Thứ sáu 05/12/2025 10:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật theo pháp luật Việt Nam

Theo Báo cáo Nghiên cứu tình hình thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật tại Việt Nam năm 2016 của Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, có 61,2% người khuyết tật tham gia nghiên cứu trả lời về việc gặp khó khăn trong tiếp cận cơ sở vật chất tại nơi làm việc; 59,9% người gặp khó khăn khi tiếp cận phương tiện giao thông công cộng; 51,9% người gặp khó khăn khi tiếp cận các công trình công cộng.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình phát triển bền vững của xã hội loài người, thực thi nhân quyền là một trong những vấn đề quan trọng và cấp thiết mà Nhà nước phải hướng đến. Đặc biệt, việc bảo vệ quyền của nhóm yếu thế trong xã hội là người khuyết tật cần phải được đề cao, vấn đề này cũng là một trong những tiêu chí cốt lõi để đánh giá sự phát triển bền vững của Việt Nam.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, năm 2021, ước tính có khoảng 1,3 tỷ người, chiếm 16% dân số thế giới bị khuyết tật nghiêm trọng. Dự báo con số này sẽ tăng lên do sự gia tăng những căn bệnh không lây nhiễm và sự già hóa dân số[1]. Riêng tại Việt Nam, theo kết quả điều tra quy mô lớn đầu tiên tại Việt Nam năm 2016 thì kết quả điều tra hộ gia đình cho thấy 7,06% dân số từ 02 tuổi trở lên là người khuyết tật[2]. Như vậy, người khuyết tật chiếm tỷ lệ rất lớn trong xã hội, họ là nhóm yếu thế rất dễ bị tổn thương nên cần được quan tâm, hỗ trợ từ mọi nguồn lực để xóa bỏ sự mặc cảm, kỳ thị.

Trên thực tế, có rất ít công trình công cộng phục vụ cho việc đi lại của người khuyết tật được xây dựng bảo đảm tính tiếp cận. Theo Báo cáo Nghiên cứu tình hình thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật tại Việt Nam năm 2016 của Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, có 61,2% người khuyết tật tham gia nghiên cứu trả lời về việc gặp khó khăn trong tiếp cận cơ sở vật chất tại nơi làm việc; 59,9% người gặp khó khăn khi tiếp cận phương tiện giao thông công cộng; 51,9% người gặp khó khăn khi tiếp cận các công trình công cộng. Theo số liệu thống kê của Bộ Xây dựng cũng được cung cấp trong Báo cáo trên, Việt Nam mới chỉ có 20,8% số công trình giáo dục; 11,3% trung tâm hội nghị, trụ sở cơ quan; 3,8% nhà thi đấu, bưu điện, nhà ga, cửa khẩu bảo đảm tiếp cận đối với người khuyết tật. Với thực trạng như vậy, tính đến thời điểm hiện tại đều chưa thể đáp ứng yêu cầu về lộ trình quy định tại Điều 40 Luật Người khuyết tật năm 2010 là đến năm 2020, các công trình công cộng (như trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước; nhà ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục, dạy nghề; công trình văn hóa, thể dục, thể thao) phải bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật.

Chúng ta phải thừa nhận rằng, việc sử dụng người lao động khuyết tật cũng gây nhiều khó khăn cho phía người sử dụng lao động (NSDLĐ). Bên cạnh khó khăn trong việc quản lý, điều hành người lao động khuyết tật thì cũng cần đầu tư nhiều chi phí để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho người khuyết tật theo quy định của pháp luật, mà có thể năng suất lao động thấp. Đa số trường hợp sử dụng lao động khuyết tật thông thường mang tính chất nhân đạo nhiều hơn dựa trên nhu cầu của NSDLĐ. Vì vậy, việc Nhà nước có biện pháp hỗ trợ phù hợp để kích thích, tạo động lực cho NSDLĐ thuê mướn người lao động khuyết tật tham gia lao động là rất cấp thiết, giảm thiểu gánh nặng tài chính cho NSDLĐ, tạo điều kiện cho người lao động khuyết tật tìm kiếm việc làm, tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần giảm thiểu sự mặc cảm, áp lực tâm lý của người lao động khuyết tật, cao hơn nữa là góp phần phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam bền vững.

Tuy nhiên, những ưu đãi của Nhà nước đối với người lao động khuyết tật hiện nay còn nhiều vấn đề chưa phù hợp, đặc biệt là ưu đãi hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật còn chưa đồng bộ, chồng chéo, thiếu sót nên việc triển khai trên thực tế gặp không ít khó khăn. Trong bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam về ưu đãi thuế và khó khăn trong việc triển khai các quy định này trong thực tiễn, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện.

2. Quy định pháp luật về hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật và một số kiến nghị

Người khuyết tật là những người có những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần nên gặp khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập. Khoản 3 Điều 33 Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định: “Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật”. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho người khuyết tật có thể thuận tiện trong công việc, sinh hoạt cá nhân. Người khuyết tật là đối tượng đặc thù nên cần có những điều kiện, môi trường làm việc khác biệt so với những lao động không khuyết tật.

Trên thực tế, do sự hạn chế trong các hoạt động nên việc tiếp cận việc làm của người khuyết tật đang gặp rất nhiều khó khăn vì nhà tuyển dụng “e ngại” tuyển dụng người khuyết tật. Nguyên nhân có thể là kỳ thị, năng suất lao động thấp, đặc biệt là phải tốn thêm chi phí để xây dựng môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật theo quy định của pháp luật. Vì vậy, để thúc đẩy NSDLĐ thuê mướn người lao động khuyết tật để tham gia sản xuất, kinh doanh, Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi, trong đó có ưu đãi hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật. Giải pháp này vừa giúp NSDLĐ giảm gánh nặng tài chính khi xây dựng cơ sở vật chất đủ điều kiện luật định, vừa xây dựng môi trường làm việc hòa nhập cho người khuyết tật để giúp họ có việc làm bền vững, có thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình.

2.1. Điều kiện được hỗ trợ

Có hai nhóm chủ thể trong hai trường hợp sau sẽ được hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật:

Trường hợp 1: Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật[3]. Trong đó, hiểu thế nào là “cơ sở sản xuất, kinh doanh” chúng ta cần viện dẫn đến khoản 1 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015: “Cơ sở sản xuất, kinh doanh là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình và các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh”. Có thể thấy, chủ thể được hưởng kinh phí hỗ trợ rất rộng thuộc các thành phần kinh tế với điều kiện phải thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đối với chủ thể thuê mướn người lao động khuyết tật thực hiện sản xuất tự cung, tự cấp sẽ không thuộc đối tượng được hỗ trợ kinh phí. Cách tính tỷ lệ người lao động khuyết tật trên tổng số lao động được áp dụng theo khoản 1 Điều 2 Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2012 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn một số điều của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật (Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH).

Trường hợp 2: Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng từ 10 người khuyết
tật vào làm việc ổn định sẽ được hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật[4]. Từ quy định này có hai vấn đề pháp lý đặt ra:

Một là, sử dụng người khuyết tật vào “làm việc ổn định”, vậy thế nào là “làm việc ổn đinh” hiện nay vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn thi hành. Điều này tạo ra hoang mang cho chủ thể sử dụng lao động người khuyết tật là thuê mướn bao lâu sẽ được hưởng ưu đãi? Đối với cơ quan quản lý nhà nước cũng sẽ gặp khó khăn, lúng túng khi xem xét hỗ trợ.

Từ đó, tác giả kiến nghị, cần có hướng dẫn thống nhất cách xác định thế nào là “làm việc ổn định”. Theo tác giả thì có thể tham khảo đến quy định về loại hợp đồng lao động trong Bộ luật Lao động năm 2012 (gồm 03 loại) và Bộ luật Lao động năm 2019 (gồm 02 loại). Làm việc ổn định có thể hiểu là người lao động được ký hợp đồng lao động làm những công việc có tính chất thường xuyên, lâu dài. Tham khảo tinh thần quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 về loại hợp đồng xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc loại hợp đồng không xác định thời hạn thì giữa người lao động và người sử dụng lao động đã cam kết làm việc ổn định, lâu dài. Tác giả ủng hộ giải thích pháp luật theo hướng là xác định điều kiện “làm việc ổn định” là giữa 02 bên đã ký kết loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn hay loại hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên.

Hai là, trong quy định trên chưa rõ ràng về chủ thể là “hợp tác xã, hộ gia đình” có được hỗ trợ hay không? Vì theo pháp luật hiện hành, hai chủ thể này không được xem là loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là, nếu hợp tác xã và hộ gia đình sử dụng trên 10 lao động là người khuyết tật nhưng lại chưa đủ 30% tổng số lao động thì có được hỗ trợ kinh phí này hay không? Tác giả cho rằng, hợp tác xã, hộ gia đình có thể được hiểu là một loại tổ chức sử dụng từ 10 người khuyết tật.

2.2. Mức hỗ trợ và hình thức hỗ trợ

Điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật quy định: Mức hỗ trợ theo tỷ lệ người khuyết tật làm việc ổn định tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô của cơ sở sản xuất, kinh doanh theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định mức kinh phí hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc cho cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật.

Pháp luật hiện hành không ấn định mức hỗ trợ cụ thể đối với người sử dụng lao động khuyết tật mà việc hỗ trợ sẽ được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố như: Tỷ lệ sử dụng lao động khuyết tật (tính theo Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH), mức độ khuyết tật dựa vào giấy xác nhận khuyết tật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, quy mô của cơ sở sản xuất (lớn, vừa, nhỏ). Từ những yếu tố trên cùng với tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động quyết định mức hỗ trợ cho người sử dụng lao động khuyết tật đủ điều kiện trên.

Đối với việc hỗ trợ cho trường hợp cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng từ 10 người khuyết tật làm việc thì Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH chưa quy định về điều kiện, mức hỗ trợ, trình tự, thủ tục để được hỗ trợ. Theo nghiên cứu của tác giả thì cũng chưa có văn bản nào khác quy định để tháo gỡ vấn đề này, đây là một khoảng trống pháp luật cần có hướng dẫn thi hành.

Tuy nhiên, việc tiếp cận chính sách về hỗ trợ cho cơ sở sản xuất, kinh doanh cải thiện điều kiện và môi trường làm việc cho người khuyết tật (bao gồm cải thiện khả năng tiếp cận cho nhân viên khuyết tật) trong thực tiễn còn rất khó khăn. Nguyên nhân là do quy định này vẫn chưa được hướng dẫn chi tiết về danh mục, tiêu chí xác định và mức hỗ trợ. Báo cáo về tình hình việc làm của người khuyết tật tại 08 tỉnh ở Việt Nam cho thấy, chưa có cơ sở sản xuất, kinh doanh nào tiếp cận được với chính sách hỗ trợ này[5].

2.3. Hỗ trợ tư vấn doanh nghiệp thiết lập môi trường làm việc hòa nhập

Khoản 3 Điều 33 Luật Người khuyết tật hiện hành quy định “Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật”. Tuy nhiên, tiêu chí để xác định như thế nào là môi trường làm việc “phù hợp” thì chưa có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành.

Nhiều doanh nghiệp quan tâm đến việc sử dụng người khuyết tật lại thiếu hiểu biết về cách thức để thiết lập một môi trường làm việc hòa nhập và vì vậy thường bỏ qua việc đầu tư về môi trường làm việc do e ngại về chi phí tài chính cho những sự thay đổi đó. Mặt khác, đối với từng loại khuyết tật khác nhau thì người khuyết tật cũng sẽ cần đáp ứng những nhu cầu về công cụ lao động phù hợp, lối đi, chỗ ngồi… nhưng làm thế nào để “phù hợp” thì pháp luật cũng chưa có tiêu chí, tiêu chuẩn để đánh giá. Do vậy, người khuyết tật đã và đang gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận điều kiện và môi trường làm việc. Theo Báo cáo nghiên cứu tình hình thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật tại Việt Nam năm 2016 của Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, có tới 61,2% người khuyết tật tham gia nghiên cứu trả lời rằng họ gặp khó khăn về tiếp cận cơ sở vật chất tại nơi làm việc, 59,9% người gặp khó khăn khi tiếp cận phương tiện giao thông công cộng, 51,9% người gặp khó khăn khi tiếp cận các công trình công cộng[6]. Vì vậy, bên cạnh việc “hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật”, tác giả cho rằng, Nhà nước cần thành lập một tổ chức tư vấn, thiết kế miễn phí để hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng người khuyết tật xây dựng được môi trường làm việc hòa nhập nhằm tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động của người khuyết tật. Điều này cũng khuyến khích NSDLĐ mạnh dạn hơn trong tuyển dụng người khuyết tật làm việc.

Nguyễn Thị Hồng Vân

Đại học Đồng Tháp


[1] WHO, 2022, Global report on health equity for persons with disabilities, https://www.who.int/publications/i/item/9789240063600.

[2] Tổng cục Thống kê Việt Nam (2016), Điều tra quốc gia về người khuyết tật 2016, tr. 15.

[3] Điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.

[4] Điều 10 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.

[5] Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam (2018), Báo cáo nghiên cứu, đánh giá thực hiện các quy định của Bộ luật Lao động và các văn bản liên quan đến lao động là người khuyết tật, tr. 32.

[6] Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam (2016), Báo cáo nghiên cứu tình hình thực hiện Công ước của Liên Hợp quốc về quyền của người khuyết tật tại Việt Nam, Hà Nội, tr. 21.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: