Thứ hai 17/08/2026 08:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghĩa vụ liên đới và những khó khăn trong tổ chức thi hành

Thi hành án đối với nghĩa vụ liên đới là một trong những nghĩa vụ mà cơ quan thi hành án dân sự (THADS) thường xuyên phải tổ chức thi hành. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc tổ chức thi hành nghĩa vụ này gặp rất nhiều khó khăn. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích một số khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.


Theo Từ điển Tiếng Việt, “liên đới” là “có sự ràng buộc lẫn nhau (thường về mặt trách nhiệm)”[1]. Có thể hiểu “trách nhiệm dân sự liên đới” là trách nhiệm của hai hay nhiều người cùng phải thực hiện vì lợi ích của người khác theo các căn cứ do pháp luật quy định[2]. “Nghĩa vụ liên đới” là quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 298) được kế thừa tại Bộ luật Dân sự năm 2015, với mục đích nhằm bảo đảm quyền lợi cho người có quyền, giúp họ thực hiện được quyền của mình một cách thuận lợi hơn so với nghĩa vụ dân sự riêng rẽ như: Được yêu cầu một trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hoặc có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ[3]

Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình. Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.

Mặc dù Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có các quy định về thi hành nghĩa vụ liên đới, tuy nhiên, trong thực tiễn, việc tổ chức thi hành án đối với nghĩa vụ dân sự liên đới còn gặp không ít khó khăn.

1. Về tổ chức thi hành án đối với nghĩa vụ liên đới

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP); Điều 1 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục THADS và phối hợp liên ngành trong THADS (Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC) thì đối với trường hợp thi hành quyền, nghĩa vụ liên đới, cơ quan THADS ra một quyết định thi hành án chung cho những người có quyền, nghĩa vụ liên đới; trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu một hoặc một số người trong những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thì cơ quan THADS ra quyết định thi hành án đối với người đó.

Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên nghĩa vụ liên đới nhưng không xác định hoặc xác định rõ phần nghĩa vụ của từng người, thì trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan THADS có quyền yêu cầu một hoặc một số người bất kỳ có điều kiện thi hành án trong số những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới. Người đã thực hiện thay phần nghĩa vụ thi hành án có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ liên đới khác thanh toán lại phần nghĩa vụ mà người đó đã thực hiện thay cho họ theo quy định của pháp luật dân sự. Trường hợp người được thi hành án có ý kiến bằng văn bản đồng ý cho một hoặc một số người trong số những người phải thi hành nghĩa vụ liên đới không thi hành phần nghĩa vụ của họ thì phần nghĩa vụ không yêu cầu thi hành án được đình chỉ theo quy định (Điều 11 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC).

Theo đó, trong trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới thì một hoặc một số người trong số những người phải thi hành án đã thi hành xong phần nghĩa vụ của mình mà có điều kiện thi hành thì chấp hành viên vẫn có quyền yêu cầu họ phải thi hành phần nghĩa vụ thay cho người khác (người không có điều kiện thi hành án) trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án (Điều 46 Luật Thi hành án dân sự).

Thực tiễn tổ chức thi hành án cho thấy, việc thực hiện quy định trên gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với trường hợp bản án, quyết định đã xác định rõ nghĩa vụ của từng người (nghĩa vụ liên đới đã phân chia theo phần), bởi vì khi người phải thi hành án đã thi hành xong nghĩa vụ của mình theo bản án thì để họ thực hiện tiếp phần nghĩa vụ của người khác là rất khó khăn. Việc yêu cầu một hoặc một số người bất kỳ có điều kiện thi hành án trong số những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thường chỉ có thể thực hiện được nếu họ tự nguyện thi hành thay cho người khác. Trường hợp họ không tự nguyện thi hành thay thì rất khó có thể thực hiện trên thực tế vì họ đã thực hiện xong phần nghĩa vụ của mình theo quyết định của bản án, trong những trường hợp này, người phải thi hành án thường không tự nguyện thi hành, thậm chí còn khiếu nại gay gắt, chống đối việc thi hành án[4].

Mặt khác, một vấn đề đặt ra là sau khi một người đã thực hiện thay phần nghĩa vụ thi hành án cho những người khác thì người đó sẽ yêu cầu những người khác hoàn lại như thế nào? Mặc dù Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định “trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình”, tuy nhiên, hành trình khởi kiện để đòi thanh toán khoản tiền này là rất gian nan và khả năng thu hồi gần như là bằng không, nhất là khi người được thi hành thay không hề có điều kiện thi hành án.

2. Về đình chỉ thi hành án liên quan đến nghĩa vụ liên đới

Điểm a khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự quy định: Thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế. Tuy nhiên, việc đình chỉ thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ liên đới bị chết theo quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự còn có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng, trường hợp một trong số những người có nghĩa vụ liên đới chết mà không để lại tài sản và cũng không có người thừa kế thì không có căn cứ để đình chỉ thi hành án (vì nghĩa vụ đó vẫn có người liên đới có trách nhiệm thực hiện). Quan điểm khác lại cho rằng vẫn đình chỉ được việc thi hành án (đối với nghĩa vụ của người phải thi hành án mà bản án, quyết định đã xác định nghĩa vụ của từng người), còn đối với trường hợp nghĩa vụ liên đới không phân chia được theo phần thì không đình chỉ thi hành án được. Do còn có nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau nên việc áp dụng pháp luật chưa thống nhất, do đó, cần có hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 11 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC: Trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu một hoặc một số người trong những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thì cơ quan THADS ra quyết định thi hành án đối với người đó. Theo đó, đối với trường hợp người có nghĩa vụ liên đới chết mà người được thi hành án yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ liên đới thi hành toàn bộ nghĩa vụ thì ai sẽ là người thực hiện phần nghĩa vụ hoàn lại cho người đã thi hành toàn bộ nghĩa vụ?

Vì vậy, đa số quan điểm cho rằng, khi xét xử, giải quyết các vụ án thì Tòa án không nên áp dụng cứng nhắc việc nhận định và buộc thi hành phần nghĩa vụ dân sự liên đới, mà nên xác định cụ thể nghĩa vụ của từng người trong khối nghĩa vụ liên đới - nhận định rõ trong bản án, quyết định để thuận lợi cho việc tổ chức thi hành án, đảm bảo quyền lợi của người có quyền và người có nghĩa vụ. Đối với việc một trong số những người có nghĩa vụ liên đới bỏ địa phương hoặc chết (không để lại tài sản) thì cần có hướng dẫn thi hành đối với trường hợp này[5]. Bên cạnh đó, đối với nghĩa vụ liên đới đã phân chia được theo phần cần có phương án giải quyết phù hợp như có thể tuyên rõ trong bản án đối với nghĩa vụ liên đới đã phân chia theo phần, người đã thi hành xong phần nghĩa vụ của mình không phải thi hành thay phần nghĩa vụ của người khác, đảm bảo tính khả thi trong việc thi hành án[6].

3. Về ủy thác thi hành án đối với nghĩa vụ liên đới

Theo Điều 55 Luật Thi hành án dân sự, trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở các địa phương khác nhau thì thủ trưởng cơ quan THADS ủy thác toàn bộ nghĩa vụ thi hành án đến cơ quan THADS thuộc một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành.

Trường hợp những người phải thi hành nghĩa vụ liên đới có tài sản ở nhiều nơi, cơ quan THADS thực hiện ủy thác theo thứ tự quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để lựa chọn nơi ủy thác thi hành án. Cụ thể: Thứ nhất, theo thỏa thuận của đương sự; thứ hai, nơi có tài sản đủ để thi hành án; thứ ba, trường hợp tài sản không đủ để thi hành án thì ủy thác đến nơi có tài sản giá trị lớn nhất, nơi có nhiều tài sản nhất[7].

Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở nhiều địa phương khác nhau mà tài sản ở địa phương nhận ủy thác không đủ để thi hành án thì cơ quan THADS nơi nhận ủy thác có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án đối với tất cả những người, tài sản có liên quan đến việc thi hành án để tránh trường hợp tẩu tán, trốn tránh việc thi hành án (Điều 34 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).

Tuy nhiên, việc xác định được nơi có điều kiện thi hành án vẫn còn có nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian do việc xác minh điều kiện thi hành án phải tiến hành ở nhiều địa phương khác nhau. Việc lựa chọn nơi để ủy thác đối với các trường hợp nhiều người cùng liên đới thực hiện nghĩa vụ cũng gặp vướng mắc do chưa có quy định pháp luật cụ thể trong việc xác định giá trị tài sản cũng như chi phí cho việc xác định giá trị tài sản đối với các trường hợp này. Do đó, tác giả đề nghị xem xét bỏ điều kiện “tài sản ở địa phương nhận ủy thác không đủ để thi hành án” mà quy định ngắn gọn “trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở nhiều địa phương khác nhau thì cơ quan THADS nơi nhận ủy thác có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án đối với tất cả những người, tài sản có liên quan đến việc thi hành án để tránh trường hợp tẩu tán, trốn tránh việc thi hành án” (Điều 34 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) để tăng thẩm quyền cho cơ quan thi hành án và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với những trường hợp này.

4. Về việc xác nhận kết quả thi hành án đối với trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới

Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới thì thủ trưởng cơ quan THADS ra một quyết định thi hành án chung cho những người có quyền, nghĩa vụ liên đới. Trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu một hoặc một số người trong những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thì thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định thi hành án đối với người đó (khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC). Vậy, trong trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà một người đã thi hành toàn bộ nghĩa vụ cho những người còn lại thì việc xác nhận kết quả thi hành án đối với các đối tượng còn lại sẽ được thực hiện như thế nào? Đây là một vấn đề cần có hướng dẫn cụ thể hơn. Có quan điểm cho rằng: Cần bổ sung quy định trên về việc ra quyết định thi hành án, bởi vì khi theo quy định tại Điều 53 Luật Thi hành án dân sự “đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xác nhận kết quả thi hành án” (đương sự bao gồm người được thi hành án và người phải thi hành án[8]), nếu cơ quan thi hành án chỉ ra quyết định thi hành án đối với một người trong số những người có nghĩa vụ liên đới sẽ không có căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của những người có nghĩa vụ liên đới còn lại. Do đó, đối với trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu một người thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì quyết định thi hành án vẫn cần ghi rõ tất cả những người có nghĩa vụ liên đới để đảm bảo tính liên đới và có căn cứ xác định quyền và nghĩa vụ của họ đối với việc thi hành án, đồng thời cũng là căn cứ để thực hiện việc xác nhận kết quả thi hành án sau này. “Công lý chỉ có ý nghĩa khi và chỉ khi quyết định của Tòa án được thi hành”[9]. Mục đích của việc xác định nghĩa vụ liên đới nhằm đảm bảo tối đa quyền và lợi ích của người bị thiệt hại. Tuy nhiên, để đảm bảo thi hành nghĩa vụ này trong thực tiễn cần có những giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật để nâng cao hiệu quả thi hành án đối với những vụ việc này.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội


[1] Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2007, tr. 547.

[2] Nguyễn Quỳnh Hương, Luận văn thạc sỹ Luật học: “Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 3.

[3] Ngô Thanh Hoàng, Khó khăn, vướng mắc khi thi hành án phần nghĩa vụ dân sự liên đới, http://vkscantho.vn/vkscantho/index.php/news/Trao-doi-nghiep-vu/Kho-khan-vuong-mac-khi-thi-hanh-an-phan-nghia-vu-dan-su-lien-doi-2391/, đăng ngày 29/8/2018, truy cập ngày 17/9/2019.

[4] Xem thêm: Duy Thanh, Bị buộc thi hành án giùm người khác, https://tuoitre.vn/bi-buoc-thi-hanh-an-gium-nguoi-khac-577906.htm, đăng ngày 02/11/2013, truy cập ngày 17/9/2019.

[5] Ngô Thanh Hoàng, Khó khăn, vướng mắc khi thi hành án phần nghĩa vụ dân sự liên đới, http://vkscantho.vn/vkscantho/index.php/news/Trao-doi-nghiep-vu/Kho-khan-vuong-mac-khi-thi-hanh-an-phan-nghia-vu-dan-su-lien-doi-2391/, đăng ngày 29/8/2018, truy cập ngày 10/02/2019.

[6] Xem thêm: Hồng Hà, Liên đới trả nợ: Không phải trả thay phần người khác, https://plo.vn/phap-luat/lien-doi-tra-no-khong-phai-tra-thay-phan-nguoi-khac-639623.html, đăng ngày 09/7/2016, truy cập ngày 10/02/2019.

[7] TS. Nguyễn Xuân Thu & ThS. Nguyễn Thị Phíp (đồng chủ biên), giáo trình Nghiệp vụ Thi hành án dân sự, Tập 2, Nxb. Tư pháp, 2016, tr. 24.

[8] Điều 3 Luật Thi hành án dân sự.

[9] Nguyễn Văn Nghĩa, Công lý chỉ có ý nghĩa khi và chỉ khi quyết định của Tòa án được thi hành, đăng tại https://baophapluat.vn/tu-phap/cong-ly-chi-co-y-nghia-khi-va-chi-khi-quyet-dinh-cua-toa-an-duoc-thi-hanh-348236.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: