Thứ tư 24/06/2026 23:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trách nhiệm của chấp hành viên trong thi hành án hành chính

Với ý nghĩa đó, hoạt động thi hành án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc hiến định: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”[1]. Hoạt động thi hành án kém hiệu quả sẽ làm vô hiệu hóa toàn bộ hoạt động của các cơ quan tố tụng ở giai đoạn trước, gây tổn hại đến trật tự, kỷ cương làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào tính nghiêm minh của pháp luật. Vì vậy, thi hành án nói chung, thi hành án hành chính nói riêng có vai trò quan trọng, góp phần bảo đảm cơ chế, bảo vệ hiệu quả các quyền của công dân, bảo đảm nguyên tắc pháp quyền.

Tại Việt Nam, thi hành án hành chính là một nhiệm vụ phức tạp, được đặt ra chính thức từ khi có Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, được quy định cụ thể, đầy đủ hơn và bổ sung quyền hạn đôn đốc thi hành án hành chính của cơ quan thi hành án dân sự tại Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Sau 05 năm thực hiện và trên cơ sở tổng kết thi hành Luật Tố tụng hành chính năm 2010, ngày 25/11/2015, Quốc hội thông qua Luật Tố tụng hành chính năm 2015, trong đó cũng dành riêng một chương - Chương XIX gồm 07 điều quy định về trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính. Triển khai thi hành Luật này, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án (Nghị định số 71/2016/NĐ-CP).


Luật Tố tụng hành chính năm 2015 bỏ thủ tục đôn đốc thi hành án hành chính vốn gây nhiều bức xúc trong thời gian qua và thay thế bằng cơ chế chủ động thi hành án với việc tự nguyện thi hành của người phải thi hành án và thẩm quyền ban hành quyết định buộc thi hành án của Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành án hành chính tại Việt Nam qua một năm kể từ ngày Luật Tố tụng hành chính 2015 có hiệu lực thi hành đến nay vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc, trong đó có nội dung về đội ngũ chấp hành viên làm công tác thi hành án hành chính. Pháp luật hiện hành quy định chấp hành viên thi hành án dân sự là một chức danh tư pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy trình, thủ tục nhất định khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật; được Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thi hành hoặc trực tiếp thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật; được sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành án dân sự và thi hành phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính. Tuy nhiên, thực tế nhiều trường hợp bản án, quyết định của Tòa án chỉ tuyên xử công nhận, hủy bỏ hoặc sửa một phần quyết định của cơ quan hành chính, không tuyên rõ về phần nghĩa vụ tài sản như quyết định hành chính đã ban hành của cơ quan hành chính nhà nước. Trong những trường hợp như vậy, trách nhiệm của chấp hành viên không được quy định rõ ràng và được đánh giá là khá mờ nhạt trong hoạt động tổ chức thi hành án. Cơ quan thi hành án dân sự vốn dĩ lúc nào cũng trong tình trạng quá tải về công việc, nay thêm nhiệm vụ thi hành án hành chính nhưng cơ chế lại thiếu rõ ràng, nên cơ quan này thực tế vẫn chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ chính của mình là thi hành án dân sự và thi hành phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính.

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả đề cập đến trách nhiệm của đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự trong tổ chức thi hành án hành chính đối với những trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên xử công nhận, hủy bỏ hoặc sửa một phần quyết định của cơ quan hành chính, cụ thể như sau:

(i) Sau khi nhận được bản án, quyết định của Toà án, cơ quan thi hành án dân sự phân công chấp hành viên thực hiện theo dõi việc thi hành án hành chính. Chấp hành viên sau khi được phân công có trách nhiệm lập hồ sơ theo dõi; cập nhật và bổ sung đầy đủ các tài liệu vào hồ sơ vụ việc.

Hồ sơ gồm: Bản án, quyết định của Tòa án; văn bản thông báo về việc tự nguyện thi hành án; thông báo kết quả thi hành án hành chính; quyết định buộc thi hành án hành chính (nếu có); các văn bản chỉ đạo của người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án (nếu có); quyết định xử lý do chậm thi hành án, không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án (nếu có); các tài liệu khác có liên quan.

Hồ sơ thi hành án hành chính phải thể hiện toàn bộ quá trình theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thi hành án hành chính và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ hiện hành.

(ii) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định buộc thi hành án hành chính, chấp hành viên được phân công theo dõi việc thi hành án phải làm việc với người phải thi hành án để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định của Tòa án. Nội dung làm việc phải được lập thành biên bản.

(iii) Chấp hành viên chứng kiến và ký tên vào biên bản trong trường hợp cơ quan, tổ chức đã ban hành quyết định kỷ luật buộc thôi việc tiếp nhận người bị buộc thôi việc trở lại làm việc hoặc cơ quan, tổ chức chấm dứt thực hiện hành vi hành chính trái pháp luật; sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri hay thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

(iv) Trường hợp có căn cứ xác định việc người phải thi hành án chậm thi hành án, không chấp hành hoặc chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án, chấp hành viên thực hiện (trường hợp chấp hành viên đồng thời là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự) hoặc tham mưu Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có văn bản kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án.

(v) Chấp hành viên thực hiện (trường hợp chấp hành viên đồng thời là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự) hoặc tham mưu Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích bằng văn bản những điểm chưa rõ, đính chính sai sót trong bản án, quyết định để thi hành; kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định theo quy định của pháp luật.

(vi) Trường hợp vụ việc đã có Quyết định buộc thi hành án hành chính của Tòa án, chấp hành viên tham mưu cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức đăng tải công khai Quyết định buộc thi hành án hành chính trên Trang thông tin điện tử của Cục Thi hành án dân sự đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền theo dõi của Cục Thi hành án dân sự và các Chi cục Thi hành án dân sự trực thuộc, đồng thời đề nghị tích hợp trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp và Cổng thông tin điện tử Chính phủ đối với các vụ việc người phải thi hành án là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ[2].

(vii) Ngoài ra, trong từng trường hợp thi hành án hành chính cụ thể, Chấp hành viên thực hiện hoặc tham mưu cho cơ quan thi hành án dân sự thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Nghị định số 71/2016/NĐ-CP.

Để đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự có thể thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong công tác thi hành án hành chính thì ngoài những phấn đấu trong công tác của bản thân chấp hành viên về phía cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền cũng cần phải làm tốt những công tác sau:

Thứ nhất, củng cố, kiện toàn về tổ chức bộ máy, biên chế, nâng cao năng lực, rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ chấp hành viên làm công tác thi hành án hành chính tại các cơ quan ở Trung ương và địa phương trên cơ sở các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP.

Thứ hai, thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác thi hành án hành chính nhằm thống nhất việc áp dụng pháp luật tại các cơ quan thi hành án dân sự địa phương trong cả nước; kịp thời tháo gỡ vướng mắc, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm, góp phần đảm bảo chấp hành đúng pháp luật và hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ về thi hành án hành chính.

Thứ ba, tăng cường phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP về công tác thi hành án hành chính, đặc biệt là công tác phối hợp liên ngành từ Trung ương đến địa phương; nên sớm xây dựng quy chế phối hợp liên ngành trong công tác thi hành án hành chính.

Trên đây chỉ là những giải pháp mang tính tạm thời trong việc nâng cao trách nhiệm của đội ngũ chấp hành viên trong thi hành án hành chính, thiết nghĩ về lâu dài chúng ta cần có một Luật Thi hành án hành chính riêng bên cạnh Luật Tố tụng hành chính. Quy định về thi hành án hành chính bằng một văn bản luật riêng sẽ đảm bảo được tính đồng bộ và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể có liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện, đặc biệt là đội ngũ chấp hành viên, vì thực tế trong lĩnh vực thi hành án dân sự và thi hành án hình sự đều đã có luật thi hành án riêng biệt. Và xa hơn, nên xem xét xây dựng một Bộ luật về thi hành án dành cho tất cả các lĩnh vực dù biết đây là một nhiệm vụ khó khăn đối với công tác lập pháp tại Việt Nam hiện nay.

Nguyễn Thị Phương Hà

Khoa Luật, Đại học Đà Lạt

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 106 Hiến pháp năm 2013.

[2]. Khoản 1 Điều 30 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.

Theo dõi chúng tôi trên: