Thứ bảy 16/05/2026 22:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật theo pháp luật Việt Nam

Theo Báo cáo Nghiên cứu tình hình thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật tại Việt Nam năm 2016 của Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, có 61,2% người khuyết tật tham gia nghiên cứu trả lời về việc gặp khó khăn trong tiếp cận cơ sở vật chất tại nơi làm việc; 59,9% người gặp khó khăn khi tiếp cận phương tiện giao thông công cộng; 51,9% người gặp khó khăn khi tiếp cận các công trình công cộng.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình phát triển bền vững của xã hội loài người, thực thi nhân quyền là một trong những vấn đề quan trọng và cấp thiết mà Nhà nước phải hướng đến. Đặc biệt, việc bảo vệ quyền của nhóm yếu thế trong xã hội là người khuyết tật cần phải được đề cao, vấn đề này cũng là một trong những tiêu chí cốt lõi để đánh giá sự phát triển bền vững của Việt Nam.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, năm 2021, ước tính có khoảng 1,3 tỷ người, chiếm 16% dân số thế giới bị khuyết tật nghiêm trọng. Dự báo con số này sẽ tăng lên do sự gia tăng những căn bệnh không lây nhiễm và sự già hóa dân số[1]. Riêng tại Việt Nam, theo kết quả điều tra quy mô lớn đầu tiên tại Việt Nam năm 2016 thì kết quả điều tra hộ gia đình cho thấy 7,06% dân số từ 02 tuổi trở lên là người khuyết tật[2]. Như vậy, người khuyết tật chiếm tỷ lệ rất lớn trong xã hội, họ là nhóm yếu thế rất dễ bị tổn thương nên cần được quan tâm, hỗ trợ từ mọi nguồn lực để xóa bỏ sự mặc cảm, kỳ thị.

Trên thực tế, có rất ít công trình công cộng phục vụ cho việc đi lại của người khuyết tật được xây dựng bảo đảm tính tiếp cận. Theo Báo cáo Nghiên cứu tình hình thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật tại Việt Nam năm 2016 của Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, có 61,2% người khuyết tật tham gia nghiên cứu trả lời về việc gặp khó khăn trong tiếp cận cơ sở vật chất tại nơi làm việc; 59,9% người gặp khó khăn khi tiếp cận phương tiện giao thông công cộng; 51,9% người gặp khó khăn khi tiếp cận các công trình công cộng. Theo số liệu thống kê của Bộ Xây dựng cũng được cung cấp trong Báo cáo trên, Việt Nam mới chỉ có 20,8% số công trình giáo dục; 11,3% trung tâm hội nghị, trụ sở cơ quan; 3,8% nhà thi đấu, bưu điện, nhà ga, cửa khẩu bảo đảm tiếp cận đối với người khuyết tật. Với thực trạng như vậy, tính đến thời điểm hiện tại đều chưa thể đáp ứng yêu cầu về lộ trình quy định tại Điều 40 Luật Người khuyết tật năm 2010 là đến năm 2020, các công trình công cộng (như trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước; nhà ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục, dạy nghề; công trình văn hóa, thể dục, thể thao) phải bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật.

Chúng ta phải thừa nhận rằng, việc sử dụng người lao động khuyết tật cũng gây nhiều khó khăn cho phía người sử dụng lao động (NSDLĐ). Bên cạnh khó khăn trong việc quản lý, điều hành người lao động khuyết tật thì cũng cần đầu tư nhiều chi phí để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho người khuyết tật theo quy định của pháp luật, mà có thể năng suất lao động thấp. Đa số trường hợp sử dụng lao động khuyết tật thông thường mang tính chất nhân đạo nhiều hơn dựa trên nhu cầu của NSDLĐ. Vì vậy, việc Nhà nước có biện pháp hỗ trợ phù hợp để kích thích, tạo động lực cho NSDLĐ thuê mướn người lao động khuyết tật tham gia lao động là rất cấp thiết, giảm thiểu gánh nặng tài chính cho NSDLĐ, tạo điều kiện cho người lao động khuyết tật tìm kiếm việc làm, tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần giảm thiểu sự mặc cảm, áp lực tâm lý của người lao động khuyết tật, cao hơn nữa là góp phần phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam bền vững.

Tuy nhiên, những ưu đãi của Nhà nước đối với người lao động khuyết tật hiện nay còn nhiều vấn đề chưa phù hợp, đặc biệt là ưu đãi hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật còn chưa đồng bộ, chồng chéo, thiếu sót nên việc triển khai trên thực tế gặp không ít khó khăn. Trong bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam về ưu đãi thuế và khó khăn trong việc triển khai các quy định này trong thực tiễn, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện.

2. Quy định pháp luật về hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật và một số kiến nghị

Người khuyết tật là những người có những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần nên gặp khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập. Khoản 3 Điều 33 Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định: “Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật”. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho người khuyết tật có thể thuận tiện trong công việc, sinh hoạt cá nhân. Người khuyết tật là đối tượng đặc thù nên cần có những điều kiện, môi trường làm việc khác biệt so với những lao động không khuyết tật.

Trên thực tế, do sự hạn chế trong các hoạt động nên việc tiếp cận việc làm của người khuyết tật đang gặp rất nhiều khó khăn vì nhà tuyển dụng “e ngại” tuyển dụng người khuyết tật. Nguyên nhân có thể là kỳ thị, năng suất lao động thấp, đặc biệt là phải tốn thêm chi phí để xây dựng môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật theo quy định của pháp luật. Vì vậy, để thúc đẩy NSDLĐ thuê mướn người lao động khuyết tật để tham gia sản xuất, kinh doanh, Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi, trong đó có ưu đãi hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật. Giải pháp này vừa giúp NSDLĐ giảm gánh nặng tài chính khi xây dựng cơ sở vật chất đủ điều kiện luật định, vừa xây dựng môi trường làm việc hòa nhập cho người khuyết tật để giúp họ có việc làm bền vững, có thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình.

2.1. Điều kiện được hỗ trợ

Có hai nhóm chủ thể trong hai trường hợp sau sẽ được hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật:

Trường hợp 1: Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật[3]. Trong đó, hiểu thế nào là “cơ sở sản xuất, kinh doanh” chúng ta cần viện dẫn đến khoản 1 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015: “Cơ sở sản xuất, kinh doanh là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình và các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh”. Có thể thấy, chủ thể được hưởng kinh phí hỗ trợ rất rộng thuộc các thành phần kinh tế với điều kiện phải thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đối với chủ thể thuê mướn người lao động khuyết tật thực hiện sản xuất tự cung, tự cấp sẽ không thuộc đối tượng được hỗ trợ kinh phí. Cách tính tỷ lệ người lao động khuyết tật trên tổng số lao động được áp dụng theo khoản 1 Điều 2 Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2012 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn một số điều của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật (Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH).

Trường hợp 2: Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng từ 10 người khuyết
tật vào làm việc ổn định sẽ được hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật[4]. Từ quy định này có hai vấn đề pháp lý đặt ra:

Một là, sử dụng người khuyết tật vào “làm việc ổn định”, vậy thế nào là “làm việc ổn đinh” hiện nay vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn thi hành. Điều này tạo ra hoang mang cho chủ thể sử dụng lao động người khuyết tật là thuê mướn bao lâu sẽ được hưởng ưu đãi? Đối với cơ quan quản lý nhà nước cũng sẽ gặp khó khăn, lúng túng khi xem xét hỗ trợ.

Từ đó, tác giả kiến nghị, cần có hướng dẫn thống nhất cách xác định thế nào là “làm việc ổn định”. Theo tác giả thì có thể tham khảo đến quy định về loại hợp đồng lao động trong Bộ luật Lao động năm 2012 (gồm 03 loại) và Bộ luật Lao động năm 2019 (gồm 02 loại). Làm việc ổn định có thể hiểu là người lao động được ký hợp đồng lao động làm những công việc có tính chất thường xuyên, lâu dài. Tham khảo tinh thần quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 về loại hợp đồng xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc loại hợp đồng không xác định thời hạn thì giữa người lao động và người sử dụng lao động đã cam kết làm việc ổn định, lâu dài. Tác giả ủng hộ giải thích pháp luật theo hướng là xác định điều kiện “làm việc ổn định” là giữa 02 bên đã ký kết loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn hay loại hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên.

Hai là, trong quy định trên chưa rõ ràng về chủ thể là “hợp tác xã, hộ gia đình” có được hỗ trợ hay không? Vì theo pháp luật hiện hành, hai chủ thể này không được xem là loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là, nếu hợp tác xã và hộ gia đình sử dụng trên 10 lao động là người khuyết tật nhưng lại chưa đủ 30% tổng số lao động thì có được hỗ trợ kinh phí này hay không? Tác giả cho rằng, hợp tác xã, hộ gia đình có thể được hiểu là một loại tổ chức sử dụng từ 10 người khuyết tật.

2.2. Mức hỗ trợ và hình thức hỗ trợ

Điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật quy định: Mức hỗ trợ theo tỷ lệ người khuyết tật làm việc ổn định tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô của cơ sở sản xuất, kinh doanh theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định mức kinh phí hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc cho cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật.

Pháp luật hiện hành không ấn định mức hỗ trợ cụ thể đối với người sử dụng lao động khuyết tật mà việc hỗ trợ sẽ được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố như: Tỷ lệ sử dụng lao động khuyết tật (tính theo Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH), mức độ khuyết tật dựa vào giấy xác nhận khuyết tật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, quy mô của cơ sở sản xuất (lớn, vừa, nhỏ). Từ những yếu tố trên cùng với tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động quyết định mức hỗ trợ cho người sử dụng lao động khuyết tật đủ điều kiện trên.

Đối với việc hỗ trợ cho trường hợp cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng từ 10 người khuyết tật làm việc thì Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH chưa quy định về điều kiện, mức hỗ trợ, trình tự, thủ tục để được hỗ trợ. Theo nghiên cứu của tác giả thì cũng chưa có văn bản nào khác quy định để tháo gỡ vấn đề này, đây là một khoảng trống pháp luật cần có hướng dẫn thi hành.

Tuy nhiên, việc tiếp cận chính sách về hỗ trợ cho cơ sở sản xuất, kinh doanh cải thiện điều kiện và môi trường làm việc cho người khuyết tật (bao gồm cải thiện khả năng tiếp cận cho nhân viên khuyết tật) trong thực tiễn còn rất khó khăn. Nguyên nhân là do quy định này vẫn chưa được hướng dẫn chi tiết về danh mục, tiêu chí xác định và mức hỗ trợ. Báo cáo về tình hình việc làm của người khuyết tật tại 08 tỉnh ở Việt Nam cho thấy, chưa có cơ sở sản xuất, kinh doanh nào tiếp cận được với chính sách hỗ trợ này[5].

2.3. Hỗ trợ tư vấn doanh nghiệp thiết lập môi trường làm việc hòa nhập

Khoản 3 Điều 33 Luật Người khuyết tật hiện hành quy định “Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật”. Tuy nhiên, tiêu chí để xác định như thế nào là môi trường làm việc “phù hợp” thì chưa có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành.

Nhiều doanh nghiệp quan tâm đến việc sử dụng người khuyết tật lại thiếu hiểu biết về cách thức để thiết lập một môi trường làm việc hòa nhập và vì vậy thường bỏ qua việc đầu tư về môi trường làm việc do e ngại về chi phí tài chính cho những sự thay đổi đó. Mặt khác, đối với từng loại khuyết tật khác nhau thì người khuyết tật cũng sẽ cần đáp ứng những nhu cầu về công cụ lao động phù hợp, lối đi, chỗ ngồi… nhưng làm thế nào để “phù hợp” thì pháp luật cũng chưa có tiêu chí, tiêu chuẩn để đánh giá. Do vậy, người khuyết tật đã và đang gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận điều kiện và môi trường làm việc. Theo Báo cáo nghiên cứu tình hình thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật tại Việt Nam năm 2016 của Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, có tới 61,2% người khuyết tật tham gia nghiên cứu trả lời rằng họ gặp khó khăn về tiếp cận cơ sở vật chất tại nơi làm việc, 59,9% người gặp khó khăn khi tiếp cận phương tiện giao thông công cộng, 51,9% người gặp khó khăn khi tiếp cận các công trình công cộng[6]. Vì vậy, bên cạnh việc “hỗ trợ kinh phí cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật”, tác giả cho rằng, Nhà nước cần thành lập một tổ chức tư vấn, thiết kế miễn phí để hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng người khuyết tật xây dựng được môi trường làm việc hòa nhập nhằm tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động của người khuyết tật. Điều này cũng khuyến khích NSDLĐ mạnh dạn hơn trong tuyển dụng người khuyết tật làm việc.

Nguyễn Thị Hồng Vân

Đại học Đồng Tháp


[1] WHO, 2022, Global report on health equity for persons with disabilities, https://www.who.int/publications/i/item/9789240063600.

[2] Tổng cục Thống kê Việt Nam (2016), Điều tra quốc gia về người khuyết tật 2016, tr. 15.

[3] Điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.

[4] Điều 10 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.

[5] Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam (2018), Báo cáo nghiên cứu, đánh giá thực hiện các quy định của Bộ luật Lao động và các văn bản liên quan đến lao động là người khuyết tật, tr. 32.

[6] Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam (2016), Báo cáo nghiên cứu tình hình thực hiện Công ước của Liên Hợp quốc về quyền của người khuyết tật tại Việt Nam, Hà Nội, tr. 21.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: