưởng đến nội dung quy định của pháp luật

- Trong trường hợp một khái niệm, thuật ngữ kinh tế được sử dụng trong các văn bản thuộc các lĩnh vực pháp luật kinh tế cụ thể thì ưu tiên lĩnh vực pháp luật mà có tần suất sử dụng thuật ngữ này nhiều hơn. Trong trường hợp áp dụng tiêu chí này những không lựa chọn được thuật ngữ để giải thích thì có sự thỏa thuận giữa các thành viên biên soạn nên để cho lĩnh vực pháp luật cụ thể để giải thích. Ví dụ: Khái niệm kinh tế thị trường được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật doanh nghiệp, văn bản quy phạm pháp luật tài chính, văn bản quy phạm pháp luật lao động, văn bản quy phạm pháp luật đất đai… thì nhóm biên soạn bàn bạc, thỏa thuận giao cho các nhà khoa học thuộc lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp thực hiện việc giải thích nội hàm. Trường hợp, nhóm biên soạn không thỏa thuận được thì chủ biên sẽ là người đưa ra quyết định cuối cùng.

Ba là, xây dựng tiêu chí lựa chọn khái niệm, thuật ngữ pháp lý để xây dựng mục từ, nhóm từ mục.

Đầu tiên cần rà soát, tập hợp các khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật kinh tế. Tiếp đó, nhóm biên soạn tổ hợp, sắp xếp thành các nhóm từ mục theo thứ tự Alphabet (A, B, C). Sau đó, nhóm biên soạn trao đổi, thảo luận để chọn lọc và lập ra danh sách danh mục bảng từ để tiến hành biên soạn. Việc lựa chọn này dựa trên tiêu chí sau:

- Lựa chọn từ mục gốc, sau đó, tập hợp, lựa chọn các từ cùng gốc. Ví dụ: Từ gốc là doanh nghiệp; sau đó các từ doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… là các từ có cùng gốc là doanh nghiệp.

- Lựa chọn từ mục có nội dung trái ngược đối lập nhau. Ví dụ: Từ mục tổ chức - cá nhân; vi phạm pháp luật - tuân thủ pháp luật; quyền - nghĩa vụ…

- Lựa chọn từ mục có gốc Hán - Việt. Ví dụ: Từ mục pháp nhân - thể nhân, trái chủ - thụ trái, địa dịch, sản nghiệp, thương nhân…

- Lựa chọn từ mục có nguồn gốc tiếng Anh. Ví dụ: Từ mục nhượng quyền thương mại (Franchise), logistic, incoterm, adhoc, mediation, contract, negotiation.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bài viết nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc biên soạn cuốn Từ điển Pháp luật Kinh tế”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023.

[2]. Như giá đất, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, phá sản doanh nghiệp, cổ phần hóa, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; trái phiếu, cổ phiếu, séc, bảo lãnh tín dụng, ủy thác đầu tư, tín chấp, tài chính doanh nghiệp, tài chính đất đai, thị trường chứng khoán, thị trường vốn, logictis, vận đơn, incoterm, trọng tài thương mại, Tòa kinh tế, hòa giải thương mại, đầu tư nước ngoài, cạnh tranh lành mạnh, quyền lợi người tiêu dùng…

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: