Thứ sáu 16/01/2026 15:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý hình sự liên quan đến pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu trong điều kiện Bộ luật Hình sự năm 2015 tạm dừng hiệu lực

Trong báo cáo Hội nghị sơ kết 01 năm thực hiện Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 30/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu thuốc lá (Chỉ thị số 30/CT-TTg) đã thông báo kết quả sau hơn 01 năm thực hiện Chỉ thị, các lực lượng chức năng trong cả nước đã bắt giữ hơn 9.600 vụ buôn lậu, vận chuyển, kinh doanh trái phép thuốc lá nhập lậu, tịch thu hơn 10 triệu bao thuốc lá nhập lậu các loại (tăng 19% so với cùng kỳ), khởi tố hình sự 179 vụ, 263 đối tượng.

Đối với Ngành Hải quan, theo Báo cáo của Bộ Tài chính báo cáo kết quả 06 tháng thực hiện Chỉ thị số 30/CT-TTg, thì tính từ ngày 30/9/2015 đến ngày 30/3/2016, Ngành Hải quan đã chủ trì, phối hợp phát hiện và bắt giữ 122 vụ buôn lậu, vận chuyến trái phép thuốc lá qua biên giới, thu giữ 54.500 kg nguyên liệu thuốc lá và 122.771 bao thuốc lá, bắt giữ 20 đối tượng buôn lậu.

Để đảm bảo việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về buôn lậu, vận chuyển trái phép thuốc lá, pháo nổ nghiêm minh, công bằng, hiệu quả thì Nhà nước ta cũng ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để xử lý các hành vi vi phạm này[1]. Tuy nhiên, thực hiện xử lý các hành vi vi phạm về buôn bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép thuốc lá, pháo nổ đang gặp phải khó khăn, vướng mắc do các văn bản quy phạm pháp luật có nhiều điểm mâu thuẫn, trái ngược nhau, có nhiều quy định không được quy định rõ ràng dẫn đến cách hiểu, cách áp dụng cũng có sự khác nhau, không đảm bảo sự nhất quán trong đường lối xử lý các hành vi vi phạm. Qua nghiên cứu các văn bản hiện hành về xử lý vi phạm liên quan đến các hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu chúng tôi thấy một số điểm bất hợp lý cần trao đổi như sau:

Thứ nhất, chưa có sự thống nhất giữa các văn bản trong việc xác định các mặt hàng trên có phải là “hàng cấm” được quy định trong Bộ luật Hình sự hay không

- Tại khoản 1 Điều 25 Luật Thương mại năm 2005, Quốc hội đã giao cho Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện và điều kiện để được kinh doanh hàng hóa đó. Ngày 12/6/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện trong đó liệt kê các loại pháo nổ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; đối với thuốc lá điếu, xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác thì thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh. Ngày 7/5/2009 Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Danh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 hướng dẫn thi hành Luật Thương mại về hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện quy định đối với thuốc lá điếu, xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác nhập lậu thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh. Như vậy, việc xác định thuốc lá điếu, xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh hay danh mục hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh dựa trên nguồn gốc của mặt hàng này.

- Theo quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 quy định chính sách về đầu tư kinh doanh thì nhà đầu tư được thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà Luật này không cấm. Các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh được quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014[2]. Theo quy định khoản 2 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 thì hoạt động kinh doanh pháo nổ và kinh doanh sản phẩm thuốc lá, nguyên liệu thuốc lá, máy móc thiết bị thuộc chuyên ngành thuốc lá thuộc Danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Luật Đầu tư năm 2014 không phân biệt nguồn gốc của sản phẩm thuốc lá, điều này dẫn đến cách hiểu đối với pháo nổ, thuốc lá điếu có nguồn gốc nhập lậu cũng không phải “hàng cấm”.

Thứ hai, chưa có sự thống nhất giữa các văn bản trong việc “định lượng” tang vật vi phạm là thuốc lá nhập lậu làm cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 153; điểm c khoản 1 Điều 154; khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì một trong những căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đó là “hàng cấm có số lượng lớn”. Từ khi Bộ luật Hình sự năm 1999 được ban hành, đến nay vẫn chưa có một văn bản nào của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tiến hành giải thích theo thẩm quyền về quy định này.

Trong thời gian qua, các cơ quan tiến hành tố tụng xác định số lượng tang vật vi phạm là thuốc lá nhập lậu làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự áp dụng theo khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số 36/2012/TTLT-BCT-BCA-BTP-BYT-TANDTC-VKSNDTC ngày 7/12/2012 của Bộ Công Thương, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc hướng dẫn xử lý vi phạm về kinh doanh rượu nhập lậu, sản phẩm thuốc lá và nguyên liệu thuốc lá nhập lậu, thì “đối với hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ sản phẩm thuốc lá nhập lậu, việc xác định số lượng làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự cụ thể như sau: a) Số lượng từ 1.500 bao đến dưới 4.500 bao được coi là số lượng lớn; b) Số lượng từ 4.500 bao đến dưới 13.500 bao được coi là có số lượng rất lớn; c) Số lượng từ 13.500 bao trở lên được coi là có số lượng đặc biệt lớn”. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 22 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì “Đối với hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 500 bao trở lên thì người có thẩm quyền đang thụ lý vụ việc phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính”. Như vậy, có sự khác nhau giữa hai văn bản trên trong việc xác định số lượng tang vật vi phạm là thuốc lá điếu nhập lậu làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều này gây khó khăn, lúng túng cho các cơ quan thực thi pháp luật, đặc biệt là cơ quan hải quan trong việc xác định hàng cấm số lượng lớn theo văn bản nào?

Qua nghiên cứu các văn bản chúng tôi thấy rằng, việc xác định số lượng tang vật vi phạm tại khoản 22 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP chỉ quy định cho hành vi “buôn bán”, còn đối với các hành vi tàng trữ, vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu thì việc xác định số lượng tang vật vi phạm vẫn áp dụng theo khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số 36/2012/TTLT-BCT-BCA-BTP-BYT-TANDTC-VKSNDTC. Mặt khác, khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm năm 2015 về áp dụng quy định pháp luật: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”. Do đó, vẫn có thể xử lý được trường hợp có sự quy định khác nhau này.

Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”, thì các văn bản trên đều là các văn bản dưới luật, không phải là căn cứ pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm liên quan đến pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu.

Thực trạng hệ thống các quy định pháp luật nêu trên đang gây lúng túng cho các cơ quan hải quan địa phương trong quá trình bắt giữ và xử lý đối với các hành vi buôn bán, vận chuyển pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu. Điều này thể hiện trong thời gian qua, các cơ quan hải quan ở các địa phương như Đồng Tháp, Long An… gặp lúng túng trong việc xác định hành vi, tội danh, định lượng… đối với các vụ bắt giữ pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu. Thông thường đối với các vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì các cơ quan hải quan địa phương đều có văn bản báo cáo xin ý kiến xử lý các vụ việc liên quan đến các hành vi buôn bán, vận chuyển pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu cho cơ quan Viện kiểm sát cùng cấp. Tuy nhiên, hiện nay các cơ quan Viện kiểm sát địa phương không đưa ra được quan điểm tháo gỡ vướng mắc mà thông báo chờ ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong việc xác định pháo nổ và thuốc lá điếu nhập lậu có phải là hàng cấm hay không? Việc xác định số lượng tang vật vi phạm như thế nào?...

Điều này dẫn đến thực tiễn giải quyết các vụ buôn lậu, vận chuyển tang trữ pháo nổ, thuốc lá điếu các loại nhập lậu có 03 luồng quan điểm khác nhau:

Thứ nhất, xác định pháo nổ, thuốc lá điếu các loại nhập lậu là “hàng cấm”. Quan điểm này dựa trên các quy định của Luật Thương mại năm 2005, Nghị định số 59/2006/NĐ-CP, Nghị định số 43/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Danh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định 59/2006/NĐ-CP. Mặt khác, quan điểm này còn cho rằng “hàng cấm” theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì không chỉ là những hàng hóa theo ngành nghề cấm kinh doanh theo quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014, mà còn là các mặt hàng cấm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam.

Theo đó, hành vi mua bán pháo nổ, thuốc lá điếu các loại nhập lậu nếu đủ số lượng theo quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT/BCA-VKSNDTC-TANDTC; Thông tư liên tịch số 36/2012/TTLT-BCT-BCA-BTP-BYT-TANDTC-VKSNDTC thì xử lý về tội “buôn lậu” theo Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đối với hành vi vận chuyển pháo nổ, thuốc lá điếu các loại nhập lậu nếu đủ số lượng theo quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT/BCA-VKSNDTC-TANDTC; Thông tư liên tịch số 36/2012/TTLT-BCT-BCA-BTP-BYT-TANDTC-VKSNDTC thì xử lý về tội “vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo Điều 154 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Thứ hai, tương tự như quan điểm thứ nhất. Tuy nhiên, đối với hành vi mua bán thuốc lá điếu các loại nhập lậu nếu đủ số lượng theo quy định tại tại khoản 22 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì xử lý về tội “buôn lậu” theo Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999. Quan điểm này dựa trên cách xác định hiệu lực của văn bản quy định tại khoản 2, Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 về áp dụng quy định pháp luật “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”.

Thứ ba, pháo nổ và thuốc lá điếu nhập lậu không phải là hàng cấm. Quan điểm này dựa trên các quy định của Điều 6, Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 quy định về Danh mục ngành nghề cấm kinh doanh; Danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, thì pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu không phải là hàng cấm, do đó đối với các hành vi buôn bán, vận chuyển, tang trữ pháo nổ, thuốc lá điếu các loại nhập lậu không phạm tội buôn bán, vận chuyển tang trữ hàng cấm. Như vậy, các văn bản trái với Luật Đầu tư năm 2014 thì không có giá trị áp dụng.

Qua nghiên cứu các văn bản trên và căn cứ thực tiễn điều kiện kinh tế - xã hội, chúng tôi đồng ý một phần với quan điểm thứ ba khi xác định pháo nổ và thuốc lá điếu nhập lậu không phải là hàng cấm. Điều này hoàn toàn phù hợp với các quy định của Điều 6, Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014, phù hợp với khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 về áp dụng quy định pháp luật và khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013. Đồng thời, ngày 29/6/2016 Quốc hội cũng ban hành Nghị Quyết số 144/2016/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự năm 2015 do có nhiều lỗi kỹ thuật trong quá trình xây dựng Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó có quan điểm về cách xác định hàng cấm.

- Đối với việc xác định số lượng để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, chúng tôi cho rằng, không phải vì xác định pháo nổ và thuốc lá điếu nhập lậu không phải là hàng cấm mà các cơ quan hải quan khi bắt giữ các vụ việc buôn bán, vận chuyển pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu sẽ không truy cứu trách nhiệm hình sự, không khởi tố theo thẩm quyền về các tội danh buôn lậu theo Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999 và tội danh vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo Điều 154 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chúng ta không xác định pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm, nên sẽ không xác định về số lượng tang vật vi phạm làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự mà xác định theo trị giá tang vật vi phạm. Theo đó, đối với tang vật vi phạm là pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu nếu xác định giá trị tang vật từ 100 triệu đồng trở lên tương ứng với hành vi thì cơ quan Hải quan sẽ khởi tố theo Điều 153 hoặc Điều 154 Bộ luật Hình sự năm 1999. Điều này cũng phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và quy định tại điểm khoản 1 của Điều 190, Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi không quy định số lượng làm căn cứ để xử lý hình sự.

Do đó, chúng tôi cho rằng trong thời gian tới các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, cơ quan hải quan nói riêng khi bắt giữ các vụ buôn bán, vận chuyển pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu không nên áp dụng các hướng dẫn về định lượng theo Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT/BCA-VKSNDTC-TANDTC; Thông tư liên tịch số 36/2012/TTLT-BCT-BCA-BTP-BYT-TANDTC-VKSNDTC và Nghị định số 124/2015/NĐ-CP để xử lý hình sự các hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu theo tinh thần Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự, mà phải tiến hành định giá tang vật vi phạm làm căn cứ để cơ quan hải quan khởi tố theo thẩm quyền. Tuy nhiên, để đảm bảo thống nhất trong công tác xử lý theo đúng các quy định pháp luật, Tổng cục Hải quan cần phải có báo cáo Bộ Tài Chính để Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội tháo gỡ các vướng mắc này.

ThS. Đặng Công Thành

Cục Điều tra chống buôn lậu


[1] Như: Bộ luật Hình sự năm 1999; Thông tư liên tịch số 36/2012/TTLT-BCT-BCA-BTP-BYT-TANDTC-VKSNDTC ngày 7/12/2012 của Bộ Công Thương, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc hướng dẫn xử lý vi phạm về kinh doanh rượu nhập lậu, sản phẩm thuốc lá và nguyên liệu thuốc lá nhập lậu; Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT/BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/12/2008 của Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo

[2] Xem: Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án dân sự và xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại Vướng mắc trong thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và thụ lý ly hôn Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào? Mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu Hủy giấy chứng nhận kết hôn có coi là hủy hôn nhân trái pháp luật không? Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: