Thứ hai 07/09/2026 22:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nguyên nhân, điều kiện phạm tội của người chưa thành niên và giải pháp phòng ngừa

Bài viết đề cập đến nguyên nhân và điều kiện phạm tội của người chưa thành niên dựa trên các khía cạnh kinh tế - xã hội, quản lý nhà nước và quản lý, giáo dục từ gia đình và nhà trường. Từ đó, đề xuất các giải pháp để phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội.

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến nguyên nhân và điều kiện phạm tội của người chưa thành niên dựa trên các khía cạnh kinh tế - xã hội, quản lý nhà nước và quản lý, giáo dục từ gia đình và nhà trường. Từ đó, đề xuất các giải pháp để phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội.

Abstract: The article mentions the causes and conditions of juvenile crime based on socio-economic aspects, state management and management, and education from families and schools. From there, the article proposes solutions to prevent juveniles from committing crimes.

1. Khái quát chung về người chưa thành niên phạm tội
1.1. Khái niệm về người chưa thành niên phạm tội
Theo Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989, trẻ em là người dưới 18 tuổi (trừ khi pháp luật quốc gia quy định độ tuổi sớm hơn). Các văn bản khác như: Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp quốc về hoạt động tư pháp đối với người vị thành viên năm 1985, Hướng dẫn của Liên Hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên năm 1990 và Quy tắc của Liên Hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do năm 1990 quy định, người trẻ tuổi bao gồm người chưa thành niên, trẻ em là những người chưa đến 18 tuổi và thanh niên là những người từ 15 đến 24 tuổi[1].
Việt Nam cũng có một số quy định về lứa tuổi của trẻ em và người chưa thành niên. Cụ thể: Trong Luật Trẻ em năm 2016 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”; Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên”; Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi”; Điều 90 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này (Chương XII), đồng thời theo những quy định khác của Phần chung của Bộ luật không trái với quy định của Chương này”.
Như vậy, có thể hiểu, người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm lý và kinh nghiệm sống, trình độ nhận thức còn hạn chế. Căn cứ vào quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, có thể xác định người chưa thành niên phạm tội như sau: “Người chưa thành niên phạm tội là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, có lỗi xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình”.
1.2. Đặc điểm tâm lý, sinh lý và các yếu tố tác động tới quá trình phạm tội của người chưa thành niên
Thứ nhất, sự phát triển tâm lý, sinh lý lứa tuổi: Do sự phát triển về sinh lý cùng những xáo trộn trong đời sống tâm lý của lứa tuổi này nên đã có những ảnh hưởng lệch chuẩn đến hành vi vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên.Tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu về tâm lý, sinh lý lứa tuổi, có thể thấy rằng, trong giai đoạn 11 tuổi, 12 - 17 tuổi và 18 tuổi, đặc biệt là độ tuổi từ 12 - 15 tuổi thì đời sống tâm lý, sinh lý của lứa tuổi này có sự thay đổi và phát triển khá phức tạp. Điều này là do sự xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành, kết quả của sự biến đổi cơ thể, sự tự ý thức, các mối quan hệ với người lớn, với bạn bè, của hoạt động học tập, hoạt động xã hội... đã tác động đến nhận thức và hành vi của các em[2]. Sự phát triển nhanh về thể chất đã ảnh hưởng đến xu hướng thực hiện các hành vi bạo lực khi muốn thể hiện sức mạnh bản thân, từ đó dễ dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật hình sự như cố ý gây thương tích; chống người thi hành công vụ... Chỉ cần có va chạm nhỏ cũng có thể dẫn đến việc sử dụng hành vi bạo lực để giải quyết và bất chấp những hậu quả nghiêm trọng, suy nghĩ cảm tính, bồng bột[3].
Bên cạnh đó, tâm lý, sinh lý của người chưa thành niên chưa ổn định, nhân cách chưa hoàn thiện, nhận thức về các vấn đề xã hội còn hạn chế, thậm chí sai lệch, do đó, người chưa thành niên thường có tính cách nông nổi, hiếu thắng, liều lĩnh trước tác động của ngoại cảnh, có đặc tính tò mò, hiếu kỳ nên thiên hướng bắt chước ngay cả những hành vi sai trái của người lớn. Đây là lứa tuổi mà kinh nghiệm sống chưa có hoặc chưa đủ, đặc biệt là khả năng nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế[4].
Thứ hai, về tình cảm: Người chưa thành niên phạm tội thường là người dễ bị các tác động tiêu cực do từng trải qua những bất hạnh trong cuộc sống gia đình (gia đình không hòa thuận, bố mẹ ly hôn, không nơi nương tựa…). Hoặc có những người chưa thành niên gặp rung động đầu đời, do không được gia đình uốn nắn, cộng thêm việc bị vô tình hay cố ý “tiêm nhiễm” những câu chuyện tình lãng mạn trên các phương tiện thông tin dẫn đến những hành vi dại dột[5]. Tình cảm thường xuyên có tính rung động cao, dễ bị kích động, bồng bột, dễ thay đổi là đặc trưng cơ bản lứa tuổi của những người chưa thành niên phạm tội.
Thứ ba, về nhận thức: Nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng gia tăng phạm tội ở người chưa thành niên là do sự nhận thức kém, lệch lạc về đời sống xã hội cũng như thiếu hiểu biết về pháp luật dẫn đến quan điểm phiến diện, thiếu hệ thống. Ngoài ra, người chưa thành niên phạm tội thường muốn có những đặc quyền của người lớn nhưng họ lại không hiểu rằng, những quyền lợi này lại gắn liền với trách nhiệm. Đa số người chưa thành niên phạm tội chỉ nhận ra điều này khi họ phải trực tiếp đối mặt với những hậu quả pháp lý được quy định do hành vi nguy hiểm mà bản thân gây ra.
Thứ tư, về nhu cầu, hưởng thụ: Xã hội ngày càng phát triển, con người đầy đủ hơn về vật chất, cùng với đó là các giá trị tinh thần, các dịch vụ giải trí cũng được cải thiện nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. Khi các nhu cầu ngày càng nhiều, càng cao, con người lại muốn được thỏa mãn nhưng không đủ khả năng và trong nhiều trường hợp, họ sẽ tìm mọi cách bất chấp đạo đức, bất chấp pháp luật chỉ để thỏa mãn nhu cầu, dục vọng cá nhân. Người chưa thành niên là nhóm người có nhiều nhu cầu nhưng lại ít được đáp ứng, bởi vì, ở độ tuổi này, người chưa thành niên trong giai đoạn dậy thì, biến đổi lớn về mặt tâm lý, sinh lý, các nhu cầu gia tăng, nhưng phần lớn họ chưa có khả năng tự chủ về kinh tế để thỏa mãn nhu cầu của mình[6].
2. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội của người chưa thành niên
2.1. Điều kiện về kinh tế - xã hội
Ở Việt Nam, tình trạng thất nghiệp của một bộ phận dân cư ở thành thị và một bộ phận dân cư thiếu việc làm ở nông thôn còn ở mức cao, chính quyền chưa có cách tháo gỡ, khắc phục. Thời gian qua, xã hội đã có những biến động do tác động của toàn cầu hóa dẫn đến một số tiêu cực có chiều hướng lấn át những giá trị truyền thống, vi phạm giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Mặt khác, sự phân hóa giàu, nghèo ở nhiều nơi đã trở nên rõ rệt làm nảy sinh tư tưởng khinh người, coi thường đạo lý của một bộ phận những người giàu sang; đối lập tư tưởng này là tư tưởng tự ti, an phận, ích kỷ của một số người nghèo. Trong những người trên có thể là bố mẹ của những người chưa thành niên và chính những người chưa thành niên bị ảnh hưởng tư tưởng này từ cha mẹ dẫn đến việc hình thành tâm lý lệch lạc sẵn sàng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự nhằm “giải tỏa” tâm lý này.
2.2. Quản lý nhà nước
Do những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường cùng với những thiếu sót trong việc quản lý văn hóa - xã hội của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội nên chúng ta chưa đánh giá hết tính chất phức tạp, nghiêm trọng của tình hình tội phạm của người chưa thành niên, cụ thể:
Công tác quản lý văn hóa phẩm còn nhiều thiếu sót, nhiều loại văn hóa phẩm có nội dung đồi trụy, khiêu dâm, văn hoá phẩm xấu độc có số lượng khá lớn với tác hại khôn lường xuất hiện phổ biến trên thị trường và trên một số trang mạng internet. Lợi dụng tâm lý của giới trẻ mới lớn, chưa trải nghiệm, thích khám phá về tình yêu, tình dục, các cơ sở sản xuất trái phép đã không ngừng sử dụng những nội dung kích dục, khiêu dâm.
Bên cạnh đó, văn hóa phẩm có nội dung kích động bạo lực cũng là một loại văn hóa phẩm “đen” tồn tại khá phổ biến thời gian qua, đặc biệt là các hình ảnh trên một số trang mạng điện tử. Nội dung của loại văn hóa phẩm này kích động lối sống bạo lực, kích động hành xử xã hội theo kiểu “xã hội đen”, chém giết lẫn nhau, coi thường sinh mạng con người. Những nội dung này hoàn toàn đi ngược lại với lối sống nhân văn và truyền thống văn hóa con người Việt Nam.
Ngoài sự tác động của văn hóa “độc hại” thì một lỗ hổng nữa trong quản lý dịch vụ loại hình giải trí đó là trò chơi trực tuyến trên mạng Internet (game online). Dựa trên đặc tính ham chơi của giới trẻ, các “nhà kinh doanh” luôn tìm mọi cách để thu hút khách mà không kể lứa tuổi dẫn đến rất nhiều “fan game” là người chưa thành niên lao vào những cuộc chơi mà không hay biết đến tác hại của chúng. Nhiều hình thức, nhiều trò chơi đã ảnh hưởng không nhỏ tới tư duy, suy nghĩ của giới trẻ. Hệ quả đặt ra là, để có tiền chơi game nên một số người chưa thành niên đã thừa nhận do tác động của sự “nghiện” game online đã đẩy họ tới hành động vi phạm pháp luật hình sự (như trộm cắp, cướp giật tài sản).
2.3. Quản lý, giáo dục của gia đình và nhà trường
Thứ nhất, về sự quản lý, giáo dục từ phía gia đình.
Theo quy định của Luật Trẻ em năm 2016 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và các văn bản pháp luật có liên quan thì giáo dục, bảo vệ trẻ em không chỉ là trách nhiệm của gia đình mà là còn có trách nhiệm của nhà trường và xã hội, cụ thể là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức xã hội, các đoàn thể có trách nhiệm bảo vệ trẻ em. Những nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Tội phạm học và Điều tra tội phạm, Học viện Cảnh sát nhân dân cho thấy, tội phạm thanh thiếu niên gia tăng có nguyên nhân gốc rễ từ hệ thống giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội.
Nhiều gia đình đã lựa chọn phương pháp quản lý, giáo dục chưa đúng, như thỏa mãn và đáp ứng đầy đủ yêu cầu vật chất của con chưa thành niên khi các yêu cầu này là chưa chính đáng, chưa phù hợp với lứa tuổi hoặc điều kiện kinh tế của gia đình. Hoặc sự đối xử hà khắc, thô bạo của bố, mẹ với con cái bằng việc thường sử dụng đòn roi có thể ngăn chặn hành động xấu của con. Những việc làm đó đã làm biến đổi nhân cách, gây cho trẻ em tâm lý thù, ghét bố, mẹ và sinh ra liều lĩnh coi thường đòn roi, tiếp tục đi vào con đường hư hỏng.
Ngoài ra, có một số gia đình có tâm lý ỷ lại cho nhà trường và xã hội trong quản lý, giáo dục con cái vì bố mẹ mải lo làm ăn, buôn bán, đi công tác xa thường xuyên hoặc do ốm đau, bệnh tật không quản lý chặt chẽ được việc học tập, sinh hoạt của con. Do đó, người chưa thành niên sống trong điều kiện này đã trở nên thực dụng, chạy theo đam mê vật chất và nếu không xoay sở được tiền thì rất nhanh chóng dẫn tới hành động trộm cắp, cướp giật, lừa đảo để kiếm tiền.
Có thể nói, sự thiếu quan tâm của gia đình là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến việc để người chưa thành niên đi vào con đường phạm tội. Đa số người chưa thành niên có vấn đề về tâm lý, chán nản, bỏ học, lêu lổng, đua đòi ăn chơi... mà gia đình hoàn toàn không hay biết. Hoặc khi biết được tin người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự thì gia đình lại trách mắng, chửi bới hoặc bỏ rơi họ. Như vậy, sự thiếu quan tâm từ phía gia đình luôn là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật hình sự của người chưa thành niên.
Thứ hai, về sự quản lý, giáo dục từ phía nhà trường.
Tình hình người chưa thành niên phạm tội có sự khác nhau giữa mỗi vùng, miền, khu vực. Đặc biệt, ở các thành phố lớn, các khu đô thị đông dân, các khu công nghiệp phát triển thì tỷ lệ người dưới 18 tuổi phạm tội lớn hơn rất nhiều so với các tỉnh, thành phố ở địa phương, các khu vực thuần nông. Theo thống kê của Công an Thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2018 đến hết quý I năm 2021, Thành phố có 884 nghi phạm là người dưới 18 tuổi. Trong đó, giết người 11 vụ, cướp tài sản 47 vụ, hiếp dâm - cưỡng dâm 08 vụ, cố ý gây thương tích 70 vụ, trộm cắp, cướp giật 290 vụ, mua bán tàng trữ ma túy 17 vụ...; người dưới 16 tuổi phạm tội chiếm hơn 30%[7]. Về trình độ văn hóa, có 3,75% không biết chữ, tiểu học chiếm 29,33%, trung học cơ sở chiếm 46,51%, trung học phổ thông chiếm 20,41%. Trong 884 nghi phạm, có đến 553 đối tượng đã bỏ học (chiếm 71,44%).
Có thể nhận diện hai yếu tố của nhà trường ảnh hưởng đến việc phạm tội của học sinh, đó là cơ chế quản lý còn lỏng lẻo, thiếu sót, chưa có sự phối hợp hiệu quả giữa gia đình và nhà trường và chưa thực sự đầu tư vào công tác trang bị kỹ năng sống cho học sinh[8]. Hiện nay, công tác giáo dục đạo đức, giáo dục công dân, giáo dục ý thức pháp luật và quản lý học sinh trong nhà trường còn nhiều hạn chế; sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội chưa chặt chẽ, thường xuyên trong việc quản lý, giáo dục, phát hiện, ngăn chặn, xử lý các em có biểu hiện vi phạm pháp luật; một số nhà trường sợ ảnh hưởng đến thành tích và danh dự nên không kịp thời báo cáo lực lượng chức năng để có biện pháp quản lý giáo dục[9]…
3. Giải pháp phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội
Thứ nhất, về xây dựng pháp luật:
- Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì tuổi chịu trách nhiệm hình sự của Việt Nam là từ đủ 14 tuổi và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Trên thực tiễn, có rất nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng do người dưới 14 tuổi gây ra nhưng không thể xử lý bằng hình sự, nhiều vụ án do người dưới 18 tuổi phạm tội không thể đưa ra xét xử được vì các đối tượng này mới chỉ ở độ tuổi đủ 14 đến dưới 16 tuổi nhưng chỉ phạm các tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, kể cả họ phạm tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, nhưng những tội đó không phải là quy định trong 28 điều luật mà Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đối, bổ sung năm 2017) đã liệt kê thì họ có phạm tội cũng chỉ xử lý hành chính. Việc quy định như vậy là chưa phù hợp với thực tế tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật do người chưa thành niên thực hiện trong thời gian qua và sẽ tạo ra kẽ hở cho các đối tượng phạm tội sử dụng người chưa thành niên vào việc thực hiện tội phạm. Do vậy, theo quan điểm của chúng tôi, để phòng ngừa hiệu quả việc người chưa thành niên phạm tội, thay vì hạ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay hạ độ tuổi người chưa thành niên thì nên sửa đổi Bộ luật Hình sự theo hướng tăng mức hình phạt khi xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội vì với thực trạng ngày càng gia tăng người chưa thành niên phạm tội hiện nay, chúng ta cũng cần có sự thay đổi về chính sách hình sự theo hướng nghiêm khắc hơn cho phù hợp. Điều đó cũng không trái với nội dung của các Công ước quốc tế khi quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay độ tuổi chưa thành niên là do quy định của mỗi quốc gia thành viên.
- Có sự không thống nhất giữa các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) trong phần chung và phần các tội phạm cụ thể như: Tại Điều 145 có quy định về tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là: “Người nào đã đủ 18 tuổi mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm…”. Điều 146 về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi cũng quy định: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm…”. Như vậy, theo cấu thành cơ bản của hai tội này thì chỉ những người từ đủ 18 tuổi trở lên khi có hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc dâm ô đối với người dưới 16 tuổi mới bị xử lý về hình sự, còn những người dưới 18 tuổi cho dù mức độ phạm tội có là bao nhiêu lần cũng không bị xử lý hình sự. Quy định như vậy, theo chúng tôi là chưa hợp lý so với thực tiễn hiện nay, mâu thuẫn với quy định tại các điều 142 và 144. Do vậy, để khắc phục sự mâu thuẫn giữa các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội, theo chúng tôi, cần sửa đổi quy định tại cấu thành cơ bản của các điều 145 và 146 theo hướng, không quy định trong cấu thành cơ bản của hai điều luật này là “người nào đã đủ 18 tuổi…” mà nên quy định như cấu thành cơ bản của các điều 141, 142, 143, 144 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Thứ hai, về áp dụng pháp luật: Việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội phải được vận dụng, thực hiện một cách nghiêm túc, đầy đủ để bảo đảm quyền của người chưa thành niên. Bên cạnh đó, hệ thống tư pháp cho người chưa thành niên cần bảo đảm rằng, các biện pháp tước tự do của người chưa thành niên như tạm giữ, tạm giam, đưa vào trường giáo dưỡng và phạt tù có thời hạn là biện pháp cuối cùng và chỉ áp dụng với những trẻ em phạm tội nghiêm trọng mang tính bạo lực hoặc liên tục phạm các tội nghiêm trọng khác. Bên cạnh đó, cần áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng để giải quyết các tội phạm hoặc hành vi vi phạm pháp luật do người chưa thành niên thực hiện, như hòa giải, giáo dục tại cộng đồng, thay thế cho thủ tục xử lý chính thức[10] để các em nhận thức được sai lầm của mình, có cơ hội sửa chữa, cải tạo để trở thành những công dân tốt, sống có ích cho xã hội.
Thứ ba, tăng cường các biện pháp quản lý xã hội, đặc biệt là quản lý trên không gian mạng: Việc trẻ em tiếp cận với những thông tin, đặc biệt là những thông tin trên không gian mạng cần phải có sự quản lý chặt chẽ của gia đình và của nhà trường. Nhà nước cũng cần phải ban hành và thực hiện các quy phạm pháp luật để quản lý chặt chẽ nhà mạng, quản lý các hoạt động kinh doanh, giáo dục có liên quan đến đạo đức, phải nhận thức và phát triển hình thành nhân cách của trẻ em. Các hoạt động kinh doanh có tính bạo lực, kích động bạo lực, lôi kéo làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển, hình thành nhân cách của trẻ em thì phải nghiêm cấm và xử lý kịp thời.
Thứ tư, nâng cao vai trò của gia đình, nhà trường: Để phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội, trước tiên, cần đẩy mạnh giáo dục gia đình. Bởi lẽ, gia đình có ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành nhân cách mỗi cá nhân. Mỗi đứa trẻ bắt đầu bắt chước hành vi, ứng xử, biểu cảm của mỗi thành viên trong gia đình. Gia đình phải là chủ thể quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống; kiểm soát được các mối quan hệ xã hội của chính con em mình để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những lệch lạc, sai trái. Khi người chưa thành niên biết sống phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội thì sẽ hạn chế được nguy cơ phạm tội. Gia đình nên giới thiệu các kiến thức pháp luật một cách có lựa chọn, có hệ thống nhằm giúp cho các em hiểu được đâu là hành vi hợp pháp, đâu là những hành vi vi phạm pháp luật, biết mình nên làm gì và không nên làm gì. Như vậy, sẽ hình thành cho các em ý thức tránh xa hành vi vi phạm pháp luật và phạm tội sau này.

Lê Bá Đức & Phạm Quỳnh Hương
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh



[1]. Vũ Ngọc Bình (1996), Tư pháp với người chưa thành niên và quyền trẻ em (Juvenile Justice and the rights of the Child), Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 13.
[2]. Phòng ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp luật - Thực trạng và giải pháp, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 70.
[3]. Đoàn Văn Báu (2017), “Nguyên nhân tâm lý nảy sinh hành vi vi phạm pháp luật hình sự của người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Giải pháp phòng ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp luật, Đồng Nai.
[4]. Trần Quang Thông, Hoàng Minh Đức (2017), Tư pháp hình sự người chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Chuyên khảo), Nxb. Công an nhân dân, tr. 14 - 15.
[5]. Nguyễn Minh Đức (2014), Nguyên nhân, điều kiện người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự và giải pháp phòng ngừa, Nxb. Tư pháp, tr. 45.
[6]. Nguyễn Thị Hà (2021), “Ảnh hưởng của môi trường sống đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên”, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 120, tr. 90.
[7]. Thành Trung (2019), “Nhức nhối thực trạng “trẻ hóa” tội phạm,” Báo pháp luật, https://baophapluat.vn/nhuc-nhoithuc-trang-tre-hoa-toi-pham-post325924.html, truy cập ngày 19/6/2022.
[8]. Phạm Văn Thanh, Nguyễn Thọ Hải (Chủ biên), 2018, Phòng ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp luật - Thực trạng và giải pháp, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 73.
[9]. Hoàng Việ̣t Hùng (2017), “Tình trạng người chưa thành niên vi phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và những giải pháp phòng ngừa từ phía nhà trường”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Giải pháp phòng ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp luật, Đồng Nai.
[10]. Bộ Tư Pháp (2019), Báo cáo nghiên cứu pháp luật về phòng ngừa, xử lý, phục hồi, tài hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại Việt Nam, Hà Nội, tr. 96.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
“Du lịch Net Zero” - Bảo tồn giá trị văn hóa, kiến tạo hành trình xanh (kỳ 2)

“Du lịch Net Zero” - Bảo tồn giá trị văn hóa, kiến tạo hành trình xanh (kỳ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“Du lịch Net Zero” - Bảo tồn giá trị văn hóa, kiến tạo hành trình xanh (kỳ 1)

“Du lịch Net Zero” - Bảo tồn giá trị văn hóa, kiến tạo hành trình xanh (kỳ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: