Từ khóa: quyền con người; di sản văn hóa; thương mại hóa; du lịch cộng đồng; thành phố Huế.
PROTECTING THE RIGHTS OF CITIZENS IN THE COMMERCIALIZATION OF CULTURAL HERITAGE IN HUE CITY - AN APPROACH FROM COMMUNITY TOURISM
Abstract: Hue City is being developed as a heritage city; the trend of commercializing cultural heritage associated with community tourism creates an urgent need to protect the rights and interests of local residents. This study analyzes the theoretical, legal, and practical basis for protecting residents' rights in the commercialization of heritage within community tourism models in Hue City during the period 2010-2025. Based on a human rights approach, the study uses analytical, synthetic, and comparative legal methods, and utilizes secondary data to identify the risks of cultural value distortion, inequality in benefit sharing, and impacts on traditional living spaces and livelihoods, while community participation and monitoring mechanisms remain limited. From this, several recommendations are proposed to improve policies and mechanisms for protecting residents' rights in community tourism development in Hue City.
Keywords: Human rights; cultural heritage; commercialization; community tourism; Hue City.
Đặt vấn đề
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết số 80-NQ/TW) khẳng định: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Quan điểm này đặt ra yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Thành phố Huế với định hướng phát triển trở thành “đô thị di sản”, bảo đảm sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, lấy di sản văn hóa làm trụ cột của chiến lược phát triển du lịch[1] được xem là yêu cầu đặc biệt quan trọng. Trong đó, du lịch cộng đồng được xem là mô hình phù hợp với tiềm năng và bản sắc địa phương. Tuy nhiên, quá trình thương mại hóa di sản gắn với phát triển du lịch tạo ra giá trị kinh tế, nhưng tiềm ẩn nguy cơ “gạt cộng đồng ra bên lề” tiến trình phát triển; mất quyền kiểm soát không gian sống, di sản và sinh kế truyền thống, cũng như gia tăng bất bình đẳng lợi ích du lịch.
Từ góc độ tiếp cận quyền con người, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý về thương mại hóa di sản văn hóa và quyền cư dân; thực trạng thương mại hóa di sản văn hóa trong du lịch cộng đồng tại thành phố Huế và những vấn đề đặt ra đối với các nhóm quyền cơ bản của cư dân. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật dựa trên quyền con người, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích của cư dân địa phương trong bối cảnh thành phố Huế đang định hướng phát triển theo mô hình “đô thị di sản”.
1. Cơ sở lý luận, pháp lý về thương mại hóa di sản và bảo vệ quyền cư dân địa phương
Di sản văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng, gồm cả di sản vật thể và phi vật thể “là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại”[2]. Trong đó, “không gian văn hóa” là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa truyền thống, được cộng đồng thừa nhận và duy trì như một phần bản sắc của mình[3]. Đó không chỉ là môi trường vật chất, mà là hệ sinh thái văn hóa đặc thù, nơi di sản vật thể và phi vật thể gắn kết với bối cảnh xã hội, biểu tượng và thực hành thường nhật[4].
Nhằm phục vụ phát triển kinh tế, việc thương mại hóa di sản là xu thế tất yếu. Đây không phải là hiện tượng tiêu cực, nhưng nếu thiếu cơ chế kiểm soát, mục tiêu bảo tồn và quyền lợi của người dân dễ bị xâm hại, bởi nguy cơ “trình diễn hóa” di sản[5], cũng như các xung đột trong cộng đồng[6] và với điều kiện hạ tầng hạn chế, áp lực du lịch còn gây tác động tiêu cực đến chất lượng sống và môi trường văn hóa địa phương[7]. Khi tiếp cận dựa trên quyền con người trong thương mại hóa di sản, cộng đồng phải được đặt ở vị trí chủ thể quyền, còn Nhà nước và doanh nghiệp là chủ thể nghĩa vụ (tôn trọng, bảo vệ, thực hiện)[8], mà không chỉ dừng ở các tiêu chí tăng trưởng về du lịch.
Trên phương diện pháp lý, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 (ICESCR) và Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) khẳng định, quyền tham gia đời sống văn hóa, quyền hưởng thụ di sản, quyền được bảo tồn bản sắc và quyền tham gia vào quá trình ra quyết định liên quan đến di sản. Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và các đạo luật chuyên ngành (Luật Di sản văn hóa năm 2024, Luật Đất đai năm 2024, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Du lịch năm 2017, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016,…) đã nội luật hóa nhiều nội dung của các quyền trên. Có thể khái quát bốn nhóm quyền cơ bản của cư dân địa phương trong khai thác di sản gắn với du lịch cộng đồng, gồm:
Thứ nhất, quyền văn hóa và không gian sống (Điều 15 ICESCR và Điều 41 Hiến pháp năm 2013). Trong tiếp cận dựa trên quyền con người, “không gian văn hóa” không chỉ là bối cảnh vật chất của thực hành di sản, mà còn là môi trường sống văn hóa nơi cộng đồng duy trì bản sắc, ký ức và chuẩn mực xã hội gắn với di sản. Vì vậy, thương mại hóa di sản chỉ không xung đột quyền khi khai thác kinh tế mà không làm suy giảm tính nguyên bản, tính thiêng và không làm lệch vai trò cộng đồng từ chủ thể quyền thành đối tượng phục vụ thị trường. Khi di sản bị “trình diễn hóa”, tự chủ văn hóa bị thu hẹp (mất quyền quyết định nội dung, không gian, chuẩn mực thực hành) và môi trường văn hóa lành mạnh có thể bị xâm hại do biến đổi cưỡng bức thực hành truyền thống. Luật Du lịch năm 2017 đã định hướng du lịch bền vững và ghi nhận vai trò cộng đồng, nhưng quy định về du lịch cộng đồng còn chung chung, thiếu cơ chế tham vấn và chia sẻ lợi ích, tạo khoảng trống bảo đảm quyền của cư dân trước xu hướng thương mại hóa di sản.
Thứ hai, quyền về sinh kế, đất đai và nhà ở. Quyền về sinh kế, đất đai và nhà ở gắn liền với nền tảng vật chất, bản sắc và không gian cộng đồng, đặc biệt, ở các làng cổ, làng nghề, vùng dân tộc thiểu số. Việc thu hồi đất thiếu tham vấn cộng đồng làm suy giảm năng lực tự quyết và đe dọa sinh kế truyền thống[9]. Cách tiếp cận của Việt Nam cũng hoàn toàn phù hợp với quan điểm này, khi Luật Đất đai năm 2024 (Điều 17, Điều 18) bảo đảm quyền sử dụng đất hợp pháp, tiếp cận thông tin và tôn trọng yếu tố văn hóa, qua đó, góp phần bảo vệ không gian sống bền vững của cộng đồng.
Thứ ba, quyền hưởng lợi từ tài nguyên và di sản gắn liền với nguyên tắc công bằng và phát triển bền vững. Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 khẳng định, cần bảo đảm cơ chế chia sẻ lợi ích hợp lý, ghi nhận vai trò cộng đồng trong bảo tồn và thích ứng biến đổi khí hậu[10]. Tuy nhiên, việc phân phối thu nhập từ di sản chưa công bằng, cộng đồng địa phương thiếu quyền thương lượng, dẫn đến xâm phạm quyền hưởng lợi chính đáng, nhất là trong các mô hình du lịch do doanh nghiệp chi phối[11].
Thứ tư, quyền tham gia, được thông tin, giám sát, khiếu nại, tố cáo. Đây là các quyền dân sự, chính trị cơ bản được Hiến pháp năm 2013 (Điều 28, Điều 30), Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Khiếu nại năm 2011 (sửa đổi, bổ sung các năm 2013, 2025), Luật Tố cáo năm 2018 (sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2025) và các quy định về dân chủ ở cơ sở hình thành khung pháp lý bảo đảm, tạo cơ sở cho người dân tham gia vào các quyết định liên quan đến đời sống của mình. Mặc dù pháp luật đã thiết lập khung pháp lý tương đối đầy đủ trong lĩnh vực di sản, du lịch, nhưng việc thực thi vẫn chủ yếu theo hướng áp đặt từ trên xuống[12], còn hình thức, thiếu cơ chế bảo đảm tham gia thực chất và chia sẻ lợi ích[13], trong khi hiệu quả thực thi các quyền này phụ thuộc lớn vào thể chế, mức độ minh bạch và năng lực quản trị tại địa phương, đặc biệt, trong bối cảnh thương mại hóa di sản ngày càng gia tăng.
2. Thương mại hóa di sản văn hóa trong du lịch cộng đồng tại thành phố Huế và các vấn đề đặt ra đối với quyền cư dân
Trong hai thập kỷ gần đây, thành phố Huế đẩy mạnh phát triển du lịch dựa trên hệ thống di sản phong phú, từ Quần thể di tích Cố đô Huế, Nhã nhạc, Ca Huế đến các làng nghề, làng cổ, không gian ẩm thực... Đặc biệt, Đảng và Nhà nước xác định di sản và bản sắc Huế là nền tảng phát triển bền vững, với du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn[14]; xây dựng mô hình đô thị Huế theo ba trụ cột: “kinh tế du lịch - kinh tế di sản - kinh tế tuần hoàn”[15].
Chính vì vậy, chính quyền địa phương xác định du lịch cộng đồng là một trong những sản phẩm chiến lược[16]. Cho nên, các di sản ở thành phố Huế được khai thác đa dạng và số hóa mạnh mẽ. Hơn 40 mô hình du lịch cộng đồng, như làng cổ Phước Tích, làng hương Thủy Xuân, cầu ngói Thanh Toàn, các điểm ven đầm Chuồn, Lăng Cô và vùng dân tộc thiểu số tại A Lưới… với lượng khách và doanh thu giai đoạn 2020 - 2025 từ các địa phương tăng mạnh[17], các không gian di sản được quy hoạch hoặc chuyển đổi thành các điểm du lịch cộng đồng có tổ chức, các tuyến phố đi bộ như: Nguyễn Đình Chiểu, Chu Văn An, Võ Thị Sáu,… Trong 06 tháng đầu năm 2025, thành phố Huế đón 3,33 triệu lượt khách (hơn 1,16 triệu lượt khách quốc tế), doanh thu đạt 6.371 tỷ đồng (tăng 59%)[18]. Tổng kinh phí hỗ trợ phát triển các làng nghề, làng cổ, vùng đầm phá, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2020 - 2025, tính đến năm 2025 là 39,081 tỷ đồng[19]. Các kết quả này cho thấy tiềm năng lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cư dân trước rủi ro phát triển du lịch thiếu bền vững trong quá trình thương mại hóa di sản, thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, đối với quyền văn hóa và không gian sống.
Với quy mô khai thác du lịch lớn, thương mại hóa di sản qua du lịch cộng đồng ở thành phố Huế vừa mở rộng cơ hội thực hành, trình diễn các giá trị văn hóa cộng đồng (như du lịch sinh thái cộng đồng Tam Giang - Cầu Hai; tái cấu trúc Nhã nhạc, Ca Huế, nghi lễ, lễ hội để lan tỏa di sản), vừa đặt ra rủi ro đối với quyền văn hóa và không gian sống. Dưới góc độ quyền văn hóa, vấn đề không nằm ở “có hay không khai thác”, mà ở ai có quyền quyết định nội dung, không gian, thời điểm và chuẩn mực của thực hành; khi bị chi phối bởi thị trường, di sản dễ “sân khấu hóa”, suy giảm tính thiêng liêng, tính nguyên bản của di sản[20], cũng như thu hẹp tự chủ văn hóa và quyền tham gia của cộng đồng. Vì vậy, đánh giá tác động thương mại hóa cần gắn với: mức độ tham vấn và đồng thuận của cộng đồng; cơ chế chia sẻ lợi ích; cơ chế bảo vệ tính toàn vẹn của không gian văn hóa.
Đồng thời, không gian, cảnh quan di sản chịu áp lực chuyển đổi (nhà rường/nhà cổ, làng nghề Kim Long, Thủy Biều, Thủy Xuân, vùng phá Tam Giang… bị biến đổi thành điểm dịch vụ, điểm “check-in”, “đẹp, lạ”) có thể dẫn đến đứt gãy gắn kết cư dân với không gian văn hóa gốc và thu hẹp sinh hoạt truyền thống[21]. Mặc dù, Hội đồng nhân dân thành phố Huế đã ban hành Nghị quyết số 26/2022/NQ-HĐND ngày 08/12/2022 quy định một số chính sách hỗ trợ, bảo vệ và phát huy giá trị nhà vườn đặc trưng, nhà rường cổ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế), với kinh phí 45,2 tỷ đồng, nhưng xu hướng “di sản hóa” vẫn có thể tách di sản khỏi đời sống thường nhật của dân cư[22], đặt ra yêu cầu bảo đảm quyền được sống trong môi trường văn hóa lành mạnh.
Thứ hai, quyền sinh kế, đất đai và nhà ở của người dân.
Thương mại hóa di sản trong du lịch cộng đồng có thể tạo thêm thu nhập cho một bộ phận cư dân, nhưng có thể làm gia tăng rủi ro đối với tiếp cận đất đai, chỗ ở hay nguồn lực sinh kế (do chuyển đổi đất nông nghiệp, vườn nhà, không gian cộng đồng sang dịch vụ du lịch), giá đất tăng và xu hướng tập trung đất vào nhà đầu tư hoặc nhóm người có điều kiện tốt về kinh tế. Quá trình thu hồi đất phục vụ mở rộng đô thị tại thành phố Huế cho thấy, nhóm yếu thế thường bất lợi (thiếu thông tin, hạn chế tham vấn, khó phục hồi sinh kế), có thể bị “gạt” khỏi lợi ích du lịch và giảm khả năng tiếp cận quyền về đất, nhà ở, sinh kế[23].
Một số điểm du lịch cộng đồng ven biển, đầm phá (Quảng Lợi, Tam Giang - Cầu Hai) cho thấy, du lịch sinh thái có thể cải thiện thu nhập và khuyến khích chuyển dịch sinh kế bền vững hơn. Tuy nhiên, chênh lệch thu nhập giữa các hộ làm du lịch và các hộ khác có thể làm gia tăng bất bình đẳng trong cộng đồng, việc chuyển đổi đất đai nhanh chóng, thiếu đánh giá tác động xã hội tiềm ẩn nguy cơ xâm hại quyền tham gia, quyền sinh kế, chỗ ở và bảo tồn văn hóa của cộng đồng địa phương. Mặc dù, thành phố Huế đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ khi triển khai thành công Đề án di dời dân cư khu vực I di tích Kinh thành Huế triển khai tại 16 khu vực, ảnh hưởng khoảng 744 hộ gia đình[24], song vấn đề “đứt gãy” không gian sống văn hóa lâu đời, việc cư dân bị coi là “sử dụng đất không hợp pháp” và buộc rời đi[25] cho thấy thách thức lớn trong bảo đảm quyền có nhà ở, quyền sử dụng đất ổn định và quyền được bảo vệ sinh kế trong các dự án bảo tồn gắn với du lịch.
Việc đánh giá tác động môi trường; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; bảo vệ sinh kế sau thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2024 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 chưa được lồng ghép đầy đủ vào các chương trình phát triển du lịch cộng đồng ở địa phương, làm suy giảm năng lực thực thi nghĩa vụ bảo vệ và thực hiện các quyền của người dân trong bối cảnh thương mại hóa di sản.
Thứ ba, quyền hưởng lợi công bằng từ di sản.
Chuỗi giá trị du lịch di sản tại thành phố Huế có sự tham gia của nhiều chủ thể, từ doanh nghiệp, chính quyền, đơn vị quản lý di tích và cộng đồng cư dân, với kỳ vọng góp phần phân phối lợi ích công bằng hơn cho cộng đồng thông qua cơ chế việc làm, dịch vụ, quỹ cộng đồng[26]. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy, các giá trị gia tăng chủ yếu doanh nghiệp và một số hộ “khá giả” được hưởng lợi, trong khi phần lớn cư dân chỉ tham gia ở khâu dịch vụ đơn giản, thu nhập thấp và thiếu ổn định[27].
Trường hợp Quần thể di tích Cố đô Huế, sau khi được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào năm 1993, nguồn thu vé tham quan đã tăng mạnh. Hội đồng nhân dân thành phố Huế xác định nguồn vượt thu phí tham quan di tích là 85 tỷ đồng (năm 2023) và đưa vào phương án sử dụng cho các nhiệm vụ đầu tư/trùng tu theo cơ chế đầu tư công[28] cho thấy ưu tiên bảo tồn, tu bổ. Tuy nhiên, theo tiếp cận dựa trên quyền, cần xem xét cơ chế thụ hưởng phù hợp cho cộng đồng lân cận, khi họ phải chịu các “chi phí” phát sinh khác như biến động không gian sống, sinh hoạt, môi trường, giá đất, giá dịch vụ, làm suy giảm chất lượng sống, gia tăng áp lực lên tài nguyên và đe dọa văn hóa cộng đồng.
Thứ tư, quyền tham gia, được thông tin, giám sát và khiếu nại.
Mặc dù, chính quyền địa phương đã mở rộng một phần không gian tham gia của cộng đồng, song các quyền tham gia, được thông tin, giám sát và khiếu nại còn nhiều giới hạn, mức độ tham gia vào quá trình ra quyết định liên quan đến chính sách và cơ chế quản trị du lịch còn kém[29]. Nhiều mô hình du lịch cộng đồng ở thành phố Huế hình thành từ các chương trình hỗ trợ hoặc hợp tác với doanh nghiệp, trong đó, quyền quyết định khai thác di sản chủ yếu thuộc về chính quyền hoặc doanh nghiệp. Chẳng hạn, tại làng Thanh Thủy Chánh và vùng đầm phá ven biển, phần lớn cư dân chỉ tham gia ở mức độ hỗ trợ, cung ứng dịch vụ, trong khi cơ hội tham gia ra quyết định và kiểm soát hoạt động du lịch còn rất thấp[30]. Quyền được thông tin chưa bảo đảm do thiếu kênh tiếp cận quy hoạch, chính sách và tác động môi trường, xã hội. Tham vấn cộng đồng còn hình thức. Pháp luật hiện hành chưa thiết lập rõ cơ chế giám sát và khiếu nại[31]. Cùng với đó, việc thiếu thiết chế đại diện cư dân trong quản lý du lịch cộng đồng cho thấy, quyền tham gia, giám sát và được thông tin của người dân vẫn chưa thực hiện một cách đầy đủ.
3. Một số kiến nghị nhằm tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích của cư dân trong bối cảnh thương mại hóa di sản tại thành phố Huế
Trên cơ sở các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và tiếp cận dựa trên quyền con người, việc hoạch định, thực thi chính sách du lịch cần được định hướng theo nguyên tắc công bằng, bền vững và lấy con người làm trung tâm, nhằm xử lý hài hòa các mối quan hệ nội tại của văn hóa, giữa xây dựng và phòng, chống; giữa truyền thống và hiện đại; giữa dân tộc và quốc tế; giữa bảo tồn và phát triển; giữa văn hóa đại chúng và bác học; giữa đời sống thực và không gian số; đồng thời bảo đảm cân bằng giữa mở dữ liệu và giữ vững an ninh, chủ quyền văn hóa số[32]. Vì vậy, Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện chính sách bảo đảm quyền văn hóa và không gian sống.
Cần lồng ghép rõ cách tiếp cận dựa trên quyền vào chiến lược, quy hoạch, chương trình văn hóa - du lịch của thành phố Huế; rà soát các định hướng, chủ trương, quy hoạch của thành phố để bảo đảm công nhận cư dân là chủ thể quyền đối với không gian văn hóa và thực hành di sản; bắt buộc đánh giá tác động nhân quyền đối với dự án du lịch ở khu vực di sản; đưa tiêu chí bảo vệ không gian sống và không gian diễn xướng truyền thống vào quy hoạch. Đồng thời, nghiên cứu sửa đổi Luật Du lịch năm 2017 và Luật Di sản văn hóa năm 2024 theo hướng, du lịch cộng đồng lấy cộng đồng làm trung tâm, tăng yêu cầu tham vấn, bảo vệ không gian văn hóa - sinh hoạt truyền thống, thừa nhận quyền từ chối các hình thức khai thác xâm hại nghiêm trọng giá trị văn hóa, đạo đức địa phương.
Hai là, có cơ chế bảo vệ quyền đất đai, nhà ở và sinh kế.
Trên cơ sở Luật Đất đai năm 2024 và các nghị định hướng dẫn, cần cụ thể hóa theo hướng: siết điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất sang thương mại - dịch vụ trong khu vực di sản; bắt buộc tham vấn và đồng thuận cao của cộng đồng trước dự án du lịch lớn; lồng ghép tiêu chí bảo vệ sinh kế truyền thống vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Đối với thành phố Huế, cần quy định về vùng bảo tồn sinh kế gắn với di sản (như vùng thanh trà Thủy Biều, một số làng nghề, vùng đầm phá), có cơ chế ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật; đồng thời, hạn chế mua bán, tích tụ đất đai bởi chủ thể bên ngoài nếu không có cơ chế bảo đảm quyền lợi lâu dài của cộng đồng. Các đánh giá tác động môi trường, xã hội đối với dự án du lịch ở khu vực này phải có sự tham gia thực chất của cộng đồng và phải được công khai.
Ba là, thiết kế cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng từ di sản.
Để bảo đảm quyền hưởng lợi công bằng từ di sản, cần thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng, minh bạch giữa các bên tham gia chuỗi giá trị du lịch. Ở cấp luật, có thể nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Du lịch năm 2017 và Luật Di sản văn hóa năm 2024 theo hướng quy định nguyên tắc bắt buộc chia sẻ lợi ích kinh tế cho cộng đồng cư dân tại khu vực di sản, gồm tỷ lệ tối thiểu nguồn thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ phải được tái đầu tư cho cộng đồng thông qua quỹ phát triển cộng đồng, quỹ bảo tồn di sản hoặc hạ tầng xã hội - văn hóa địa phương.
Đối với địa phương, các nghị quyết và kế hoạch phát triển du lịch cộng đồng cần xác định cụ thể: mô hình quỹ cộng đồng do đại diện cư dân quản lý, có sự giám sát của chính quyền; tiêu chí phân bổ lợi ích ưu tiên cho nhóm yếu thế (phụ nữ, người nghèo, người dân tộc thiểu số); mẫu hợp đồng công bằng giữa cộng đồng và doanh nghiệp (hợp đồng bao tiêu sản phẩm, hợp đồng dịch vụ du lịch…). Điều này nhằm cụ thể hóa nghĩa vụ thực hiện quyền hưởng lợi công bằng từ di sản, tạo động lực cho cư dân tham gia bảo tồn và phát triển du lịch bền vững.
Bốn là, củng cố quyền tham gia, được thông tin, giám sát, khiếu nại, tố cáo.
Cần tăng cường các thiết chế và quy trình bảo đảm quyền tham gia của cộng đồng trong quản trị di sản và du lịch cộng đồng. Một mặt, pháp luật cần ghi nhận rõ yêu cầu tham vấn cộng đồng, có thể tham khảo nguyên tắc tự nguyện, trước và được thông tin đầy đủ (FPIC)[33] đối với các dự án du lịch, quy hoạch không gian di sản, chương trình hỗ trợ chuyển đổi sinh kế. Nội dung này có thể được thể chế hóa trong Luật Du lịch năm 2017, Luật Di sản văn hóa năm 2024 và văn bản hướng dẫn thi hành.
Nghiên cứu thành lập các thiết chế ở địa phương, như hội đồng cộng đồng di sản, ban quản lý du lịch cộng đồng với sự tham gia thực chất của cư dân, nhà nghiên cứu, chính quyền và doanh nghiệp, có thẩm quyền trong quy hoạch, giám sát và phân bổ lợi ích, thông tin quy hoạch, ngân sách, giám sát môi trường… và công khai qua các kênh dễ tiếp cận (cổng thông tin điện tử, bảng tin cộng đồng, ứng dụng Hue-S) để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin.
Đồng thời, cần nâng cao năng lực pháp lý và kỹ năng tham gia cho cộng đồng qua tập huấn kiến thức đất đai, di sản, môi trường, thương lượng, phản biện, cũng như tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ cấp xã/ phường trong quản lý du lịch và quyền con người, để họ thực hiện tốt vai trò “chủ thể nghĩa vụ” trong tiếp cận dựa trên quyền.
Kết luận
Trong định hướng phát triển giai đoạn 2025 - 2030, thành phố Huế xác định kết hợp phát triển du lịch với bảo tồn di sản văn hóa, xây dựng đô thị di sản theo hướng bền vững[34]. Thương mại hóa di sản là xu thế khách quan, nhưng nếu thiếu cơ chế bảo vệ quyền cư dân, điều này có thể gia tăng bất bình đẳng, ảnh hưởng không gian sống và làm suy giảm bản sắc văn hóa.
Trên nền tảng tiếp cận dựa trên quyền con người, nghiên cứu đề xuất bốn nhóm quyền cốt lõi của cư dân trong khai thác di sản gắn với du lịch cộng đồng, đồng thời, làm rõ các thách thức đặc thù đối với từng nhóm quyền trong bối cảnh thành phố Huế hiện nay, trên cơ sở yêu cầu đấu tranh khắc phục khuynh hướng “thương mại hóa” văn hóa của Nghị quyết số 80-NQ/TW. Từ đó, các kiến nghị được cấu trúc thành bốn nhóm giải pháp tương ứng, đặt trong khung nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ, thực hiện của Nhà nước và làm nổi bật các định hướng hoàn thiện pháp luật, chính sách, trọng tâm là Luật Du lịch năm 2017, Luật Di sản văn hóa năm 2024, Luật Đất đai năm 2024, cùng các nghị quyết, kế hoạch của địa phương về du lịch cộng đồng./.
ThS. Trần Phú Tài
Trường Chính trị Nguyễn Chí Thanh, thành phố Huế
Ảnh: internet
[1]. Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 10/12/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
[2]. Khoản 2 Điều 1 và khoản 1 Điều 4 Luật Di sản văn hóa năm 2024.
[3]. UNESCO (2003), Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Trần Hải Vân (dịch), Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa - Thông tin & Ủy ban Quốc gia UNESCO của Việt Nam (Hiệu đính), Paris, Điều 2(1).
[4]. Makoto Motonaka (2025), Fusion of “intangible” and “tangible”: “Cultural space (intangible heritage)” and “cultural landscape (World Heritage)”, In D. Machida, Y. Nojima, T. Tsuji, & C. Kizaki (Eds.), Intangible cultural heritage and sustainable communities in the Asia-Pacific region: Report of the Research on ICH Contributing to SDGs Project (FY 2022 - 2024), International Research Centre for Intangible Cultural Heritage in the Asia-Pacific Region (IRCI), 97-110. p.98.
[5]. Laurajane Smith (2006), Uses of Heritage, Routledge, p.16-18, https://doi. org/10.4324/9780203602263.
[6]. Doina VICOL (2024), The impact of commercialization of cultural heritage, In: Modern Paradigms in the Development of the National and World Economy: international scientific conference. Chisinau, 17th Edition, October 24-29, 2024, Chișinău: CEP USM, 2024, 488-492, p.490, https://doi.org/10.59295/ mpdnwe2024.64.
[7]. Nguyen Hoang Tien và cộng sự (2020), Risks of unsustainable tourism development in Vietnam, International Journal of Research in Management, 2(1), 19-23, https://doi.org/10.33545/26648792.2020.v2.i1a.25.
[8]. Tường Duy Kiên và cộng sự (2024), Quyền con người trong phát triển xã hội (Sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.30.
[9]. International Fund for Agricultural Development (2018), Indigenous peoples’ collective rights to lands, territories and natural resources: Lessons from IFAD-supported projects,p.3, https://www.ifad.org/en/web/knowledge/-/publication/indigenous-peoples-collective-rights-to-lands-territories-and-natural-resources.
[10]. UNESCO (2023), The Seoul vision for the future of safeguarding living heritage for sustainable development and peace, in Celebration of 20th Anniversary Celebration of the Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, Seoul, p.4, https://ich.unesco.org/en/seoulvision-01330.
[11]. Trần Hữu Sơn (2018), Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch di sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Tạp chí Cộng sản, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/gop-y-du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiii-cua-dang/-/2018/823912/view_content, truy cập ngày 15/01/2026; Vu Thi Hong Phuong và cộng sự (2025), Factors shaping local residents’ participation in sustainable tourism: a case study in Vietnam, Discov Sustain 6, 746, https://doi.org/10.1007/s43621-025-01687-8.
[12]. Le Thi Ngoc Anh và cộng sự (2024), Residents’ Participation in the Management and Development of Sustainable Cultural Heritage Tourism: The World and Vietnam’sPerspective, Residents’ Participation in the Management and Development of Sustainable Cultural Heritage Tourism: The World and Vietnam’s Perspective, International Journal of Research and Innovation in Social Science (IJRISS), 8(07), 3296-3307, p.3305, https://doi.org/10.47772/IJRISS.2024.807251.
[13]. Recep Murat Geçikli và cộng sự (2024), CulturalHeritage Tourism and Sustainability: A Bibliometric Analysis, Sustainability, 16, 6424, p.4-5, https://doi.org/10.3390/su16156424.
[14]. Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 10/12/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế) đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
[15]. Quyết định số 1745/QĐ-TTg ngày 22/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
[16]. Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐND ngày 09/7/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế) quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2025 và Kế hoạch số 157/KH-UBND ngày 08/4/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Huế về Kế hoạch phát triển du lịch cộng đồng thành phố Huế giai đoạn 2025 - 2030.
[17]. Sở Du lịch (2025), Báo cáo tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết 05-NQ/HĐND về chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn thành phố Huế đến năm 2025 và đề xuất cho giai đoạn 2026 - 2030, Huế.
[18]. UBND thành phố Huế (2025), Báo cáo Tóm tắt kết quả thực hiện nhiệm vụ văn hóa, thể thao và du lịch 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2025, Huế.
[19]. Sở Du lịch (2025), tlđd.
[20]. Bui Thi Tam (2016), Management of world cultural heritage for sustainable tourism in Hue Royal Capital, Vietnam, Tourism and Monarchy in Southeast Asia, UK: Cambridge Scholars Publishing, 103-117, p.110.
[21]. Quyen Mai Le và cộng sự (2019), When heritage goes ways apart: Heritagization and local involvement at the Complex of Monuments in Hue, Vietnam (No. 186), ZEF Working Paper Series, Germany, p.28.
[22]. Quyen Mai Le và cộng sự (2019), tlđd, p.i.
[23]. Nguyen Quang Phuc (2017), Urban expansion and compulsory land acquisition in Hue, VietnamChallenges and ways toward fair urbanization, Policy Brief 05, Land Governance for Equitable and Sustainable Development. p.1, 4.
[24]. Quyết định số 370/QĐ-UBND ngày 13/02/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế phê duyệt Đề án di dời dân cư, giải phóng mặt bằng khu vực 1 di tích Kinh Thành Huế thuộc quần thể di tích Cố đô Huế.
[25]. Bronte Nixon (2018), Environmental sustainability opportunities at informal settlements in unesco world heritage areas: a case study of Hue, Vietnam, WIT Transactions on Ecology and the Environment, 215, 323-334, p.329, 331, 332, https://doi.org/10.2495/EID180291.
[26]. Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐND ngày 09/7/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2025.
[27]. Su Thi Oanh Hoa và cộng sự (2021), Tourists demand on phuoc tich heritage village: A minireview, Journal of Tourism & Sports Management (JTSM), SciTech Central Inc., USA, 3(3), 548-551, p.549, 550.
[28]. Lê Chung (2024), Sử dụng nguồn vượt thu phí tham quan di tích Huế năm 2023 để phục vụ công tác trùng tu, https://bvhttdl.gov.vn/su-dung-nguon-vuot-thu-phi-tham-quan-di-tich-hue-nam-2023-de-phuc-vu-cong-tac-trung-tu-20240926080849091.htm, truy cập ngày 12/01/2026.
[29]. Wantanee Suntikul và cộng sự (2016), Impacts of tourism on the quality of life of local residents in Hue, Vietnam, Anatolia, 27(4), 405-420, p.405, 415, https://doi.org/10.1080/13032917.2016.1138234.
[30]. Nguyễn Đoàn Hạnh Dung và cộng sự (2019), Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch tại làng Thanh Thủy Chánh, Huế, 101-119, p.113, https://doi.org/10.26459/hueuni-jssh.v128i6D.5467.
[31]. Lê Chí Hùng Cường và cộng sự (2025), Vai trò và mức độ tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch bền vững tại vùng đầm phá ven biển thành phố Huế, 91-105, p.96, https://doi.org/10.26459/hueunijard.v134i3C.8004.
[32]. Nghị quyết số 80-NQ/TW.
[33]. RECOFTC (2014), Đồng thuận dựa trên nguyên tắc tự nguyện, trước và được thông tin đầy đủ trong REDD+: Sổ tay dành cho thúc đẩy viên cơ sở: Câu hỏi và trả lời, Dự án đào tạo nâng cao năng lực về REDD+ cho cấp cơ sở, do Cơ quan Hợp tác và Phát triển Na Uy (Norad) tài trợ.
[34]. Thành ủy Huế (2025), Báo cáo chính trị trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Huế, tr.28.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bronte Nixon (2018), Environmental sustainability opportunities at informal settlements in unesco world heritage areas: a case study of Hue, Vietnam, WIT Transactions on Ecology and the Environment, 215, 323 - 334, https://doi.org/10.2495/EID180291.
2. Bui Thi Tam (2016), Management of world cultural heritage for sustainable tourism in Hue Royal Capital, Vietnam, Tourism and Monarchy in Southeast Asia, UK: Cambridge Scholars Publishing, 103-117.
3. Chujun Wang, Yali Wang, Johan Richard Edelheim, Jianhong Zhou (2024), Tourism Commercialisation and the Frontstage-Backstage Metaphor in Intangible Cultural Heritage Tourism, Tourist Studies, 24, 246-265, https://doi.org/10.1177/14687976241251514.
4. Doina VICOL (2024), The impact of commercialization of cultural heritage, In: Modern Paradigms in the Development of the National and World Economy: international scientific conference, Chisinau, 17th Edition, October 24 - 29, 2024, Chișinău: CEP USM, 2024, 488-492, https://doi.org/10.59295/mpdnwe2024.64.
5. Laurajane Smith (2006), Uses of Heritage, Routledge, https://doi.org/10.4324/9780203602263.
6. Le Thi Ngoc Anh, Tran Cam Thi (2024), Residents’ Participation in the Management and Development of Sustainable Cultural Heritage Tourism: The World and Vietnam’s Perspective, Residents’ Participation in the Management and Development of Sustainable Cultural Heritage Tourism: The World and Vietnam’s Perspective, International Journal of Research and Innovation in Social Science (IJRISS), 8(07), 3296-3307, https://doi.org/10.47772/IJRISS.2024.807251.
7. Truong Van Tuyen, Tran Cao Uy, Ho Le Phi Khanh, Le Thi Hong Phuong, Hoang Dung Ha, Le Thi Thanh Nga, Truong Quang Dung (2023), Community based tourism as social entrepreneurship promoting sustainable development in coastal communities: a study in Thua Thien Hue province, Central Vietnam, Maritime Studies, 22(1), 8, https://doi.org/10.1007/s40152-023-00293-6.
8. Tường Duy Kiên, Nguyễn Thị Thanh Hải (2024), Quyền con người trong phát triển xã hội (Sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
9. UNESCO (2023), The Seoul vision for the future of safeguarding living heritage for sustainable development and peace, in Celebration of 20th Anniversary Celebration of the Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, Seoul, https://ich.unesco.org/en/seoul-vision-01330.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (449) tháng 3/2026)